Luận văn thạc sỹ - Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài thương mại từ thực tiễn thành phố Hà Nội - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
---***---

ĐẶNG THỊ TÂM

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
BẰNG TRỌNG TÀI TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số:60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS Bùi Nguyên Khánh

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn
rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đặng Thị Tâm


LỜI CẢM ƠN

: Luật Trọng tài thương mại

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng Dân sự

TAND

: Tòa án nhân dân


1

MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Có thể nói đặc trưng quan trọng, cơ bản, nổi bật nhất của kinh tế thế
giới hiện nay là xu hướng toàn cầu hóa, trong đó quan hệ họp tác kinh tế
quốc tế luôn được củng cố và phát triển. Trong điều kiện hội nhập quốc tế
diễn ra mạnh mẽ đó thì cũng phát sinh ngày càng nhiều những tranh chấp
thương mại không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về số lượng mà độ phức tạp
của các tranh chấp cũng ngày một nâng cao. Trong quan hệ kinh tế quốc tế,
trong kinh doanh thương mại... tranh chấp phát sinh luôn là hiện tượng
đương nhiên, giải quyết tranh chấp là việc làm tất yếu và đang là một vấn
đề được bàn đến nhiều của nền kinh tế thế giới hiện nay. Điều đó cũng giúp
định hướng tư duy của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ kinh tế có
phát sinh tranh chấp các phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu trong đó
có trọng tài. Theo đánh giá của Tổng thư ký Tòa án trọng tài quốc tế thì
trọng tài được coi là lựa chọn có nhiều ưu thế nổi bật là tính liên tục, mềm
dẻo, bí mật và phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm...Với tính năng ưu
việt của mình mà phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được coi

quy định hai hình thức hoạt động trọng tài là trọng tài quy chế và trọng tài
vụ việc và có các quy định nhằm hỗ trợ cho cả hai hình thức trọng tài có cơ
hội phát triển ngang bằng nhau và khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng
cả hai hình thức này. Tuy nhiên để các quy định này không chỉ có hiệu lực
trên giấy thì cần có sự đánh giá khách quan, chính xác những cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc ban hành các quy định về hình thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài vụ việc để thực tiễn hóa các quy định này vào dời sống
kinh tế của các cá nhân, tổ chức. Với mong muốn được luận bàn chuyên
sâu, góp phần hoàn thiện pháp luật trọng tài ở Việt Nam, nâng cao hiệu quả
của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Trọng tài tài tại
Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung tác giả chọn đề tài: "Giải quyết
tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài thương mại từ thực tiễn thành
phố Hà Nội".


3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thực tiễn và trong khoa học pháp lý đã có một số bài viết và một
số công trình nghiên cứu ở cấp độ khác nhau về phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài, có thể nêu một số công trình như: "Hoàn thiện pháp luât
về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế",
Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Đình Thơ, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2007 "Pháp luật giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài", Luận
văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Phương Thủy, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2004' "Những vấn đề pháp lý về thỏa thuận trọng tài và thực tiễn áp
dụng ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Kim Liên,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006; " Trọng tài thương mại Việt Nam trong
tiến trình đổi mới", của Dương Văn Hậu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
1999…Tuy nhiên các công trình trên chỉ đề cập một cách khái quát về
phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói chung mà chưa có công

- Phân tích pháp luật hiện hành về TTTM và những vấn đề thực tiễn

trong sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại
Hà Nội từ đó nêu được những hạn chế của văn bản pháp luật quy định về
trọng tài thương mại và những bất cập khó khăn bất cập trong thực tiễn khi
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài tại Hà Nội.
- Đưa ra những giải pháp nhằm thực tiễn hóa một cách hiệu quả các

quy định của pháp luật nhằm khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng
phương thức trọng tài nói chung khi cần giải quyết các tranh chấp phát sinh
trong lĩnh vực thương mại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp trong thương mại
- Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng
trọng tài tại Việt Nam và trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm những quy định pháp luật về
các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, kinh
nghiệm quốc tế và đi sâu phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương bằng trọng tài tại TP. Hà Nội.
5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề


5

tài
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngoài ra, luận

Chương 2: Pháp luật và thực trạng giải quyết tranh chấp trong thương
mại bằng trọng tài tại thành phố Hà Nội
Chương 3: Một sổ giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng trọng tài
vụ việc giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Việt Nam.

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI

1.1. Tranh chấp trong thương mại và các hình thức giải quyết
tranh chấp
1.1.1

Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh thương mại

Tranh chấp, theo cách hiểu thông thường, đó là sự bất đồng, sự mâu
thuẫn về một vấn đề nào đó giữa hai hay nhiều bên liên quan. Tranh chấp
thường biểu hiện rất đa dạng và sinh động trong xã hội, trong đời sống:
tranh chấp về chủ thực sự của vật nuôi chạy từ nhà này sang nhà khác, tranh
chấp về ngõ đi chung, tranh chấp về thỏa thuận mua bán đồ vật, về thanh
toán, thời hạn thanh toán... và trong quan hệ quốc tế là tranh chấp về chủ
quyền quốc gia- biên giới, biển đảo... Suy cho cùng, tranh chấp là những
mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích mà các bên không thống nhất được với nhau.
Tranh chấp, theo Từ điển tiếng Việt, là sự "đấu tranh, giằng co khi có ý kiến
bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên" [26, tr. 1024].Từ
góc độ pháp luật, tranh chấp được giải thích "là những mâu thuẫn về quyền
và nghĩa vụ hợp pháp giữa các bên trong quan hệ pháp luật"[27, tr. 443].
Pháp luật thực định của Việt Nam hiện nav chưa có quy định nào giải thích


4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có


8
quy định [18].
Luật TTTM năm 2010 cũng quy định tranh chấp thương mại theo
hướng xác định những tranh chấp trong thương mại thuộc thẩm quyền của
TTTM, bao gồm:
Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt độna thương mại.
1. Tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong đó ít nhất‘một bên có hoạt
động thương mại
2. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải
quyết bằng trọng tài[23].
Tranh chấp trong thương mại, có thể được hiểu như sau:
Tranh chấp trong thương mại là những bất đồng, xung đột về lợi ích
kinh tế giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại
hoặc các hoạt động kinh tế khác mà theo quy định pháp luật là tranh chấp
thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế.
Nội dung khái niệm tranh chấp trong thương mại bao hàm những nội
dung:
Thứ nhất, là những bất đồng, xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ
thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại;
Thứ hai, là tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng thương mại
hoặc các hoạt động kinh tế khác
Thứ ba, theo quy định pháp luật những tranh chấp này thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế (Tòa án hoặc trọng tài).
1.1.2.Các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Giải quyết tranh chấp có thể hiểu là việc dàn xếp, giải quyết các mâu
thuẫn, bất đồng phát sinh từ quan hệ pháp luật bằng những phương thức
khác nhau do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn hoặc do pháp luật quy

tuy nhiên, người trung gian thì tiếp xúc riêng với từng bên để nắm bắt
quan điểm, khả năng hòa giải của từng bên sau đó mới tổ chức buổi hòa
giải. Người hòa giải (hòa giải viên) thườns gặp gỡ trực tiếp hai bên ngay
từ đầu, có thể đưa ra gợi ý, đề xuất một hoặc một vài giải pháp, phưong
án khác nhau đế các bên suy nghĩ, thảo luận và tự quyết định phương án


10
nào mà họ cho là phù họp nhất nhằm giải quyết tranh chấp. Thỏa thuận
hòa aiải không có giá trị bắt buộc. Việc thi hành thỏa thuận hòa giải hoàn
toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp.
Nói đến hòa giải thì cần thiết phải phân biệt hòa giải trước (tiền) tố
tụng và hòa giải trong tố tụng Hòa giải tiền tố tụng là việc hòa giải được
tiến hành trước khi các bên khởi kiện ra tòa hoặc gửi đơn đến trọng tài. Sau
khi nhận đơn, thụ lý đơn, Tòa án hoặc Trọng tài có nghĩa vụ hòa giải giữa
các bên để giải quyết tranh chấp. Đây là hai quá trình, hai giai đoạn khác
nhau trong giải quyết tranh chấp dân sự nói chung, trong đó có giải quyết
tranh chấp trong thương mại.
- Xét xử của tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, một
bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp mà không
cần có sự đồng ý, thỏa thuận của bên kia. Tòa án, cụ thể là thẩm phán/hội
đồng xét xử, thụ lý và giải quyết tranh chấp theo đúng quy định của pháp
luật, bản án do tòa án tuyên có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên
tranh chấp và với mọi cá nhân, tổ chức có liên quan.
- Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, bên
trung gian thứ ba (trọng tài viên) do các bên lựa chọn sẽ đưa ra một
quyết định sau khi hai bên tranh chấp đã có cơ hội bình đẳng để trình
bày các vấn đề liên quan đến tranh chấp. Nếu quá trình trọng tài bảo
đảm nguyên tắc tự nguyện, công bằng thì quyết định của trọng tài
viên có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên. Khoản 1, Điều 3,

có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không
thể chống án hay kháng cáo. Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi
tuyên phán quyết xong, ủy ban Trọng tài (Hội đồng trọng tài) hoàn thành
nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình. Những ưu điểm này đặc biệt
quan trọng đối với hoạt động đầu tư thương mại. Chính những ưu điểm đó
bảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì
các nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia
đầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cả
bên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam.
Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục
nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết
định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án


12
của Tòa án. Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề
cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của
trọng tài thì có thể kiện ra Tòa kinh tế theo thủ tục giải quvết các vụ án.
Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật
Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt. Hầu
hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài
xử kín (in camera) nếu các bên không quy định khác. Tính bí mật thể hiện
rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng
nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong
điều kiện cạnh tranh.
Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết
trong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án
(hoặc công chúng) - điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt
động kinh doanh của mình.
Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục

được do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả
năng ách tắc hồ sơ.
Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền
kháng án cũng làm cho tiến độ bị kéo dài. Trong thực tế, giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo
dài tối đa là 6 tháng, còn tại Tòa án có thể kéo dài hàng năm trời.
Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác
Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hòa
khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ
họp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện.
Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của
những bất đồng trên cơ sỏ' những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín
đáo, nhẹ nhàng... Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được
quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi
hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt
hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai.


14
Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của
các chuyên gia
Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên
đương sự, điều mà không tồn tại ở Tòa án.
Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu
biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực
chuyên ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, licensing, leasing, xuất
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ...
Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thưcmg mại bằng trọng tài một tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của
Tòa án trên các mặt sau:
Xác định giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại

hành trọng tài vụ việc nên họ phải thỏa thuận trực tiếp vấn đề thù lao và chi
phí với trọng tài viên.
Trọng tài quy chế
Trong trọng tài quy chế, các bên nhờ một trung tâm trọng tài hoặc một
tổ chức trọng tài quy chế giám sát tố tụng theo quy tắc tố tụng trọng tài của
tổ chức đó.
Mức độ giám sát tố tụng trọng tài của mỗi tổ chức là khác nhau. Nói
chung, tổ chức trọng tài quy chế giám sát một phần tố tụng trọng tài, và giới
hạn sự trợ giúp trong việc thành lận hội đôna trọng tài (chỉ định các trọng
tài viên), dựa trên nguyện vọng của các bên cũng như các quy tắc tố tụng
trọng tài của chính tổ chức đó.
Tổ chức trọng tài có thể thông báo đơn kiện cho bên kia và yêu cầu
bên đó trình bày rõ quan điểm về vụ kiện và việc thành lập hội đồng trọng
tài. Đôi khi, tổ chức trọng tài có quyền ấn định một khoản tiền ước tính đủ
để trả chi phí trọng tài, có quyền yêu cầu các bên thanh toán và khi kết thúc
tố tụng, có quyền quyết định các chi phí cuối cùng. Tổ chức trọng tài quy
chế cũng có thể giám sát quá trình thông báo cho các bên về quyết định
được hội đồng.
Trọng tài ban hành. Tuy nhiên, tổ chức trọng tài quy chế cũng có thể


16
không thực hiện nhiều công việc nhu vậy. Loại trọng tài này thường được
coi là trọng tài được giám sát một phần.
Trọng tài quy chế cũng có thể là trọng tài được giám sát toàn bộ.
Trong trường hợp này, tổ chức trọng tài không chỉ chịu trách nhiệm nhận
đơn kiện và thông báo cho bên kia, mà còn thành lập hội đồng trọng tài, ấn
định khoản phí ứng trước và có thể còn xác định địa điểm tiến hành trọng
tài. Như vậy, tổ chức trọng tài giám sát toàn bộ quá trình tố tụng và sẽ giải
quyết một số khó khăn nhất định chẳng hạn như quyết định thay thế các

khi thực hiện nhiệm vụ thì trọng tài viên đó có thể bị thay thế. Thậm chí khi
quyết định trọng tài có hiệu lực, nếu có căn cứ chứng tỏ trọng tài viên đã vi
phạm nguyên tắc này thì quyết định trọng tài sẽ bị tòa án tuyên hủy
- Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng
trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình. Khi các bên tranh chấp lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thì các bên đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, không có sự phân
biệt, đối xử khi tham gia giải quyết tranh chấp.
- Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công
khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. các trọng tài viên không
được phép tiết lộ nội dung của tranh chấp khi không được các bên đồng ý.
Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện ở việc sẽ không có người ngoài
được tham dự vào phiên xét xử trọng tài nếu các đương sự không cho phép.
- Phán quyết trọng tài là chung thẩm. nội dung cơ bản của nguyên tắc
này là khi Hội đồng trọng tài công bố quyết định trọng tài, quyết định trọng
tài có hiệu lực thi hành ngay, các bên không có quyền kháng cáo, cũng như
không tổ chức nào có quyền kháng nghị. Khi xem xét yêu cầu hủy quyết
định trọng tài, tòa án cũng không có quyền xét lại.
Tất cả những nguyên tắc giải quyết tranh chấp mà Luật TTTM 2010
đặt ra đều nhằm mục đích giúp các bên tranh chấp có thể giải quyết tranh
chấp một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả đảm bảo tốt nhất nhu
cầu về một cơ chế giải quyết tối ưu cho các doanh nghiệp.
1.2.2 Thẩm quyền của Trọng tài thương mại


18
Căn cứ để xác định thẩm quyền trọng tài chính là thỏa thuận trọng tài
và các quy định của pháp luật về thẩm quyền của trọng tài trong giải quyết
các tranh chấp thương mại.
+ Thỏa thuận trọng tài:


Trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc là những phương pháp khác biệt
của quá trình tố tụng. Các bên trong trọng tài vụ việc thiết lập quy tắc tố
tụng riêng mà họ cho là có thê phù hợp với diễn biến và sự việc của vụ
tranh chấp, trong khi đó các bên trong trọng tài quy chế phải tiến hành trọng
tài theo các trình tự của tổ chức trọng tài mà các bên lựa chọn.
Tuy nhiên, quy tắc chung là “không có thỏa thuận giải quyết bằng
phương thức trọng tài, không có tổ tụng trọng tài”. Trừ một số ngoại lệ, các
bên phải thỏa thuận trong họp đồng sử dụng phương thức trọng tài, và quy
định chi tiết các quy tắc điều chỉnh quá trình tố tụng (chỉ định trọng tài
viên...) hoặc sử dụng các quy tắc tố tụng trọng tài dưới sự giám sát của một
tổ chức trọng tài quy chế. Trong trọng tài vụ việc, các bên tự quyết định tố
tụng trọng tài sẽ được tiến hành như thế nào và không có sự trợ giúp của tô
chức trọng tài quy chế. Trong trọng tài quy chế (cũng được coi như trọng tài
được giám sát), tố tụng trọng tài được tiến hành với sự trợ giúp của một tổ
chức trọng tài quy chế.
Tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các bên, cách thức tiến hành tố tụng
trọng tài có thể khác hoặc không khác với cách thức tiến hành tố tụng tại
một tòa án quốc gia. Tuy nhiên, tự các bên (hoặc tổ chức trọng tài quy chế,
hoặc bất kỳ bên thứ ba nào khác được các bên chỉ định) tự thành lập hội
đồng trọng tài. Hơn nữa, các quy tắc tố tụng trọng tài thường linh hoạt hơn
và ít nghi thức hơn các quy tắc của pháp luật quốc gia.
Luật TTTM năm 2010 đã quy định khá chặt chẽ các giai đoạn tố tụng
của trọng tài. Có thể tóm tắt tố tụng trọng tài sẽ gồm các bước sau đây:
Thứ nhất: Nộp đơn và thụ lý đơn
Khoản 1 Điều 30 Luật TTTM 2010 có quy định: "trường hợp giải
quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn khởi
kiện gửi đến Trung tâm trọng tài. Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status