Giải quyết vấn đề phân tầng xã hội ở thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay theo tư tưởng
Hồ Chí Minh
Trần Bá Hiệp
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn ThS. Khoa học chính trị: 60 31 02 04
Người hướng dẫn : GS.TS. Phùng Hữu Phú
Năm bảo vệ: 2013
79 tr .
Abstract. Luận văn góp phần hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về phân tầng
xã hội và thực tiễn phân tầng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Thông qua
việc tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng và bình đẳng xã hội, đưa ra một số
kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần hạn chế tình trạng phân tầng xã hội, phân hóa
giàu nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Keywords.Tư tưởng Hồ Chí Minh; Phân tầng xã hội
Content.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới hơn 2 thập kỷ qua đã làm thay đổi căn bản diện mạo đời
sống kinh tế - xã hội ở nước ta. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sản phẩm của đổi mới đã phát huy hiệu quả của nó ở tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
ổn định cùng với việc nâng cao mức sống của hầu hết các tầng lớp dân cư. Bên cạnh
đó, kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh không ít những hệ lụy xã hội mà chúng ta
đang phải tập trung giải quyết, một trong các hệ lụy đó là sự phân tầng xã hội. Phân
tầng xã hội là một sản phẩm “tự nhiên” của quá trình vận động lịch sử xã hội loài
người, trong từng thời kỳ lịch sử mức độ và tính chất phân tầng có những biểu hiện
khác nhau cơ bản. Bởi vậy, một mặt chúng ta thừa nhận nó như là một yếu tố khách
quan, nhưng mặt khác với mục tiêu và lý tưởng mà Đảng, nhân dân ta cũng như vị lãnh
tụ thiên tài của dân tộc ta – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và tiếp tục hướng tới là:
“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” thì phân tầng xã hội
bàn. Để thực hiện thắng lợi những mục tiêu chung của cả nước, Đảng bộ và các cấp
chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp
nhằm hạn chế hiện tượng phân tầng xã hội. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề công bằng và bình đẳng xã hội cũng là một giải pháp góp phần vào việc xây dựng
một xã hội công bằng và bình đẳng ở thành phố Hồ Chi Minh.
Xuất phát từ thực tiễn của xã hội Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng về tình trạng phân tầng xã hội, kéo theo những nguy cơ về bất
bình đẳng xã hội; trên cơ sở những giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề công bằng và bình đẳng xã hội chính là
những lý do cơ bản thôi thúc tôi chọn vấn đề “Giải quyết vấn đề phân tầng xã hội ở
thành phố Hồ Chí Minh hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” để làm đề tài nghiên
cứu.
Với việc hoàn tất nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn được góp phần hệ thống
hóa những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề công bằng và bình
đẳng xã hội. Trên cơ sở tìm hiểu vấn đề phân tầng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay, một mặt nêu lên thực trạng, mặt khác tìm ra những cơ sở lý luận và thực tiễn trong
việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần giải quyết vấn đề phân tầng xã hội trên
địa bàn thành phố. Với mong muốn nhỏ nhoi rằng thành phố mang tên vị lãnh tụ kính
yêu của dân tộc trở thành một thành phố không chỉ dẫn đầu về kinh tế của cả nước mà
còn là nơi thể hiện tốt nhất khao khát của Hồ Chủ tịch lúc sinh thời: “độc lập dân tộc
phải mang lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân” – Một Thành phố đảm bảo tốt nhất về
công bằng và bình đẳng xã hội cho mọi người dân.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vến đề nghiên cứu đã có nhiều tác giả với những công trình đã
được công bố, như:
Thứ nhất, liên quan đến vấn đề phân tầng xã hội: tác giả Nguyễn Đình Tấn với
công trình Nguyễn Đình Tấn “Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội”, Nxb. Lý luận chính
trị, năm 2005. Đồng tác giả Nguyễn Thị Hằng – Lê Duy Đồng với công trình “Phân
điểm hay giải pháp cũng di theo hướng này. Trong khi đó, hướng nghiên cứu của đề tài
này là sử dụng phương pháp nghiên cứu của ngành chính trị học từ những kết quả
nghiên cứu, điều tra xã hội học, mà cụ thể là lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để làm cơ sở
giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn phân tầng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ ba, liên quan đến các vấn đề: xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng, hoặc
nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề công bằng và bình đẳng, có các công
trình nghiên cứu: Nguyễn Thị Nga với công trình “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp”, Nxb. Lý luận
chính trị, năm 2007. Đồng tác giả Đỗ Phú – Trần Tình có công trình: Tăng trưởng
kinh tế và công bằng xã hội, lý thuyết và thực tiễn ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Lao
Động, năm 2010. Tác giả Nguyễn Minh Hoàn với công trình “Công bằng xã hội trong
tiến bộ xã hội”, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009. Phan Thanh Diễn với công trình
“Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới”, Nxb. Tổng
hợp Tp.HCM, năm 2005. Đồng tác giả Vũ Đình Hòe – Bùi Đình Phong có công trình:
Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb.
Chính trí quốc gia, năm 2010,....
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vấn đề thực hiện công bằng và
bình đẳng xã hội trong sự phát triển kinh tế cũng như tiến bộ xã hội, hoặc vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh vào việc góp phần xây dựng xã hội công bằng và bình đẳng. Các
công trình nghiên cứu đã được công bố chính là cơ sở khoa học cho việc tìm hiểu, giải
quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài “Giải quyết vấn đề phân tầng
xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tuy nhiên,
vấn đề phân tầng xã hội trong mối quan hệ với công bằng và bình đẳng xã hội lại chưa
được đặt ra và giải quyết. Đặc biệt việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết
vấn đề phân tầng xã hội, góp phần xây dựng xã hội công bằng và bình đẳng hơn tại
thành phố mang tên Bác là một hướng đi chưa được công trình nào đề cập và nghiên
cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Góp phần làm rõ các quan niệm của Hồ Chí Minh về: công bằng và
bình đẳng xã hội.
+ Về giới hạn thời gian nghiên cứu (nghiên cứu vấn đề thực tiễn): Từ năm 2000
đến nay (nghiên cứu về vấn đề thực tiễn).
+ Về giới hạn không gian nghiên cứu (nghiên cứu vấn đề thực tiễn): Tại thành
phố Hồ Chí Minh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
+ Các quan điểm phi Mácxit về vấn đề phân tầng xã hội.
+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác – lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
công bằng và bình đẳng xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa, tiếp thu các quan điểm của Mác – Lênin về
tiến bộ xã hội, Người khẳng định, trong chế độ xã hội thực dân, phong kiến, hoàn toàn
không có công bằng và bình đẳng xã hội. Người quan niệm, bình đẳng trước hết là
bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, đồng thời việc thực hiện sự bình đẳng giữa người
với người trong mối quan hệ giữa thực hiện nghĩa vụ và hưởng thụ quyền lợi ấy chính
là thực hiện bình đẳng xã hội.
+ Đảng và nhà nước Vệt Nam kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề bình đẳng xã hội. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định và hướng tới việc thực
hiện bình đẳng xã hội với nhiều khẩu hiệu cũng như nguyên tắc được thể hiện thông
qua các văn kiện Đảng, hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, như: tiến tới xây dựng
một xã hội công bằng văn minh; tất cả mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ
ngang hàng nhau trước pháp luật; hay nguyên tắc “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về
mọi phương diện” được nêu trong hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa và được hiến pháp năm 1992 khẳng định.
+ Kế thừa kết quả nghiên cứu, điều tra của các nhà xã hội học liên quan đến
5. Ban chỉ đạo XĐGN thành phố Hồ Chí Minh (2001): Tổng kết chương trình XĐGN
ở thành phố Hồ Chí Minh hàng năm (1998, 1999, 2000), Báo cáo.
6. Nguyễn Thị Cành (2001): Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các
giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam,
nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Lao động – Xã hội.
7. Nguyễn Hữu Công (2010): Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn
diện, Nxb. Chính trị quốc gia.
8. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội , Nxb. Sự
thật, Hà Nội.
9. Phan Thanh Diễn (2005): Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công
cuộc đổi mới, Nxb. Tổng hợp Tp.HCM.
10. Thành Duy: Về một triết lý phát triển phù hợp với Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, Tạp chí Cộng sản, số: 10/1998.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1986.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2002): văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005): Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
33. Tương Lai (1995): Khảo sát xã hội về phân tầng xã hội (sách tham khảo nội bộ),
Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
34. Trịnh Duy Luân, Bùi Thế Cường: Về phân tầng xã hội và phân tầng xã hội ở nước
ta hiện nay, Tạp chí Xã hội học, số: 2/2011.
35. Trịnh Duy Luân: Vấn đề phân tầng xã hội Việt Nam hiện nay: “Nhìn lại một số
khía cạnh phương pháp luận từ cách tiếp cận xã hội học”, Tạp chí Xã hội học, số:
3/2004.
36. Lê Quốc Lý (2010): Tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói nghèo và sự vận dụng của
Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Lịch sử Đảng. Số 6, tr. 14-18.
37. Hồ Chí Minh (1998): Về chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (trích), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
38. Hồ Chí Minh về Cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội:
(1976), Nxb Sự thật, Hà Nội.
39. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
41. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
42. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
43. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
44. Một số chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội,
2011.
45. Phạm Xuân Nam (2001): Triết lý về mối quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã hội
trong phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
46. Nguyễn Thị Nga (2007): Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở
Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp, Nxb. Lý luận chính trị.
47. Lê Du Phong (2000): Giải quyết phân hóa giàu nghèo ở các nước và Việt Nam,
Nxb, Nông nghiệp.
48. Bùi Đình Phong (2007): Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh
tháng 12 và năm 2012, Nxb. Thống kê.
63. Tổng cục Thống kê (1996): Kinh tế - Văn hóa – Xã hội thành phố Hồ Chí Minh,
Nxb. Thống kê.
64. Tổng cục Thống kê (2010): Đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh, Nxb. Thống kê.
65. Phan Thị Thùy Trâm: Phân tầng xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn
hiện nay, tạp chí Khoa học Chính trị, số: 6/2010. Tr. 55; 73.
66. Đinh Quang Ty (2010): Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt
Nam, Nxb. Chính trị quốc gia.
67. Trương Văn Tuấn (2012): Thực trạng đội ngũ trí thức Thành phố Hồ Chí Minh và
giải pháp phát triển đội ngũ trí thức phục vụ sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.
Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM. Số 7, tr. 73-82.
68. Văn kiện Đảng về an sinh xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011.
69. Nguyễn Thị Hải Vân (2011): Kinh nghiệm điều tiết tác động của đô thị hoá đến
vấn đề lao động, việc làm tại thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Quản lý Nhà nước.
Số 191, tr. 57-60.