Giải quyết vấn đề phân tầng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN BÁ HIỆP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Phùng Hữu Phú HÀ NỘI – 2013
3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Phùng Hữu Phú. Các số liệu và trích
dẫn trong luận văn là trung thực . Kết qua
̉
nghiên cứu của luận văn không
trùng với các công trình khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Trần Bá Hiệp
Trần Bá Hiệp
5

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Kết cấu của luận văn 7
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI;
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI
1.1. Một số khái niệm liên quan đến phân tầng xã hội, tiến bộ, công bằng xã hội 9
1.1.1 Phân hóa giàu nghèo 9
1.1.2. Phân hóa xã hội 10
1.1.3. Phân tầng xã hội 10
1.1.4. Công bằng xã hội 14
1.1.5. Tiến bộ xã hội 16
1.2. Tiến bộ, công bằng xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh 17
1.2.1. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh suốt đời hy sinh, phấn đấu vì sự tiến bộ và
công bằng xã hội 17
1.2.2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tiến bộ và công bằng xã hội 20
1.3. Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về tiến
bộ và công bằng xã hội 25
1.3.1. Mục tiêu, quan điểm 25
1.3.2. Những định hướng lớn, nhiệm vụ và giải pháp 28

hội loài người, trong từng thời kỳ lịch sử mức độ và tính chất phân tầng có những
biểu hiện khác nhau cơ bản. Bởi vậy, một mặt chúng ta thừa nhận nó như là một yếu
tố khách quan, nhưng mặt khác với mục tiêu và lý tưởng mà Đảng, nhân dân ta
cũng như vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc ta – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và tiếp
tục hướng tới là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” thì
phân tầng xã hội được xem là hệ quả không mong muốn của quá trình phát triển xã
hội. Nghiên cứu về vấn đề này cho thấy bức tranh tổng thể về sự phân tầng xã hội
cũng như các yếu tố có liên quan. Qua đó, góp phần định hướng các mục tiêu và
chiến lược giảm bất bình đẳng xã hội.
Ngày nay, sự tiến bộ của con người được xem là tiêu chuẩn cao nhất của
phát triển xã hội. Sự phát triển xã hội đòi hỏi phải đem lại công bằng, bình đẳng cho
mọi người trong cơ hội và điều kiện cống hiến cũng như hưởng thụ các thành quả
của phát triển. Điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa, cuộc cách mạng được xem là triệt để nhất trong lịch sử nhân loại. Hiện
nay, Việt Nam luôn kiên định con đường “định hướng đi lên xã hội chủ nghĩa”, bản
chất ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang hướng tới phải được hiện
thực hóa chứ không phải chỉ dừng lại trong sự mơ ước của người dân. Tuy nhiên,
một thực tế cho thấy thực trạng phân tầng xã hội đang diễn ra một cách phức tạp và
mạnh mẽ ở nước ta, đặc biệt là các trung tâm đô thị lớn của cả nước. Để thực hiện
công bằng và bình đẳng xã hội, đi đúng định hướng con đường mà Đảng và nhân
2

dân ta đã lựa chọn, chúng ta cần tìm ra những giải pháp hạn chế tối đa phân tầng xã
hội trong những biểu hiện tiêu cực của nó, đồng thời với việc giảm tối thiểu sự bất
bình đẳng xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã dành trọn cuộc
đời mình để giành lấy quyền tự do, độc lập cho dân tộc ta, nhưng khát khao cháy
bỏng của Người không dừng lại ở đó vì “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng
hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[39;tr.56]. Hạnh phúc, tự do
của người dân chỉ có thể đạt được khi chúng ta xây dựng được một xã hội thực sự

Thành phố đảm bảo tốt nhất về công bằng và bình đẳng xã hội cho mọi người dân.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vến đề nghiên cứu đã có nhiều tác giả với những công trình
đã được công bố, như:
Thứ nhất, liên quan đến vấn đề phân tầng xã hội: tác giả Nguyễn Đình Tấn
với công trình Nguyễn Đình Tấn “Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội”, Nxb. Lý luận
chính trị, năm 2005. Đồng tác giả Nguyễn Thị Hằng – Lê Duy Đồng với công trình
“Phân phối và phân hóa giàu nghèo sau 20 năm đổi mới, Nxb Lao động – Xã hội,
năm 2005. Tác giả Đỗ Thiên Kính với công trình “Phân hóa giàu nghèo và tác động
của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam: qua hai cuộc
điều tra của mức sống dân cư của Việt Nam năm 1993, 1997, Nxb. Khoa học xã
hội, năm 2003. Tương Lai với công trình “Khảo sát xã hội về phân tầng xã hội”
(sách tham khảo nội bộ), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 1995. Lê Du Phong
với công trình “Giải quyết phân hóa giàu nghèo ở các nước và Việt Nam”, Nxb,
Nông nghiệp, năm 2000. Dương Phú Hiệp với công trình “Phân hóa giàu nghèo ở
một số quốc gia khu vực châu Á Thái Bình Dương”, Nxb. Khoa học Xã hội,
năm1998,
Các công trình nêu trên đã đi vào nghiên cứu vấn đề phân tầng xã hội ở nhiều
khía cạnh như, khái niệm, cách tiếp cận, biểu hiện, nguyên nhân, của vấn đề phân
tầng xã hội. Tuy nhiên, phạm vi đề cập đến vấn đề phân tầng xã hội không chỉ giới
hạn trong một địa phương cụ thể như thành phố Hồ Chí Minh mà mang tính tổng
quát của tình hình Việt Nam.
4

Thứ hai, liên quan đến vấn đề phân tầng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh
cũng đã có các công trình của các cá nhân, tổ chức, như: Nguyễn Thị Cành với công
trình “Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói
giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam, nhìn từ thực tiễn
thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb. Lao động – Xã hội, năm 2001. Thành ủy thành phố
Hồ Chí Minh: “Tổng kết công tác chăm lo đồng bào nghèo ở thành phố Hồ Chí

tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc góp phần xây dựng xã hội công bằng và bình đẳng.
Các công trình nghiên cứu đã được công bố chính là cơ sở khoa học cho việc tìm
hiểu, giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài “Giải quyết vấn
đề phân tầng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí
Minh”. Tuy nhiên, vấn đề phân tầng xã hội trong mối quan hệ với công bằng và
bình đẳng xã hội lại chưa được đặt ra và giải quyết. Đặc biệt việc vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề phân tầng xã hội, góp phần xây dựng xã hội công
bằng và bình đẳng hơn tại thành phố mang tên Bác là một hướng đi chưa được công
trình nào đề cập và nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở tổng hợp và phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề công bằng
bình đẳng xã hội, tác giả mong muốn được góp phần làm rõ: những giá trị lý luận và
thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này, đồng thời thông qua việc tìm
hiểu tư tưởng của Người để nhìn nhận, đánh giá, góp phần tìm ra những giải pháp
giải quyết vấn đề phân tầng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay nhằm hạn chế
tình trạng bất bình đẳng xã hội.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, tìm hiểu và làm rõ khái niêm phân tầng xã hội, thực trạng phân
tầng xã hội hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh, qua đó chỉ ra nguy cơ về một tình
trạng bất bình đẳng xã hội đang đặt ra ở mức báo động trên địa bàn thành phố phát
triển kinh tế bậc nhất của Việt Nam.
Thứ hai, tổng hợp và phân tích những luận điểm, quan điểm cũng như tư
tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề công bằng và bình đẳng xã hội; vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề phân tầng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay.
6

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu:

hiện bình đẳng xã hội với nhiều khẩu hiệu cũng như nguyên tắc được thể hiện thông
qua các văn kiện Đảng, hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, như: tiến tới xây
dựng một xã hội công bằng văn minh; tất cả mọi công dân đều có quyền lợi và
nghĩa vụ ngang hàng nhau trước pháp luật; hay nguyên tắc “Đàn bà ngang quyền
với đàn ông về mọi phương diện” được nêu trong hiến pháp năm 1946 của nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa và được hiến pháp năm 1992 khẳng định.
+ Kế thừa kết quả nghiên cứu, điều tra của các nhà xã hội học liên quan đến
những vấn đề nghiên cứu trong đề tài.
- Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính như, phương pháp
lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu. Mặt khác
xuất phát từ việc đề tài nghiên cứu thuộc phạm trù của ngành chính trị học, nhưng
lại liên quan đến lĩnh vực xã hội học nên đề tài chú trọng sử dụng phương pháp
nghiên cứu xã hội học – chính trị.
6. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tìm hiểu thực trạng phân tầng xã
hội đang diễn ra ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề công bằng xã hội và bình đẳng xã hội, giải quyết vấn đề phân tầng
xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng góp phần
vào việc cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy bộ môn tư tưởng Hồ
Chí Minh và việc hoạch định, thực thi chính sách xã hội, an sinh xã hội trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương, 6 tiết, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo.
8

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI;
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI

ra sự phân hóa xã hội sâu sắc khi cộng đồng xã hội đó chuyển sang trạng thái phát
triển hơn với mức sống chung đều tăng lên và sự phân hóa giàu nghèo tăng lên
nhưng sự phân hóa xã hội về một số mặt nào đó có thể giảm. Sự phân hóa xã hội
giảm đi khi đời sống kinh tế được cải thiện, điều đó không có nghĩa là sự tăng
trưởng kinh tế tự động đem lại sự bình đẳng xã hội. Trên thực tế, nhà nước phải sử
dụng “bàn tay hữu hình” là các quy định pháp luật, chính sách xã hội để thực hiện
công bằng xã hội nhằm giảm sự phân hóa xã hội và phân tầng xã hội. Sự phân hóa
giàu nghèo, xét cho cùng , có ảnh hưởng quyết định đến sự phân tầng xã hội, nhưng
các yếu tố khác của cấu trúc xã hội như chính sách xã hội, an sinh xã hội,…cũng tác
động tới phân tầng xã hội theo hướng làm giảm sự phân hóa xã hội giữa nhóm giàu
và nhóm nghèo.
Nghèo khổ và phân hóa giàu nghèo không đơn giản là phạm trù kinh tế học
mà là phạm trù xã hội học, mặc dù kinh tế học quan tâm nghiên cứu vấn đề này
nhiều đến mức các nhà xã hội học luôn phải sử dụng các thước đo kinh tế để đánh
giá sự phân hóa giàu – nghèo và phân tầng xã hội. Vấn đề không phải là một cá
nhân thiếu ăn, thiếu mặc, chỗ ở hay thiếu tiền, thiếu các phương tiện sinh hoạt vật
chất, mà vấn đề là nhiều người, nhiều nhóm xã hội, thậm chí cả một quốc gia, nhiều
quốc gia bị thiếu thốn các phương tiện sinh sống, điều kiện để phát triển so với
những người khác, nhóm xã hội khác trong cùng cộng đồng. Gắn liền với nghèo đói
là bệnh tật, mù chữ, mất dân chủ và nhiều thứ bệnh, nhiều thứ lạc hậu khác nữa,
nhất là bất bình đẳng xã hội có thể dẫn đến mất ổn định kinh tế, chính trị, xã hội,
làm con người cảm thấy đau khổ, bất hạnh và xã hội suy thoái, Tất cả các hiện
tượng này với những nguyên nhân, hình thức biểu hiện, hậu quả và xu hướng biến
đổi của chúng đều là những chủ đề trọng tâm của nghiên cứu xã hội học và nhiều bộ
môn khoa học xã hội khác.

10

1.1.2. Phân hoá xã hội
Phân hoá xã hội là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác nhau về một

đãi hay sự kỳ thị tương tự nhau và có diện ngoại bề ngoài chung. Các xã hội đều
được phân thành nhiều tầng lớp khác nhau, trong xã hội đó, một cấu trúc các tầng
lớp chồng lấn lên nhau, các tầng lớp này không chỉ khác nhau về bản chất, mà còn
khác nhau về cả thứ bậc [60; tr.11].
Tầng xã hội không chỉ khác nhau về điều kiện sống do xã hội tạo ra, mà còn
khác biệt ở cách ứng xử và thái độ xuất phát từ các điều kiện sống đặc trưng cho
tấng xã hội đó. Thuyết chức năng cơ cấu coi tầng xã hội xuất phát từ sự đóng góp
khác nhau (đánh giá khác nhau) về mặt chức năng của các vị trí xã hội khác nhau
[60; tr.11,12].
Tầng xã hội là tập hợp các cá nhân, nhóm có cùng vị thế xã hội, cùng hoàn
cảnh xã hội được sắp xếp theo trật tự thang bậc nhất định trong hệ thống xã hội. Các
thành viên của tầng lớp xã hội ngang nhau về tài sản (thu nhập), trình độ học vấn
(hay trình độ văn hóa); địa vị, vai trò hay uy tín trong xã hội; khả năng thăng tiến
cũng như có được những ân huệ hay thứ bậc như nhau trong xã hội [53; tr.65].
Phân tầng xã hội là một trong những nội dung nghiên cứu cơ bản của xã hội
học. Trong lịch sử, có nhiều cách tiếp cận về cách phân tầng xã hội khác nhau, các
nhà xã hội học phương Tây đã đưa ra nhiều yếu tố để xác định khái niệm phân tầng
xã hội. Điển hình là các nhà xã hội học như: Các Mác, Max weber, Tony Bilton,
Anthony Giddens,
Phân tầng xã hội là một chủ đề cơ bản được các nhà xã hội học đặc biệt quan
tâm nghiên cứu. Trên thực tế, đã có nhiều chủ đề nghiên cứu về vấn đề này cả về
mặt nhận thức lý luận cũng như những ứng dụng trong thực tiễn. Trong lịch sử phát
triển của ngành xã hội học trên thế giới, các nhà xã hội học phương Tây đã đưa ra
nhiều quan niệm, khái niệm về phân tầng xã hội. Có thể nêu lên một số quan niệm
tiêu biểu như: nhà xã hội học người Anh Tony Bilton và các đồng sự chỉ rõ: “khái
niệm phân tầng là ý thức cho rằng: xã hội được chia thành một cấu trúc theo khuôn
mẫu của những nhóm xã hội không bình đẳng và sẽ bền vững từ thế hệ này sang thế
hệ khác” [60; tr.13].
12



nghiên cứu lý luận và nhận thức thực tiễn, các nhà xã hội học Việt Nam đã đưa ra
một số quan niệm về phân tầng xã hội như sau:
Theo tác giả Nguyễn Đình Tấn: phân tầng xã hội là kết quả của sự phân công
lao động xã hội và sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của mọi xã hội loài người.
Phân tầng xã hội có thể được hiểu như là một sự phân chia và hình thành cấu trúc
gồm các tầng lớp xã hội (bao gồm cả sự phân loại, xếp hạng). “Đó là sự phân chia
xã hội thành các tầng xã hội khác nhau về địa vị kinh tế (hay tài sản), địa vị chính trị
(hay quyền lực), địa vị xã hội (hay uy tín) cũng như một số khác biệt về trình độ
nghề nghiệp, học vấn, kiểu nhà ở, nơi cư trú, phong cách sinh hoạt, cách ứng xử, thị
hiếu nghệ thuật ”[53; tr.65].
Tác giả Trịnh Duy Luân cho rằng: “Phân tầng xã hội là sự phân chia mang
tính cấu trúc thành các tầng lớp, giai tầng xã hội dựa trên các đặc trưng vị thế kinh
tế - xã hội của các cá nhân, trong đó sử dụng đồng thời 3 loại dấu hiệu, tiêu chí: về
kinh tế (tài sản, thu nhập), về chính trị (quyền lực, tổ chức) và văn hóa (uy tín)” [35;
tr.15].
Phân tầng xã hội là sự phân chia xã hội thành các tầng lớp trên cơ sở tương
đồng về các địa vị kinh tế, địa vị chính trị (quyền lực) và địa vị xã hội của các cá
nhân. Phân tầng xã hội gắn với bất bình đẳng xã hội. Sự bất bình đẳng đó thường
biểu hiện trọng các mối quan hệ với tài sản, quyền lực và uy tín, tạo ra những cộng
đồng người có địa vị kinh tế, địa vị chính trị và địa vị xã hội khác nhau.
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những quan niệm của các nhà xã hội
học trên thế giới và Việt Nam, có thể rút ra kết luận: phân tầng xã hội là sự phân
chia, săp xếp mang tính cấu trúc thành các tầng lớp, giai tầng xã hội dựa trên sự
khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa và uy tín xã hội, cũng như sự khác nhau về
học vấn, nghề nghiệp, nhà ở, nơi cư trú, mức sống và năng lực thị trường, cùng
những cơ may trong cuộc sống….
Trên thực tế các nhà xã hội học có những quan niệm, các lý thuyết và
phương pháp nghiên cứu về phân tầng xã hội theo những góc tiếp cận khác nhau.
14


cách quan niệm ấy, và do đó, khái niệm công bằng thường bị đồng nhất với khái
niệm bình đẳng xã hội. Như vậy, việc phân biệt hai khái niệm này là rất cần thiết để
thấy được nội dung phổ quát của khái niệm công bằng xã hội, đồng thời qua đó còn
thấy được những nội dung cụ thể của khái niệm công bằng xã hội trong những hoàn
cảnh lịch sử cụ thể được xét.
Trước hết nói đến bình đẳng bao giờ cũng là nói đến quan hệ ngang bằng
nhau giữa người và người xét trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội cụ thể nào đó,
chẳng hạn, sự ngang bằng về địa vị kinh tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn
giáo, Ngoài những lĩnh vực cụ thể đó, nếu xét sự ngang bằng giữa người và người,
chẳng hạn, về thể lực, trí lực, hay những điều kiện bẩm sinh khác nhau ,thì người
ta không gọi đó là sự bình đẳng mà thường coi đó là sự ngang bằng nhau [23; tr.10].
Chính vì xã hội bao giờ cũng là sự tác động lẫn nhau giữa những con người,
do vậy, khi xét sự bình đẳng giữa người và người trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội
nhất định bao giờ cũng là sự bình đẳng thể hiện ở mối quan hệ xác định: thứ nhất, là
sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ; thứ hai, là sự bình đẳng trong việc được
hưởng quyền lợi, và thứ ba là bản thân mối quan hệ tương ứng hoặc không tương
ứng giữa sự ngang nhau (bình đẳng) trong việc thực hiện nghĩa vụ với sự ngang
nhau (bình đẳng) trong việc hưởng thụ quyền lợi ở việc thực hiện cùng một nghĩa
vụ ấy. Do đó, ở trường hợp này thì công bằng xã hội được hiểu không phải hoặc chỉ
riêng là sự bình đẳng về nghĩa vụ, hoặc chỉ riêng là sự bình đẳng về hưởng thụ, mà
so với hai trường hợp trên thì chỉ trong trường hợp thứ ba, do có sự tương ứng giữa
thực hiện nghĩa vụ như nhau thì hưởng thụ quyền lợi như nhau, hay do có sự ngang
bằng nhau ở sự tương ứng giữa việc cùng thực hiện nghĩa vụ ngang nhau và cùng
hưởng thụ ngang nhau thì đó mới thể hiện được nội dung đầy đủ của khái niệm
công bằng xã hội.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về thước đo bình đẳng của công bằng
xã hội, song nhìn chung các quan điểm ấy thường có một điểm chung là nhấn mạnh
đến một xuất phát điểm bình đẳng ở “sự tự nguyện” [23; tr.11] như là thước đo thực
sự của công bằng xã hội.

giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động và sự trả công, giữa hành vi mà một người
nào đó đã thực hiện và sự đền đáp, giữa tội ác và sự trừng phạt, giữa phẩm giá của
17

con người và sự thừa nhận của xã hội đối với những phẩm giá đó, Các mối quan hệ
tương tự như vậy còn có thể liệt kê ra rất nhiều và rất đa dạng. Nhưng qua sự liệt kê
các mối quan hệ trên đây, có thể thấy rằng: “trục xuyên suốt các mối quan hệ đó
trong phạm trù công bằng xã hội vẫn luôn là mối quan hệ tương ứng giữa cống hiến
ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau” [23; tr.102], trong đó khái niệm cống hiến và
hưởng thụ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả cống hiến và hưởng thụ tích
cực (như công trạng và sự tôn vinh) và tiêu cực (như tội ác và sự từng phạt). Theo
nghĩa đó có thể hiểu một cách vắn tắt: “công bằng xã hội là sự bình đẳng giữa người
và người, nhưng bình đẳng ở đây không phải theo nghĩa thông thường (là sự ngang
bằng nhau giữa người và người trong một điều kiện cụ thể nào đó), má bình đẳng xét
trong mối quan hệ tương ứng giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến
ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau” [23; tr.56].
Những khái niệm trên đây cho thấy một hệ thống các vấn đề vừa liên quan
vừa tác động qua lại giữa các vấn đề khác và vấn đề phân tầng xã hội. Trong một xã
hội, khi vấn đề phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo diễn ra một cách mạnh mẽ,
phổ biến thì tất yếu xã hội đó sẽ kém công bằng và bình đẳng. Bên cạnh đó khi đã
không có công bằng và bình đẳng xã hội thì không thể khẳng định được đó là một
xã hội tiến bộ cho dù sự phát triển kinh tế đã ở trình độ cao. Bởi vậy, trong quá trình
nghiên cứu vấn đề phân tầng xã hội, tác giả luôn đặt vấn đề phân tầng xã hội trong
mối quan hệ “tương tác” với công bằng và bình đẳng xã hội. Trong chuẩn mực của
phạm trù công bằng và bình đẳng xã hội, lại chú trọng khẳng định những nội dung
và giá trị được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sự kế thừa và phát triển của
Đảng trong công cuộc xây dựng đất nước, trong từng chặng đường và định hướng
đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
1.2. Tiến bộ, công bằng xã hội trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh suốt đời hy sinh, phấn đấu vì sự

ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [39; tr.161]. Bởi thế, những khi
Người phải “ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo –
là vì mục đích đó” [36; tr.15].
19

Người đã suốt đời hy sinh, phân đấu vì sự tiến bộ, công bằng xã hội. Với nhãn
quan chính trị sắc bén, trên cơ sở tiếp thu quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về
công bằng và bình đẳng xã hội, đồng thời trực tiếp chứng kiến tất cả những gì xảy
ra trong đời sống kinh tế - xã hội ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam vào
giai đoạn trước Cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, trong chế độ xã hội
thực dân, phong kiến hoàn toàn không có công bằng và bình đẳng xã hội; rằng,
trong xã hội đó, “…nhân dân chỉ có nghĩa vụ, như nộp sưu, đóng thuế, đi lính, đi
phu mà không có quyền lợi” [41; tr.219]. Trên thực tế, công nhân và nông dân là
lực lượng chủ yếu sáng tạo nên những của cải vật chất trong xã hội và nhờ có sức
lao động của họ, xã hội mới tồn tại, phát triển. Song, có một sự vô lý và bất công là
những người lao động suốt đời nghèo khổ, trong khi một số ít người không lao động
thì lại “ngồi mát ăn bát vàng”. Giải thích căn nguyên dẫn đến “nỗi chẳng công bằng
này”, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, đó là “vì một số ít người đã chiếm làm tư hữu
những tư liệu sản xuất của xã hội” [41; tr.203]. Đồng thời, Người còn vạch rõ, trong
xã hội có giai cấp bóc lột thống trị, chỉ có lợi ích cá nhân của bọn thống trị là được
thỏa mãn, còn lợi ích cá nhân của lao động quần chúng thì bị giày xéo. Từ những
đánh giá và nhận định trên, Hồ Chí Minh đưa ra kết luận rằng, công bằng và bình
đẳng xã hội thực sự chỉ có được trong xã hội mới; rằng, dưới chế độ dân chủ cộng
hòa, “nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi” [41; tr.203].
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra
đời, Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, khi
kêu gọi những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã coi diệt “giặc đói” cũng quan trọng và cấp bách như giệt “giặc dốt” và
“giặc ngoại xâm”. Người nêu rõ: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ
đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status