NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
---------
CÙ XUÂN CHỈNH
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN
THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Đỗ Văn Đức
HÀ NỘI - 2015
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
-
TCTD
: Tổ chức tín dụng
-
KHCN
: Khách hàng cá nhân
-
CBQHKHCN
: Cán bộ quan hệ khách hàng cá nhấn
-
QTTD
: Quản trị tín dụng
-
CBDVKHCN
: Cán bộ dịch vụ khách hàng cá nhân
-
CBQTTD
: Cán bộ quản trị tín dụng
-
TKTG
: Tài khoản tiền gửi
-
DNBL
: Dư nợ bán lẻ
-
SXKD
: Sản xuất kinh doanh
-
QHKH
: Quan hệ khách hàng
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
BẢNG
2
gia thị trường còn sơ khai này. Các ngân hàng quốc doanh, hay chuyển đổi cổ
phần hoá cũng đã có nhứng chiến lược lâu dài, thời kỳ cho phát triển ngân hàng
bán lẻ.
Hoạt động cho vay cá nhân là một phần trong hoạt động của ngân hàng
bán lẻ, nó tạo ra khoản thu nhập lớn và ổn định dựa trên số đông người sử dụng,
đồng thời tăng hình ảnh của ngân hàng trong con mắt người dân, góp phần vào
sự phát triển bền vững, lâu dài của ngân hàng. Hoạt động cho vay đối với khách
hàng cá nhân tại Việt Nam vẫn còn khá nhỏ bé so với tiềm năng của nó và chưa
được các ngân hàng thương mại khai thác triệt để, chỉ tính con số 90,5 triệu dân,
trong đó 2/3 là dân số trong độ tuổi lao động và chỉ mới khoảng 20% dân số có
tài khoản và sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
Trước đây, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân còn hạn chế xuất phát
từ nhiều nguyên nhân, như công nghệ kém không đáp ứng các yêu cầu của sản
phẩm; nhận thức của ngân hàng đối với các khoản vay cá nhân còn hạn chế
được nhìn dưới góc độ rủi ro…dẫn đến các sản phẩm chưa đa dạng. Các ngân
hàng vẫn chỉ tập trung tới cho vay các doanh nghiệp, thị phần cho vay cá nhân
rất thấp.
Tại Sacombank Đống Đa, hoạt động cho vay KHCN trong những năm gần
đây đã bắt đầu được chú trọng, nhận thức được hoạt động bán lẻ là xu thế phát
triển chung của các ngân hàng trên thế giới, Sacombank Đống Đa đã bước đầu
định hướng phát triển rõ ràng hoạt động ngân hàng bán lẻ với mục tiêu cụ thể
phấn đấu trở thành ngân hàng có thị phần bán lẻ hàng đầu tại địa bàn.
Nhân thức được lợi ích mở rộng cho vay khách hàng cá nhân và qua quá
trình công tác tại Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương tín- Chi nhánh Đống Đa
(Sacombank Đống Đa) đề tài: “Giải pháp mở rộng cho vay khách hàng cá
nhân tại Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương tín chi nhánh Đống Đa” được
chọn để nghiên cứu.
4
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ CHO VAY CÁ
NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân
Cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho các
khách hàng cá nhân với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng.
1.1.2 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân
Cho vay KHCN có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại
hình cho vay khác như sau:
Đối tượng cho vay: là cá nhân và các hộ gia đình.
Quy mô khoản vay: hầu hết các khoản vay cho KHCN có quy mô nhỏ
những số lượng khoản vay lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân
và các hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh, nên quy
mô một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của một ngân hàng, số lượng
khoản vay lại rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân và hộ gia đình với
số lượng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng.
Mục đích cho vay: Nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất
kinh doanh của cá nhân, hộ gia dình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm
lý khách hàng và chu kì kinh tế của người đi vay . Khi nền kinh tế có sự tăng
trưởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kì
vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai và thúc đẩy sự chi tiêu
cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại khi nền kinh tế
suy thoái người dân thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản
xuất kinh doanh, thay vào đó là tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ
ngân hàng.
bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn
trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các
6
khoản cho vay KHCN mới không mang lại lợi nhuận. Nguồn thu nhập càng ổn
định, ngân hàng có khả năng kiểm soát thì lãi suất áp dụng cho khách hàng sẽ
giảm đi, do rủi ro từ việc cho vay đã được hạn chế.
Hạn mức cho vay KHCN: là số tiền tối đa mà ngân hàng cho khách
hàng vay. hạn mức cho vay KHCN được xác định dựa trên các yếu tố như:
nhu cầu vốn của khách hàng, số vốn tự có của khách hàng, giá trị của tài sản
đảm bảo. Đối với các hình thức vay, các ngân hàng thường quy định các hạn
mức khác nhau dựa trên giá trị tài sản đảm bảo hoặc nhu cầu vay hợp lý.
Thông thường, cho vay cầm cố có hạn mức cao nhất, chẳng hạn như nếu
khách hàng cầm cố sổ tiết kiệm, trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi có thể
được cấp một hạn mức bằng 100% giá trị tài sản cầm cố. Để có thể xác định
được hạn mức tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo của khách hàng, các ngân
hàng cần phải định giá chính xác tài sản đó. Nếu định giá quá thấp sẽ làm
giảm số tiền vay của khách hàng, nếu định giá quá cao sẽ dẫn đến rủi ro cho
ngân hàng.
1.1.3 Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân
Hoạt động trước kia của các ngân hàng thương mại chủ yếu tập trung vào
đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp lớn, các tổ chức kinh tế có những
khoản vay lớn mà ít chú trọng đến đối tượng khách hàng là các cá nhân, dẫn đến
những lãng phí trong khai thác tiềm năng cũng như lợi ích từ nhóm đối tượng
khách hàng này.
Những năm gần đây, các NHTM cũng đã có những điều chỉnh trong hoạt động
của mình, chú trọng nhiều hơn đến đối tượng khách hàng là các cá nhân, hộ gia
đình …. Các sản phẩm cho đối tượng khách hàng này ngày một đa dạng, phong
hành, giải trí, chữa bệnh,… Đặc điểm của khoản vay này là quy mô nhỏ, thời
gian ngắn, rủi ro thấp hơn cho vay phục vụ mục đích cư trú.
Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh: cho vay để
thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh nhỏ ở từng cá nhân, hộ gia đình,
vay để buôn bán sản xuất kinh doanh,… Đặc điểm của các khoản cho vay này là
thời hạn vay ngắn phụ thuộc vào mặt hàng kinh doanh, qui mô khoản vay tuỳ
8
thuộc vào phương án kinh doanh của khách hàng, rủi ro của khoản cho vay này
rất cao, và có khả năng xảy ra rủi ro đạo đức. Tuy nhiêu nếu ngân hàng quản lý
thường xuyên hoạt động kinh doanh của khách hàng thì rủi ro sẽ hạn chế.
*Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Cho vay KHCN trả một lần khi đáo hạn: Là các khoản vay ngắn hạn của
cá nhân và hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán
một lần khi khoản vay đáo hạn. Qui mô của món vay là tương đối nhỏ, các
khoản vay trả một lần thường ngắn hạn và được dùng để chi trả cho các chuyến
đi nghỉ, mua các dụng cụ gia đình hoặc sửa chữa ô tô, nhà ở… Rủi ro các món
vay này là không lớn.
Nếu quy mô khoản vay lớn sẽ có rủi ro cao, do đặc điểm của khoản vay này
là trả cuối kỳ, nguồn trả chủ yếu từ việc bán tài sản khác hoặc nguồn trả nợ khác
gặp khó khăn khi đó kế hoạch trả nợ thay đổi, điển hình khi thị trương bất động
sản biến động, hoặc nền kinh tế gặp khó khăn.
Cho vay trả góp: Là khoản cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn được thanh
toán làm hai hoặc nhiều lần liên tiếp (thường theo tháng hoặc quý). Khoản cho
vay được trả làm nhiều lần theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng,
phương thức này được dùng để tài trợ cho việc mua sắm các vật dụng đắt tiền
như mua ô tô, mua nhà,… hoặc để tài trợ cho các phương án sản xuất kinh
doanh, thuê cửa hàng, mua sắm các tài sản khác… Hình thức cho vay này được
KHCN của họ, theo hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh
nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách
hàng.
Ưu điểm:
NHTM dễ dàng mở rộng và tăng doanh số cho vay, tiết kiệm và giảm được
các chi phí khi cho vay, mở rộng quan hệ với khách hàng và tạo điều kiện thuận
lợi cho các hoạt động khác của ngân hàng.
Hạn chế:
Các ngân hàng thương mại khi cho vay không tiếp xúc trực tiếp với khách
hàng mà thông qua các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá, dịch vụ, nhất là
10
trong việc lựa chọn khách hàng, tiêu chí lựa chọn của doanh nghiệp và ngân
hàng không giống nhau. Thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng cả trước, trong và
sau khi vay vốn, khi doanh nghiệp thực hiện bán lẻ hàng hoá và dịch vụ. Kỹ
thuật và quy trình nghiệp vụ của hình thức cho vay này rất phức tạp.
Cho vay trực tiếp
Là hình thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng trực tiếp gặp nhau để
tiến hành cho vay hoặc thu nợ.
Ưu điểm:
Việc cho vay tiến hành trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng do vậy
ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức, kinh nghiệm, và kĩ năng
của cán bộ tín dụng, do đó các khoản vay này thường có chất lượng cao hơn so
với cho vay gián tiếp thông qua các doanh nghiệp bán lẻ.
Cán bộ tín dụng khi cho vay đặc biệt coi trọng đến chất lượng các khoản
vay, song doanh nghiệp bán lẻ hàng hoá, dịch vụ thường coi trọng nhiều đến
việc tăng doanh số bán hàng hơn là chất lượng các khoản vay, hơn nữa các
doanh nghiệp thường đưa ra quyết định cho vay một cách nhanh chóng, nên
kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân
hàng trong thời gian đã cam kết. Danh mục và điều kiện của tài sản cầm cố được
ngân hàng quy định cụ thể dựa trên quy định của pháp luật và chính sách tín
dụng của từng ngân hàng. Các tài sản cầm cố thường là các tài sản mà ngân hàng
có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng
nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của khách hàng chẳng hạn
như: các giấy tờ có giá, ngoại tệ mạnh, kim loại quý,…
Cho vay thế chấp là hình thức mà người vay phải chuyển toàn bộ các giấy
tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm
giữ trong thời gian cam kết. Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang
thế chấp thường là bất động sản như nhà cửa, quyền sử dụng đất,…hoặc là
những động sản mà người vay vẫn cần sử dụng như ô tô, xe máy,…Việc thế
chấp bằng tài sản cho phép người nhận tài trợ tiếp tục được sử dụng tài sản trong
thời gian vay.
12
Loại 2 Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay. Khi khách
hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đó không
đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu cầu khách
hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng làm
vật đảm bảo. Để đảm bảo khách hàng không bán tài sản hoặc sử dụng không cẩn
thận làm giảm giá trị của tài sản, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải
cam kết bảo quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ hưởng là ngân hàng, đồng
thời chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngân hàng.
Cho vay không có tài sản bảo đảm:Là cho vay dựa trên uy tín (tín chấp)
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, không có tài sản bảo đảm. Ngân hàng lựa chọn các
khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay. Ngân hàng cho khách
hàng vay tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tín chấp lương,
các khoản cho vay KHCN, dư nợ cho vay KHCN, chất lượng cho vay KHCN,
lợi nhuận từ cho vay KHCN, số lượng các sản phẩm cho vay KHCN.
* Các chỉ tiêu phán ánh quy mô cho vay:
- Số lượng KHCN và số lượng các khoản cho vay KHCN
Số lượng KHCN tăng lên thể hiện ngân hàng đã quan tâm, trú trọng tới đối
tượng này và Số lượng các khoản cho vay tăng cho thấy ngân hàng đang gia tăng
thị phần KHCN trên địa bàn hoạt động của mình và cũng phán ánh các sản phẩm
đưa ra có tính thực tế cao, thu hút được sự quan tâm của thị trường.
- Dư nợ cho vay KHCN
Đây là chỉ tiêu hiện thực nhất để đánh giá kết quả mở rộng cho vay KHCN.
Dư nợ cho vay KHCN tăng chứng tỏ cho vay KHCN của ngân hàng đã đạt kết
quả tốt. Tuy vậy, kết quả mở rộng cho vay KHCN chỉ thực sự đạt hiệu quả nếu
dư nợ cho vay KHCN tăng cả về số lượng tuyệt đối, lẫn số lượng tương đối (tỷ
trọng dư nợ cho vay KHCN so với tổng dư nợ).
Dư nợ cho
vay năm nay
=
Dư nợ cho vay
+
Doanh số cho
-
Doanh số thu nợ
năm trước
số cho vay thì mở rộng cho vay mới được coi là đạt hiệu quả. Lợi nhuận cho vay
KHCN năm sau phải cao hơn năm trước.
Lợi nhuận cho vay
KHCN
Doanh thu cho vay
=
Doanh thu cho vay
KHCN
Dư nợ cho vay
-
Chi phí cho vay
KHCN
Lãi suất cho vay
=
X
KHCN
KHCN
KHCN
Chi phí cho vay KHCN là phần chi phí bao gồm: Lãi suất huy động vốn để
đáp ứng nhu cầu vay cho các kỳ hạn vay, chi phí quảng cáo, chi phí hoạt động…
Chi phí này được phân bổ trong từng thời kỳ.
Dư nợ cho vay là số tiền khách hàng nhận nợ tại ngân hàng.
Lãi suất cho vay ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu cho vay KHCN. Lãi suất
cho vay được áp dụng cho các khoản vay và thay đổi từng thời kỳ căn cứ vào
toàn và hiệu quả mở rộng cho vay KHCN.
Nợ xấu KHCN
Dư nợ KHCN
Tỷ lệ nợ xấu theo sản
Nợ xấu theo sản phẩm
=
Dư nợ KHCN
phẩm KHCN
(Đối với tỷ lệ này tính toán theo thời điểm cụ thể)
Tỷ lệ nợ xấu KHCN
=
x 100%
x 100%
Nếu tỷ lệ này ở mức quá cao chứng tỏ chất lượng cho vay của ngân hàng là
thấp kém. Có thể ngân hàng đã vi phạm một số nguyên tắc cơ bản khi cấp tín
dụng là cho vay không phân tích kỹ khả năng trả nợ của khách hàng, tài sản thế
chấp không đúng quy định, thiếu kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ…và nhất là vi
phạm các nguyên tắc về phân tán rủi ro tín dụng, tập trung vốn quá quy định vào
một nhóm khách hàng hoặc một ngành kinh tế.
Nếu tỷ lệ này ở mức quá thấp so với định mức của ngân hàng, thể hiện quan
điểm của ngân hàng khi cho vay là nếu không đủ tin tưởng thì không cho vay,
cho vay đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc tín dụng, nguyên tắc phân tán
16
rủi ro, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay của khách hàng.
cho các doanh nghiệp, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Chính sách cho
vay là cẩm nang hướng dẫn chung cho các cán bộ tín dụng và các nhân viên
ngân hàng tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích cho vay, tạo sự thống
nhất chung trong hoạt động cho vay nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả
năng sinh lời.
Toàn bộ các vấn đề có liên quan đến tài trợ một khoản vay nói chung đều
được xem xét và đưa ra trong chính sách cho vay của ngân hàng như: Đối
tượng khách hàng, mục đích cho vay, chính sách quy mô và giới hạn cho vay,
thủ tục cho vay, lãi suất và phí suất cho vay, thời hạn cho vay và kì hạn nợ,
các khoản đảm bảo.
Những yếu tố trong chính sách cho vay đều tác động một cách mạnh mẽ
tới việc mở rộng cho vay nói chung và hoạt động cho vay KHCN nói riêng.
Một ngân hàng chỉ có thể mở rộng hoạt động cho vay KHCN khi nó có mục
tiêu mở rộng rõ ràng được thể hiện như một định hướng trong chính sách cho
vay. Và khi ngân hàng đó xác định mở rộng cho vay KHCN thì ngân hàng
mới dồn nỗ lực và khả năng để tập trung phát triển lĩnh vực này. Mặt khác,
khi một ngân hàng đã có sẵn các hình thức cho vay KHCN đa dạng thì việc
mở rộng cũng dễ dàng và thuận lợi hơn là các ngân hàng mới chỉ có các sản
phẩm đơn giản.
Thứ hai: Năng lực tài chính của ngân hàng và khả năng quản lí của ngân hàng
Một ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu lớn, khả năng huy động vốn
trong ngắn hạn lớn, danh mục tài sản thanh khoản nhiều, nợ quá hạn ít thì ngân
hàng đó có thể gọi là có sức mạnh về tài chính và ngân hàng đó có thể đầu tư vào
các danh mục mà ngân hàng hướng tới và hoạt động cho vay được mở rộng
trong đó cho vay KHCN sẽ được phát triển, ngược lại ngân hàng mà năng lực tài
chính thấp thì sẽ không có đủ số vốn để tài trợ cho các danh mục mà ngân hàng
quan tâm, do đó hoạt động cho vay sẽ bị hạn chế, cho vay KHCN sẽ không được
mở rộng. Vì vậy, đây là một nhân tố giúp cho ban lãnh đạo ngân hàng xem xét
19
hàng thường mở rộng các chi nhánh và các phòng giao dịch, nhằm thu hút sự
quan tâm của khách hàng đối với ngân hàng, việc mở rộng cho vay đối với
KHCN càng trở nên thuận lợi. Ngân hàng dễ dàng đáp ứng được nhu cầu vay
vốn của khách hàng, đồng thời ngân hàng nắm bắt được thông tin từng khách
hàng trên cơ sở đó tiến hành thẩm định, giải ngân và thu hồi nợ. Do đó, việc
mở rộng mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch là nhân tố ảnh hưởng đến
việc mở rộng cho vay KHCN của NHTM.
* Nhóm nhân tố khách quan
Thứ nhất: Nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là người lựa chọn và ra các quyết định vay vốn từ ngân hàng
nên các yếu tố thuộc về bản thân khách hàng có tác động rất lớn đến khả năng
mở rộng cho vay KHCN của ngân hàng.
Nhu cầu vốn của khách hàng: là yếu tố quyết định các hình thức cho vay
KHCN, là căn cứ để xây dựng và phát triển sản phẩm cho vay KHCN của ngân
hàng. Tuỳ từng giai đoạn, thời điểm mà xuất hiện các nhu cầu cần tài trợ, ngân
hàng phải phát hiện những nhu cầu đó nhanh nhất để đáp ứng kịp thời. Những
khách hàng có nghề nghiệp khác nhau, tình trạng gia đình và hôn nhân, độ tuổi
khác nhau sẽ có những nhu cầu được tài trợ khác nhau. Ví dụ, những khách hàng
trẻ tuổi (20- 30 tuổi) năng động, trẻ trung ưa thích các sản phẩm thẻ tín dụng
nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm, đi chơi,…Như vậy, xác định được nhu cầu vốn
của khách hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng cho
vay KHCN.
Khả năng đáp ứng các điều kiện khi vay của khách hàng: Đó là các yếu tố
về tài chính, thu nhập, đạo đức, tài sản đảm bảo, tình hình kinh doanh của khách
hàng để thoả mãn các điều kiện vay vốn của ngân hàng đảm bảo an toàn cho
khoản cho vay, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Khách hàng có trình độ văn
của luật pháp cũng như các cơ quan chức năng. Điều này không chỉ làm đảm
bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng, mà còn tạo sự tin tưởng chi khách hàng
đến thực hiện giao dịch. Nếu các quy định đó đầy đủ, chặt chẽ, hợp lý, không
rườm rà và chồng chéo sẽ tạo điều kiện cho hoạt động của ngân hàng nói
21
chung và hoạt động mở rộng cho vay KHCN nói riêng. Hệ thống các văn bản,
các quyết định, quy định,… ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay của
ngân hàng nói chung, cho vay KHCN nói riêng. Hệ thống luật pháp ổn định,
hoàn thiện sẽ thúc đẩy cho vay KHCN đồng thời là cơ sở nâng cao năng lực
cung cấp dịch vụ tài chính chất lượng cao cho dân cư, đảm bảo mối quan hệ
hợp tác giữa ngân hàng với khách hàng.
Môi trường văn hoá – xã hội: Những yếu tố của môi trường văn hoá xã hội
như: lối sống, thói quen, tập quán xã hội, thị hiếu… ảnh hưởng rất lớn đến việc đưa
ra các hình thức cho vay đối với KHCN của ngân hàng. Ở những nơi mà có thói
quen chi tiêu nhiều hơn tiết kiệm thì họ thường có xu hướng vay tiêu dùng và vay
phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh nhiều hơn các nơi khác.
Sự phát triển của Khoa học – Công nghệ: Ngày nay, với sự phát triển
không ngừng của khoa học, công nghệ đã tạo điều kiện cho nhiều nghành,
lĩnh vực khác phát triển với quy mô toàn cầu, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.
Với sự phát triển của khoa học, công nghệ việc xử lý giao dịch của các ngân
hàng trở lên nhanh chóng, dễ dàng hơn, đồng thời các nghiệp vụ cũng được
xử lý theo một quy trình chặt chẽ do máy móc thực hiện thay cho lao động thủ
công. Từ đó, giảm bớt thời gian giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng,
tăng sự chính xác trong phân tích, thẩm định tín dụng, do đó hạn chế rủi ro
cho ngân hàng. Nhờ đó, các ngân hàng có thể mở rộng cho vay và đưa ra các
sản phẩm mới đối với cho vay KHCN.
Đối thủ cạnh tranh: Sự xuất hiện các đối thủ cạnh tranh trên thị trường