Đề tài nghiên cứu khoa học Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa Lịch sử bậc Trung học cơ sở (THCS) phục vụ chiến lược đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay - Pdf 39

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong nội dung triển khai chương trình phổ thông mới (bao gồm THCS và THPT) theo
chiến lược đổi mới căn bản và toàn diện của Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định, chương trình phổ
thông mới phải đáp ứng đồng bộ bốn khâu cơ bản là “đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo
khoa; đổi mới phương pháp giảng dạy gắn liền với đổi mới và xây dựng đội ngũ giáo viên; tăng
cường xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị giảng dạy; đổi mới công tác quản lý giáo dục”.
Theo đó, chương trình, sách giáo khoa được coi là khâu đột phá, tạo tiền đề cho việc đổi mới
các vấn đề cơ bản của đổi mới giáo dục phổ thông. Cho nên, việc nghiên cứu chương trình, nội
dung phổ thông mà giai đoạn đầu là bậc THCS nhằm phục vụ chiến lược đổi mới giáo dục phổ
thông có ý nghĩa quan trọng, then chốt trong giai đoạn hiện nay.
Bộ môn Lịch sử ở trường THCS trong những năm gần đây đã nhận được sự quan tâm
của toàn xã hội. Kể từ khi chương trình mới được đưa vào dạy học đã nhận được phản hồi về sự
tích cực, tiến bộ so với các chương trình trước đây và được xã hội thừa nhận. Thế nhưng, cũng
trong quá trình thực hiện, chương trình Lịch sử THCS đã bộ lộ nhiều hạn chế. Học sinh ngay từ
những lớp học đầu tiên của bậc học THCS đã có “hội chứng” chán, thậm chí sợ học môn Lịch
sử. Điều này một phần xuất phát từ đặc thù bộ môn, nhưng phần khác do sự khô khan, thiếu hấp
dẫn của chương trình và nội dung Lịch sử THCS. Vì thế, giáo viên khó khăn trong việc truyền
đạt, học sinh không hứng thú với việc tiếp nhận, làm cho môn Lịch sử trở thành một “vấn đề”
đối với dạy học ở trường phổ thông. Do đó, nghiên cứu về chương trình, nội dung sách giáo
khoa Lịch sử THCS hiện hành để từ đó đề xuất giải pháp xây dựng chương trình sách giáo khoa
Lịch sử THCS mới sau năm 2015 theo quan điểm của chiến lược đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục của Bộ Giáo dục và đổi mới bộ môn Lịch sử thực sự quan trọng và cần thiết.
Từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề: Nghiên cứu chương
trình, sách giáo khoa Lịch sử bậc Trung học cơ sở (THCS) phục vụ chiến lược đổi mới căn bản
toàn diện giáo dục hiện nay làm đề tài nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về chương trình, sách giáo khoa Lịch sử ở bậc THCS, các nhà giáo dục, nhà
sư phạm tiếp cận ở dưới 3 góc độ cơ bản là nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa (nguyên
tắc, nội dung, phương pháp, ưu điểm và nhược điểm); hướng dẫn và biện pháp sử dụng chương
trình, sách giáo khoa; góp ý và điều chỉnh chương trình, sách giáo khoa cho phù hợp với thực

chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS hiện hành để từ đó có sự điều chỉnh trong một
chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS cho phù hợp hơn.
3. Ở một hướng tiếp khác, để khắc phục những khó khăn, bất cập cũng như phát huy ưu
điểm của sách giáo khoa, chương trình Lịch sử mới, một số công trình với mục tiêu này cũng ra
đời, tiêu biểu là cuốn Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử THCS (phần
Lịch sử Việt Nam) do tác giả Nguyễn Thị Côi chủ biên. Công trình là sự hướng dẫn hệ thống các
kênh hình theo hướng khai thác nhằm hướng đến phát huy tính tích cực của học sinh, đem lại sự
hứng thú cho người học, hạn chế những khó khăn, hạn chế của sách giáo khoa, chương trình. Đó
cũng được coi là một yếu tố trong cải cách, đổi mới chương trình sách sách giáo khoa Lịch sử
bậc THCS, là chiều hướng để nhóm nghiên cứu căn cứ đề xuất giải pháp kiến nghị trong cải
cách, đổi mới chương trình.
Dù được tiếp cận chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS dưới nhiều phương diện,
nhưng có thể nhận thấy rằng thực sự chưa có 1 công trình nghiên cứu chuyên sâu nghiên cứu về
chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu được công bố
trong các công trình nêu trên là cơ sở để nhóm nghiên cứu tiếp tục phát triển trong đề tài.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu được nguyên tắc, phương pháp, cấu tạo của chương trình Lịch sử THCS
hiện hành; những ưu điểm cơ bản về phương pháp, nguyên tắc, nội dung, cách thức xây dựng
của chương trình Lịch sử bậc THCS đối với việc dạy học Lịch sử hiện nay.
- Đánh giá và chỉ ra được những bất cập, hạn chế cơ bản về chương trình, nội dung sách
giáo khoa Lịch sử bậc THCS đối với việc dạy học Lịch sử hiện nay.
- Xây dựng các phương án cụ thể về chương trình sách giáo khoa mới sau năm 2015
theo quan điểm của chiến lược đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài hướng vào việc thực hiện các
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu lý luận về xây dựng chương trình, cơ sở lý luận và thực tiễn xây
dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử để trên cơ sở đó chỉ ra được cấu tạo, phương pháp,
nguyên tắc tổ chức chương trình sách giáo khoa Lịch sử.

sách giáo khoa. Đó là điều kiện để nhóm nghiên cứu chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế, bất
cập của chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS hiện hành so với yêu cầu cần đạt được.
- Nghiên cứu dự báo: Từ những nghiên cứu thực tiễn và lý thuyết trên, nhóm nghiên
cứu coi đó là cơ sở, kết hợp với những ưu điểm của chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc
THCS hiện hành, chiến lược đổi mới căn bản toàn diện của Bộ Giáo dục và Đào tạo để đề xuất
chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS mới.
6. Đóng góp của đề tài
- Đánh giá được những ưu điểm, bất cập, hạn chế cơ bản của chương trình sách giáo
khoa Lịch sử bậc THCS hiện hành nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác dạy học và chiến lược
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Kết quả nghiên cứu được khai thác, xây dựng thành hệ thống các giải pháp, đề xuất,
kiến nghị gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm phục vụ cải cách, xây dựng chương trình sách giáo
khoa Lịch sử bậc THCS.
- Đề xuất hệ thống các phương án về chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS mới
sau năm 2015 theo quan điểm đổi mới căn bản toàn diện của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được trình bày
gồm có ba chương:
- Chương 1: Tổng quan về chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS.
- Chương 2: Hạn chế, bất cập của chương trình sách giáo khoa Lịch sử ở bậc THCS
trong dạy học hiện nay.
- Chương 3: Giải pháp xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS phục
vụ chiến lược đổi mới căn bản toàn diện giáo dục.

3


NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA
LỊCH SỬ BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ

thành được kiến thức cơ bản của học sinh trong tiến trình phong phú, đa dạng của lịch sử dân
tộc.
Ngoài ra, trong mục tiêu kiến thức mà chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS
đạt được cũng cần đảm bảo rằng những kiến thức được xây dựng và đưa vào dạy học phải phù
hợp và mang tính vừa sức đối với học sinh THCS. Đồng thời, những tri thức vừa sức đó phái
được xây dựng và hình thành trên một nền tảng đúc rút từ những sự kiện, hiện tượng, nhân vật
lịch sử cụ thể chứ không phải là trên một nền tảng lý luận xa vời đối với học sinh: “Phù hợp với
nhận thức lứa tuổi tuổi 14 – 16, lịch sử nên được nhận biết qua các sự kiện cụ thể chứ không
phải thông qua những bài khô khan, chứa đựng nhiều lý luận, nhưng trang sử “vô nhân xưng”
như đã có người phê phán” [12, tr.4]. Làm được điều này là không phải là dễ, nó đòi hỏi khi xây
dựng chương trình ngoài việc dựa trên nền tảng cơ sở lý luận vững chắc thì còn phải biết “ẩn”
hệ thống các phương pháp luận ấy đằng sau để học sinh ở bậc này tiếp nhận lịch sử một cách dễ
dàng, bởi vì đối với học sinh ở lứa tuổi việc đặt ra mục tiêu hình thành phương pháp luận nhận
thức xã hội là quá sức, không phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở mục tiêu chung đó mỗi lớp học,

4


mỗi bậc học, mục tiêu về mặt kiến thức cũng có sự khác biệt, nhằm đảm bảo mục tiêu chung
của bộ môn Lịch sử ở bậc THCS.
1.1.2. Về tư tưởng, tình cảm, thái độ
Theo mục tiêu chung của bậc THCS, Bộ Giáo dục và Đào tạo khi biên soạn chương
trình sách giáo khoa bậc THCS đã xác định, mục tiêu về tư tưởng, tình cảm, thái độ mà sau khi
hoàn thành bậc THCS học sinh đạt được thông qua bộ môn Lịch sử là “làm cơ sở bước đầu cho
việc hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống
dân tộc, tạo cho học sinh các năng lực tư duy, hành động, có thái độ ứng xử đúng đắn trong đời
sống xã hội” [1, tr.113]. Với mục tiêu chung đó, mỗi đơn vị kiến thức, mỗi bài, chương và mỗi
khối lớp trong nội dung xây dựng sách giáo khoa đều thể hiện những tư tưởng, tình cảm, thái độ
mà học sinh cần được hình thành. Trên cơ sở đó, chúng tôi thông kê các mục tiêu cơ bản của lớp
6, 7, 8, 9 mà học sinh cần đạt được sau khi học xong môn Lịch sử, làm tiền đề cho việc hình

địa lý,….
- Kỹ năng xây dựng các niên biểu, đồ thị về các sự kiện,
Kỹ năng thực hành bộ môn
2
các chiến dịch, các cuộc chiến tranh, về các thành tựu kinh
Lịch sử
tế văn hóa xã hội
- Kỹ năng khai thác, tái hiện kiến thức lịch sử thông qua
các tư liệu, hiện vật lịch sử như tranh, ảnh, hiện vật khảo
cổ, hiện vật bảo tàng, phim tư liệu,..
Kỹ năng xác định mối liên - Xác định được mối liên hệ giữa các sự kiện trong tiến
3 hệ và vận dụng mối liên hệ trình lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc với
giữa các sự kiện, hiện lịch sử thế giới, lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc để

5


tượng, lịch sử

thấy được sự phát triển biện chứng của lịch sử
- Đánh giá được tác động của mối quan hệ đó với các sự
kiện, hiện tượng lịch sử với tiến trình lịch sử
- Phân tích được về một nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch
sử cụ thể
Kỹ năng phân tích, khái - Khái quát, đánh giá được đặc điểm, tiến trình và tác động
4 quát, so sánh, đánh giá và của một giai đoạn lịch sử cụ thể
rút bài học lịch sử
- Rút được bài học lịch sử từ tiến trình lịch sử dân tộc và
thế giới như: dựng nước, giữ nước, xây dựng phát triển
kinh tế xã hội,…

hành vừa đảm bảo tính thống nhất của tiến trình lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, đồng thời vừa
tạo được mối liên hệ giữa kiến thức lịch sử dân tộc với lịch sử thế giới.
- Đối với nguyên tắc đồng tâm: Nguyên tắc đường thẳng có ưu điểm là làm cho chương
trình sách giáo khoa Lịch sử đảm bảo được sự phát triển hợp quy luật của tiến trình lịch sử dân
tộc, lịch sử thế giới. Thế nhưng, việc cấu tạo theo nguyên tắc này có hạn chế là không có sự liên
hệ, lặp lại, củng cố kiến thức giữa các khối lớp trong hệ thống bậc THCS. Khắc phục nhược
điểm của nguyên tắc này, chương trình sách giáo khoa Lịch sử còn vận dụng nguyên tắc đồng
tâm. Nguyên tắc này thể hiện rất rõ thông qua sự kế thừa kiến thức về lịch sử trong chương trình
bậc tiểu học và có mối liên hệ về các nội dung kiến thức với chương trình lịch sử THPT. Điều
này giúp học sinh nắm được tiến trình, vừa được cũng cố kiến thức ở bậc THPT.
Sự thể hiện nguyên tắc đồng tâm thể hiển rất rõ trong chương trình sách giáo khoa Lịch
sử THCS. Ở bậc THCS, chương trình đảm bảo hệ thống tri thức và lịch sử Việt Nam nhưng

6


thiếu hệ thống về lịch sử thế giới. Đến bậc THPT, chương trình đảm bảo hệ thống tri thức lịch
sử thế giới (từ công xã nguyên thủy đến thời hiện đại) mà không lặp lại một cách hệ thống về
lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, chương trình THPT nâng cao những ván đề lý thuyết trên cơ sở
các kiến thức cơ bản. Cả hai chương trình bổ sung cho nhau; đến cuối năm lớp 12, nhận thức về
lịch sử cơ bản của học sinh trở nên trọn vẹn, có hệ thống. Ví dụ, phần lịch sử thế giới và lịch sử
Việt Nam cận hiện đại đã học ở bậc THCS cũng được trình bày trong bậc THPT với số tiết
không có sự chênh lệch đáng kể. Tuy nhiên xét một cách cụ thể thì giữa hai bậc có sự phân biệt
cụ thể về mức độ kiến thức [13, tr.39 - 40]. Chương trình Lịch sử THPT tăng mức độ khái quát
hóa, suy luận và gia tăng khối lượng tri thức nhất định trên nền tảng kiến thức bậc THCS.
Xây dựng chương chương trính sách giáo khoa Lịch sử cần phải đảm bảo những yêu
cầu nhất định. Đó là vừa đảm bảo được sự phát triển theo quy luật của lịch sử dân tộc, lịch sử
thế giới, mối liên hệ giữa lịch sử dân tộc với lịch sử thế giới, nhưng đồng thời phải đảm bảo tính
kế thừa, đảm bảo tính vừa sức và mối liên hệ với chương trình lịch sử bậc THPT. Do đó,
chương trình sách giáo khoa Lịch sử đã vận dụng nguyên tắc đồng tâm và nguyên tắc đường

- Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918
- Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến nay
4
34
9
- Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000
Theo cấu trúc chương trình ở bảng 1.3.a thì cấu trúc chương trình sách giáo khoa Lịch
sử THCS có sự gia tăng về khối lượng kiến thức theo khối lớp nhằm phù hợp với trình độ và
khả năng nhận thức của mỗi bậc học, đồng thời vừa đảm bảo sự cân đối về cấu trúc giữa các bậc
học.
Cấu trúc chương trình thể hiện nội dung và sự phù hợp của một chương trình sách giáo
khoa Lịch sử. Chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS được kết cấu như trên thể hiện sự
hợp lý nhất định, thế nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế bất cập ngay trong cách phân kỳ, kết
cấu giữa các khối lượng kiến thức trong mỗi khối lớp giữa hai phần lịch sử Việt Nam và lịch sử
thế giới.

7


Chương 2: HẠN CHẾ, BẤT CẬP CỦA CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA LỊCH
SỬ Ở BẬC THCS TRONG DẠY HỌC HIỆN NAY
2.1. Về nguyên tắc xây dựng, cấu trúc
- Thứ nhất, cách phân kỳ lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới không thống nhất.
Cách phân kỳ có tính phân định quan trọng, nó giúp cho học sinh có thể hình dung cơ
bản về tiến trình lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, đồng thời ở một mức độ nào đó, nó còn là
cơ sở để phân định về nội dung các khối lớp trong biên soạn chương trình, sách giáo khoa Lịch
sử. Việc phân kỳ hợp lý sẽ là cơ sở, là tiền đề để biên soạn được một chương trình, sách giáo
khoa khoa học, tạo cơ sở nhận thức khái quát ban đầu ở học sinh về những sự kiện, dấu mốc
chính trong tiến trình lịch sử, để học sinh có thể nắm bắt kiến thức dễ dàng, thuận lợi hơn. Với
mục tiêu và ý nghĩa của phân kỳ, chương trình, sách giáo khoa Lịch sử THCS đã xây dựng theo

Ở chương trình sách giáo khoa lớp 6, phần lịch sử thế giới được kết cấu thành một trong
hai phần cơ bản của chương trình sách giáo khoa, nhưng chỉ được phân phối chương trình là dạy
trong 4 tiết. Đến lớp 7, khối lượng kiến thức này đã được tăng lên theo nguyên tắc tăng độ khó
của kiến thức theo chương trình, khối lớp. Tuy nhiên, so với phần lịch sử Việt Nam, phần lịch
sử thế giới có khối lượng kiến thức quá ít ỏi, chênh lệch theo cấu trúc cần thiết. Mặc dù số tiết,
kết cấu về số trang ít nhưng nội dung được dồn nén trong 4 tiết của chương trình lớp 6 và 9 tiết

8


của chương trình lớp 7 là chưa tương thích với trình độ, nhận thức lịch sử của học sinh hai khối
lớp này.
Nếu như trong chương trình sách giáo khoa ở hai lớp 6 và lớp 7, khối lượng kiến thức
lịch sử thế giới chiếm vị trí quá nhỏ bé so với khối lượng kiến thức lịch sử Việt Nam thì đến
chương trình lớp 8 điều này lại hoàn toàn ngược lại. Đến lớp 8, khối lượng kiến thức lịch sử thế
giới chiếm một phần quá lớn, lệch hẳn so với chương trình lịch sử Việt Nam. Về thời gian, nội
dung lịch sử thế giới ở trong sách giáo khoa lớp 8 trình bày từ thế kỷ XVII đến năm 1945 trong
khi đó, lịch sử Việt Nam được trình bày từ 1858 đến 1918. Về kết cấu số trang nội dung giữa
các phần trong sách giáo khoa cũng phản ánh sự chênh lệch này. Nội dung lịch sử được trình
bày gồm 113 trang so với 40 trang của lịch sử Việt Nam. Như vậy, có thể nói, toàn bộ chương
trình lịch sử thế giới từ thế kỷ XVII đến năm 1945 mà được trình bày trong toàn bộ cả chương
trình lớp 8 so với phần lịch sử Việt Nam là không hợp lý trong khi ở lớp 6, lớp 7 chương trình
sách giáo khoa đề cập đến lịch sử thế giới quá ít. Đến chương trình sách giáo khoa lớp 9, thực
tế này lại ngược lại, lịch sử thế giới quá mỏng so với lịch sử Việt Nam. Điều đó cũng không hợp
lý. Nguyên nhân của tình trạng này là xuất phát từ việc biên soạn chương trình, sách giáo khoa
có quá nhiều tác giả nên nhìn chung là không đều tay, có những đoạn đi quá sâu nhưng có đoạn
lại không như vậy [15, tr.11 - 12].
- Thứ ba, vận dụng nguyên tắc đồng tâm trong cấu trúc một số nội dung chương
trình sách giáo khoa chưa hợp lý.
Chương trình sách giáo khoa Lịch sử được kết cấu theo nguyên tắc đồng tâm và có sự



(sách giáo khoa lớp 8). Đối với vấn đề này, ở cả bốn giai đoạn (lớp 11), ba giai đoạn (lớp 8) đều
phù hợp vì nội dung chương trình sách giáo khoa ở mỗi khối lớp đề cập như vậy. Nó dẫn đến
một hiện tượng sau khi học nội dung chương trình lớp 8, đến lớp 11, học sinh sẽ thấy lúng túng
trước thông tin mới về cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Tương tự, ở chương trình sách giáo khoa lớp 9
đề cập đến Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến nay thì sách giáo khoa lớp 12 là Lịch sử Việt
Nam từ năm 1919 đến 2000. Sự phân định về mốc kết thúc giữa chương trình sách giáo khoa
lớp 9 và lớp 12 khiến học sinh thực sự khó hiểu và xác định được mốc kết thúc của lịch sử Việt
Nam hiện đại.
2.2. Về hình thức, phương pháp
- Thứ nhất, trong khi thể hiện nguyên tắc đồng tâm, chương trình sách giáo khoa
Lịch sử bậc THCS trong mối quan hệ với chương trình sách giáo khoa bậc THPT đã thể
hiện sự lặp lại gần như về nguyên bản hình thức, phương pháp trình bày.
Ngay khi đưa vào chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS và THPT vào dạy
học một đặc điểm dễ nhận thấy về hình thức, phương pháp, nội dung trình bày là sự lặp lại rõ
đến mức đôi khi học sinh có cảm giác hệ THPT học lại nguyên vẹn chương trình Lịch sử THCS.
Ví dụ phần về lịch sử trung đại phương Đông của lớp 7, với các bài về Trung Quốc phong kiến,
Ấn Độ phong kiến được lặp lại gần như nguyên vẹn trong chương trình sách giáo khoa Lịch sử
lớp 10. Chương trình Lịch sử lớp 8 và lớp 11 cũng tương tự với những bài về Trung Quốc, Ấn
Độ, các nước Đông Nam Á, các nước Phi, Mỹ Latinh,.. thế kỷ XIX – XX. Đến chương trinh của
hai lớp cuối cấp là lớp 9 và lớp 12 thì nội dung kiến thức của sác Lịch sử có hình thức, phương
pháp trình bày hoàn toàn lặp lại, từ cách phân kỳ đến nội dung bài học trong mỗi chương [11,
tr.18]. Điều này phản ánh cụ thể ở bảng sau:
Bảng 2.2. So sánh phần trình bày về Lịch sử thế giới trong sách giáo khoa
Lịch sử lớp 9 và Lịch sử lớp 12 [3], [6]
TT
Sách giáo khoa lớp 9
Sách giáo khoa lớp 12
Chương I. Liên Xô và các nước Đông Âu Bài 1. Liên Xô và các nước Đông Âu sau

Xét về tổng quan và toàn diện, ngoài những ưu điểm mang lại, sách giáo khoa bậc
THCS còn nặng về lịch sử chính trị khô khan, nhiều nội dung tương tự báo cáo chính trị. Các

10


nội dung về văn hóa xã hội được trình bày khá mờ nhạt, chưa phản ánh được thành tựu tiêu biểu
của mỗi thời kỳ. Chính phương pháp xây dựng này đã tạo cho chương trình sách giáo khoa trở
nên thiếu hấp dẫn đối với học sinh, tạo ra hội chứng sợ bộ môn Lịch sử. Cụ thể như, ở phần
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX sách giáo khoa Lịch sử lớp 6, 7 ngoài các
cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, mục kinh tế, xã hội, văn hóa cứ lặp lại hết thời kỳ này đến thời
kỳ khác theo lối dàn trài mà không nêu lên những thành tựu, tiến bộ tiêu biểu của mỗi thời kỳ
[14, tr.10]. Tương tự, ở phần lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975, ở lớp 8, 9
nặng về trình bày cuộc kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, phong trào đấu tranh
cách mạng và một số thành tựu về kinh tế xã hội. Tuy nhiên, nội dung của phần này không trình
bày những điểm tiêu biểu và quá nặng nề về tính chính trị [14, tr.10]. Không chỉ quá nặng về
chính trị, nhẹ phần văn hóa xã hội, chương trình sách giáo khoa các cấp lớp chưa bám sát mục
tiêu của xã hội, gắn kết việc học với thực tiễn: “Những gì dạy trong nhà trường không mấy ăn
nhập với xã hội đang phát triển bên ngoài, không có sự ăn khớp khiến học sinh học cứ học, xã
hội cứ phát triển theo cách của mình, học đi đôi với hành không thực hiện được. Chính vì vậy,
giáo viên hoang mang với những điều mình dạy còn học sinh học Lịch sử nhưng cảm thấy xa lạ
và chẳng cần thiết cho cuộc sống của mình” [19, tr.341].
Trong chương trình, sách giáo khoa, các tác giả cố gắng đảm bảo các yêu cầu về kiến
thức, kỹ năng, tư tưởng nhưng về phương pháp và cách thể hiện thì chưa thực sự đổi mới, tính
hàn lâm còn thể hiện khá rõ. Trong đó, hệ thống các thuật ngữ khá khó đối với trình độ nhận
thức của học sinh bậc THCS mà chưa có bảng tra hệ thống thuật ngữ, khái niệm cho nên ngay
cả người dạy, người học cũng khó hiểu tường tận một số nội dung kiến thức vì thế khi giảng bài
để đảm bảo thời gian, giáo viên chỉ đọc cho học chép một cách thụ động, máy móc. Chính vì thế
đã tạo ra sự đơn điệu, khô khan trong giờ học Lịch sử.
- Thứ ba, phương pháp lựa chọn kiến thức đưa vào chương trình sách giáo khoa

thức quá lớn so với trình độ nhận thức của lứa tuổi học sinh THCS cụ thể là trình độ học sinh
lớp 9. Theo quy định của chương trình, giai đoạn này học sinh được học trong 24 tiết trong khi
hệ thống sự kiện lịch sử của thời kỳ này theo trình bày của chương trình sách giáo khoa là rất
phong phú. Điều này là quá nặng đối với trình độ, nhận thức của học sinh ở độ tuổi từ 11 đến 14
tuổi. Nguyên nhân của việc tác giả đưa quá nhiều nội dung kiến thức lịch sử Việt Nam hiện đại
là do yêu cầu phải đảm bảo về mặt cấu trúc nên lại là nguyên nhân làm sự chênh lệch về nội
dung.
Về mặt thực tiễn, đối với học sinh lứa tuổi này, chương trình sách giáo khoa ở giai đoạn
này chỉ nên lựa chọn những sự kiện tiêu biểu, phản ánh nội dung của các giai đoạn phù hợp hơn
là trình bày dàn trải nội dung tất cả các giai đoạn gây nhàm chán, khó khăn đối với người học
[15, tr.9]. Đối với giai đoạn này chỉ nên lựa chọn một số sự kiện tiêu biểu để trình bày như: Sự
thành lập Đảng, Cách mạng tháng Tám 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Chiến thắng
mùa xuân năm 1975,… không nên trình bày thành các giai đoạn nhỏ đến từng giai đoạn, hay đi
vào các chi tiết quá, cụ thể quá của từng trận đánh, chiến dịch, cũng không nên trình bày các số
liệu về thương vong, chết của cả hai bên. Điều này nó phản ánh lịch sử chính trị quá lớn trong
suốtt giai đoạn 1930 – 1975 [15, tr.9]. Việc kết cấu nội dung cụ thể, chi tiết trong chương trình
sách giáo khoa Lịch sử thời kỳ này khó hình thành ở học sinh kiến thức tổng quát về thời kỳ lịch
sử, gây ra khả năng khó tiếp nhận, nhàm chán đối với lứa tuổi học sinh THCS. Cho nên, so với
khối lượng kiến thức lịch sử các giai đoạn trước năm 1930 và sau năm 1975, nội dung kiến thức
lịch sử Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1975 cần kết cấu lại để đảm bảo sự cân đối trong
khối lượng, nội dung kiến thức, đảm bảo tính phù hợp, tiêu biểu và vừa sức đối với học sinh.
- Thứ hai, nội dung lịch sử thế giới cận hiện đại trong chương trình còn khá lớn,
chưa phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh bậc THCS và mối tương quan với chương
trình Lịch sử bậc THPT.
So với chương trình sách giáo khoa trước đây, chương trình sách giáo khoa mới có khối
lượng kiến thức tinh gọn hơn, các vấn đề kiến thức tập trung hơn, văn phong dễ hiểu và hình
thức trình bày sáng sủa hơn so với sách giáo khoa trước đó. Tuy nhiên, nếu so sánh với chương
trình sách giáo khoa bậc THPT, chương trình sách giáo khoa THCS thì nội dung kiến thức lịch
sử thế giới của hai phần này không khác nhau bao nhiêu. Vì thế, khi trình bày nội dung về lịch
sử thế giới, chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS gặp một số vấn đề như: Chương

Bởi trên thực tế, những nội dung này mang tầm lý luận khái quát, đòi hỏi trình độ nhận thức cao
mà ở lứa tuổi này chưa đủ để có thể nhận thức, giải quyết được, do đó các em cảm thấy quá tải
và khô khan khi tiếp nhận các nội dung quá cụ thể, trừu tượng này.
- Thứ ba, chưa xác định rõ yêu cầu về một số nội dung lịch sử thế giới của chương
trình, sách giáo khoa Lịch sử lớp 6, lớp 7.
Trong chương trình sách giáo khoa, phần lịch sử thế giới lớp 6 chỉ gồm 4 tiết, lịch sử
lớp 7 gồm 9 tiết nhưng khối lượng kiến thức cung cấp cho học sinh (lứa tuổi từ 11 – 12) là quá
lớn với nhiều sự kiện, nhiều địa danh, nhiều kiến thức mang tính lý luận. Ví như, ở lớp 6, lịch
sử thế giới được trình bày thành 1 phần nhưng chỉ có 4 tiết mà nội dung bao gồm Sự tiến triển
từ xã hội công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và nhà nước. Những thành tựu văn hóa
tiêu biểu ở phương Đông và phương Tây thời cổ đại. Đến lớp 7, phần lịch sử thế giới nội dung
được đưa vào chương trình là Xã hội phong kiến Tây Âu, Xã hội phong kiến phương Đông (gồm
Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á) nhưng chỉ được thiết kế gồm 9 tiết. Điều này là không tương
thích giữa nội dung kiến thức và thời lượng cũng như tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 6.
Không chỉ khối lượng kiến thức nhiều, nhiều kiến thức khó, mang tính lý luận cũng còn
khá phổ biến trong chương trình hai khối lớp 6, lớp 7. Đơn cử như trong chương trình lịch sử
lớp 7, ở phần đầu bài 1 viết: “Khi vào lãnh thổ của đế quốc Rôma, người Giecman đã thành lập
nên nhiều vương quốc mới của họ như vương quốc Anglô Xắcxông, Vương quốc Phơrăng,
Vương quốc Đông Gốt, Vương quốc Tây Gốt… mà sau này sẽ phát triển thành các vương quốc
Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Italia…”. Từ đoạn nêu trên, có 3 vấn đề được đặt ra là: 1. Học sinh
chưa biết gì về đế quốc Rôma (vì lớp 6 chỉ học về văn hóa Hy Lạp và Rôma), 2. Không có bản
đồ chỉ dẫn về các vương quốc được hình thành bởi người Giecman nên học sinh không thể hình
dung được các vương quốc này nằm ở đâu, 3. Với trình độ của học sinh lớp 7 học sinh khó có
thể nhớ nhiều địa danh, nhiều tên chỉ trong 1 đoạn ngắn. Vì thế, dù kết cấu số trang tương đối
phù hợp theo yêu cầu của sách giáo khoa, nhưng về mặt kiến thức thì thật sự khó để học sinh
hình dung những kiến thức sách giáo khoa khi mà nội dung và độ khó của kiến thức có sự chênh
với trình độ nhận thức của học sinh. Do đó, học sinh sẽ cảm thấy môn Lịch sử khô khan, khó
hiểu và nhàm chán.
- Thứ tư, tồn tại một số nội dung sai sót, nhầm lẫn trong chương trính sách giáo
khoa.

nhưng ta lại có cảm giác như đọc một bản báo cáo chính trị. Theo sách giáo khoa lớp 7 khi đánh
giá về nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: nhân dân có lòng yêu
nước, bất khuất, quyết tâm giành độc lập, đoàn kết, có đường lối chiến lược, chiến thuật đúng
đắn, sáng tạo của bộ tham mưu đứng đầu, biết dựa vào dân, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giải
phóng đất nước... (trang 93). Với “mô hình” đánh giá rất chung chung này, chỉ cần thay đổi một
số từ là có thể áp dụng cho các cuộc khởi nghĩa khác. Đơn cử, khi đánh giá về phong trào Tây
Sơn, ta vẫn thấy sách giáo khoa lặp lại những “gạch đầu dòng” ấy ở trang 131.
Dù dài dòng, nhưng với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sách giáo khoa vẫn không nêu được,
đã bỏ sót tư tưởng chiến lược và sách lược của nhà tư tưởng, nhà biện luận thiên tài Nguyễn
Trãi: “mưu phạt tâm công”. Nó sẽ lý giải vì sao không tương quan lực lượng, nhưng nghĩa quân
Lam Sơn đã giành được thắng lợi cuối cùng. Có phân tích được thì sau này học về giai đoạn
kháng chiến chống Mỹ, học sinh mới hiểu rõ hơn nữa về sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong thời đại mới đã kế thừa, nâng cao và hoàn thiện hơn nữa chiến lược đó như thế nào.
Lịch sử là sự vận động, một sự tiếp nối không ngừng, chứ không phải những “lát cắt”
biệt lập. Tương tự, trong phần học về “Thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm 1976 - 1980”, sách
giáo khoa lớp 9 đã không phân tích sự hạn chế, sai lầm khi chúng ta thực hiện công cuộc cải tạo
công thương nghiệp trong quá trình xây dựng xã hội chỉ nghĩa. Trong khi đó, Văn kiện ĐH đại
biểu toàn quốc lần VI đã nêu rõ “sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn,
sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” thì sách giáo khoa lại né tránh. Như thế khi
học đến học về công cuộc Đổi mới từ Đại hội VI, làm sao học sinh có thể thấy hết ý nghĩa quyết
tâm Đổi mới của Đảng để nâng cao nhận thức của mình.
Không chỉ với văn phong khô khan và liệt kê con số mà sách giáo khoa còn bộc lộ
những bất cập khác. Xin đơn cử từ sách giáo khoa lớp 7: Thời nhà Lê “đa số dân đều có thể đi
học, đi thi trừ những kẻ phạm tội và làm nghề ca hát”, những hạng người trên chỉ cấm đi thi chứ
không cấm đi học, lệ này bãi bỏ dưới thời vua Lê Dụ Tông, chứ không phải áp dụng xuyên suốt
thời nhà Lê. Sự kiện “Nguyễn Hoàng được cử vào trấn thủ Thuận Hóa, Quảng Nam” thực tế là
do Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm ám hại nên xin chúa Trịnh đi, “cao chạy xa bay” chứ không
phải “được cử”.

14

mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015
Xây dựng và đổi mới chương trình sách giáo khoa là một phần trong chiến lược phát
triển giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà nước, đồng thời đã được cụ thể hóa thành dự thảo đề án
đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015. Xây dựng chương trình sách giáo khoa
mới sau năm 2015 phải quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước, tuân thủ dự thảo đề án đổi
mới thì chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS mới đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu
giáo dục đề ra.
- Đối với quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đổi mới giáo dục phổ thông:
Quán triệt quan điểm của về giáo dục của Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ XI khi xác định: “Giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, có sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người
Việt Nam; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung
vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn
nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Đồng thời phải quan triệt quan
điểm, mục tiêu của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành trung ương lần 8 (khóa XI) về Đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Mặc khác, phải
tuân thủ chặt chẽ những quy định của Luật Giáo dục về nội dung chương trình sách giáo khoa.
- Đối với Dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015: Theo
dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015, chương trình sách giáo
khoa và chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới khi xây dựng cần phải tuân thủ và dựa trên
các cơ sở sau: 1. Quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi
mới giáo dục nói chung, đổi mới chương trình, sách giáo khoa nói riêng; 2. Phát triển phẩm chất
và năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và tiếp cận nghề nghiệp;
3. Cấu trúc, nội dung chương trình, sách giáo khoa phải đảm bảo chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội
nhập quốc tế và đảm bảo tính chỉnh thể, linh hoạt, thống nhất trong và giữa các cấp học; 4. Đổi
mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học
sinh; 5. Đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển
phẩm chất và năng lực học sinh; 6. Quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo
tính khả thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh [8]. Đó được coi là những cơ

+ Mỗi chương trình đều cần có các yếu tố đảm bảo, quan trọng nhất là chất lượng đội
ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, cơ sở vật chất nhà trường.
+ Chú trọng công tác tuyên truyền để tạo sự đồng thuận của xã hội, sự ủng hộ và phối
hợp của các cấp, các ngành, các địa phương...
- Về xây dựng và phát triển chương trình: Từ thực tế chương trình sách giáo khoa hiện
hành, cần phải khắc phục, kế thừa và rút kinh nghiệm những vấn đề:
+ Cần kế thừa những thành tựu khoa học hiện có về phát triển chương trình để xem xét
điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu trong giai đoạn mới của đất nước và xu thế của quốc tế.
+ Cùng với việc xác định các mục tiêu và đặc trưng trong chương trình của mỗi cấp
học, chương trình mới cần được xây dựng như một chỉnh thể nhất quán, xuyên suốt từ cấp Tiểu
học đến cấp Trung học phổ thông; thống nhất và liên thông giữa chương trình giáo dục phổ
thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình
giáo dục đại học.
+ Cần xác định mục tiêu và cách thức dạy học tích hợp và dạy học phân hóa đảm bảo
giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu giáo dục toàn diện với phát huy năng khiếu, sở trường,
định hướng nghề nghiệp cá nhân và điều kiện nhà trường. Cấu trúc lại các lĩnh vực giáo dục,
môn học sao cho đảm bảo số lượng môn học bắt buộc ở mỗi lớp học, cấp học không quá nhiều.
+ Trên cơ sở chương trình quốc gia, cần vận dụng linh hoạt, điều chỉnh (nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và kế hoạch giáo dục) phù hợp với địa phương, thông
qua phân cấp xây dựng và quản lý, chỉ đạo, thực hiện chương trình.
+ Đánh giá kết quả giáo dục cần căn cứ vào chuẩn đầu ra của chương trình. Phải coi
đánh giá là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục, có vai trò
điều chỉnh quá trình dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục [8].
- Về biên soạn sách giáo khoa: Sách giáo khoa phải đảm bảo nhất quán với chương
trình về nguyên tắc, định hướng đổi mới và mục tiêu, chuẩn chương trình. Đồng thời, dựa vào
chương trình quốc gia để biên soạn sách giáo khoa, từ chương trình quốc gia có thể có nhiều bộ
sách giáo khoa hoặc cuốn sách giáo khoa khác nhau để đáp ứng tính đa dạng vùng miền và đặc
điểm nhận thức của các đối tượng khác nhau; đặc biệt chú trọng các tài liệu hỗ trợ học sinh dân
tộc thiểu số và học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Chương trình sách giáo khoa hiện hành được xây dựng biên soạn với chu kỳ gần 10

tin và truyền thông [7]. Trong khi trên thực tế, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS
đang được xây dựng theo định hướng nội dung, chú trọng đến cung cấp truyền thú kiến thức
cho học sinh, khối lượng kiến thức đóng kín trong giới hạn chương trình thiếu liên hệ với thực
tiễn. Vì vậy, xu hướng chuyển từ xây dựng chương trình sách giáo khoa theo hướng truyền thụ
kiến thức sang chú ý hình thành phát triển năng lực, cho người học là một xu thế tiến bộ cần
được xem xét trong đề xuất các phương án về chương trình sách giáo khoa sau năm 2015.
Với xu thế chuyển sang xây dựng chương trình theo chuẩn năng lực, dạy học tích hợp
và dạy học phân hóa được xác định là yêu cầu bắt buộc của mục đích phát triển năng lực học
sinh. Các nước đều chú trọng tính tích hợp trong việc thiết kế chương trình, đặc biệt là ở cấp
Tiểu học và cấp Trung học cơ sở. Ở giai đoạn đầu của cấp Tiểu học, xây dựng môn học tích
hợp các lĩnh vực về tự nhiên và xã hội (trong đó bao hàm cả con người). Ở giai đoạn sau của
cấp Tiểu học và cả cấp Trung học cơ sở xây dựng môn học tích hợp các lĩnh vực khoa học tự
nhiên và môn học tích hợp các lĩnh vực khoa học xã hội. Đồng thời ở cả ba cấp học, thực hiện
tích hợp trong nội bộ môn học, trong đó tích hợp cả các chủ đề liên quan đến thực tiễn đời sống
[7]. Đây cũng là một phương án gợi mở về mô hình chương trình sách giáo khoa Lịch sử sau
năm 2015 mà khi xây dựng chương trình cần cân nhắc, lựa chọn cho phù hợp, đặc biệt là xu
thế tích hợp bộ môn Lịch sử với các bộ môn khoa học xã hội khác ở bậc THCS.
Trong phương thức quản lý, xây dựng chương trình, theo kinh nghiệm của các nước
trên thế giới thì cần chú trọng phân cấp trong xây dựng và quản lí chương trình giáo dục phổ
thông theo hướng: Nhà nước xây dựng chương trình giáo dục hoặc khung chương trình giáo
dục của quốc gia; đồng thời giao quyền cho các địa phương (sở giáo dục) căn cứ vào chương
trình quốc gia để xây dựng chương trình phù hợp với địa phương bằng cách bổ sung thêm một
số nội dung giáo dục; các nhà trường xây dựng chương trình riêng (chương trình nhà trường)
bằng cách bổ sung nội dung và điều chỉnh trong kế hoạch thực hiện chương trình do cấp trên
xây dựng. Phương thức quản lý này vừa đảm bảo chương trình, sách giáo khoa đảm bảm được

18


yêu cầu cơ bản của mục đích giáo dục phổ thông, đồng thời thể hiện được sự đặc thù về điều

THCS và THPT. Bởi chỉ có được khẳng định vị trí của bộ môn Lịch sử mới được coi là yếu tố
đầu tiên để đổi mới căn bản bộ môn này. Trên cơ sở vị thế được khẳng định, nội dung của
chương trình sách giáo khoa mới phải đảm bảo dộ tinh gọn, phù hợp, những kiến thức được xây
dựng trong sách giáo khoa là những vấn đề cơ bản cần thiết. Từ đó, chương trình sách giáo khoa
Lịch sử THCS sau năm 2015 cùng với các bộ môn khác phải hướng đến giáo dục những phẩm
chất, giá trị sao cho học sinh yêu quý bản thân, gia đình, quê hương đất nước; có tinh thần tự
hào, tự tôn dân tộc, có ý thức trách nhiệm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh và bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng bản thân và tôn trọng mọi người, nhân ái,
khoan dung, trung thực, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội và thế giới tự
nhiên; có ý thức tìm hiểu và tôn trọng pháp luật, ý thức về tư cách và trách nhiệm công dân, có
hành vi đúng đắn trong cuộc sống, thể hiện sự tôn trọng pháp luật; tự chủ, độc lập trong suy
nghĩ, ham học hỏi, ham thích sáng tạo…. yêu quý, giữ gìn, bảo vệ cái đẹp trong đời sống, tôn
trọng và có ý thức phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống Việt Nam và các nền
văn hóa khác trong lịch sử; có ý thức bảo vệ di sản lịch sử, văn hóa nghệ thuật của dân tộc và
thế giới, có thái độ đúng đắn đối với những vấn đề về tín ngưỡng, sắc tộc, giới [20, tr.53]. Với
những mục tiêu mà chương trính sách giáo khoa cần đạt đến như thế, cho nên chương trình sách

19


giáo khoa mới phải phát huy được những mặt mạnh của mình, đồng thời khắc phục những thiếu
sót hạn chế đảm bảo về cả mục tiêu kiến thức và giáo dục truyền thống.
- Thứ hai: Đổi mới chương trình sách giáo khoa Lịch sử theo hướng tiếp cận từ truyền
tải nội dung là chủ yếu sang tiếp cận phát triển năng lực của học sinh. Sách giáo khoa Lịch sử
hiện hành được thiết kế theo mô hình truyền thống gọi là chương trình giáo dục định hướng nội
dung. Một trong những đặc điểm về nội dung của chương trình sách giáo khoa được thiết kế
theo hình thức này là “việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với
tình huống thực tiễn. Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình” [10]. Với sự phát
triển của xã hội, chương trình sách giáo khoa thiết kế theo giáo dục định hướng nội dung không
còn phù hơp bởi các nguyên nhân: 1.Những kiến thức được trang bị chi tiết từ chương trình lạc

lượng kiến thức và mức độ khó ở mỗi lớp của bậc THCS. Cách thiết kế chương trình theo
nguyên tắc đường thằng sẽ tạo nên một sự liền mạch về kiến thức, học sinh dễ nắm bắt và có cái
nhìn khái quát về lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, tạo được sự hứng thú đối với học sinh. Tuy
nhiên, phương án này cũng có hạn chế đó là cần phải có một chương trình bổ sung đối với
những học sinh mà họ chỉ học hết bậc THCS và không học tiếp bậc THPT nếu không họ sẽ
không có kiến thức về lịch sử hiện đại Việt Nam và thế giới. Mặt khác, sách giáo khoa Lịch sử
THCS sẽ không kế thừa được những kiến thức học sinh đã được hình thành ở bậc tiểu học. Ba
là, sử dụng nguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng, nhưng phần lịch sử thế giới thì chỉ sử

20


dụng nguyên tắc đường thẳng theo mô hình lựa chọn theo khu vực và từng nước riêng biệt. Đối
với phương án này, việc lựa chọn trong biên soạn có thể tiến hành theo hai hình thức. Hình thức
thứ nhất, ở bậc THCS sẽ trình bày một số quốc gia, khu vực xuất hiện và có vai trò nổi bật trong
thời kỳ cổ trung đại, còn bậc THPT là thời kỳ cận hiện đại. Hình thức thứ hai là ở chương trình
THCS sẽ trình bày toàn bộ tiến trình lịch sử thế giới như hiện nay còn bậc THPT sẽ học chuyên
sâu về một số nước, các khu vực được lựa chọn. Mỗi nguyên tắc và phương pháp biên soạn theo
các phương án trên có ưu điểm và hạn chế riêng. Do đó, để xây dựng một chương trình sách
giáo khoa Lịch sử mới sau năm 2015 cần vận dụng, lựa chọn các phương thức đó một cách hợp
lý.
- Thứ tư: Khắc phục những hạn chế, bất cập của chương trình sách giáo khoa cũ, kế
thừa những ưu điểm, kết cấu lại nội dung chương trình sách giáo khoa mới theo hướng tinh giản
đảm bảo kiến thức cơ bản, đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý của lứa tuổi
THCS. Trên cơ sở đó tiến hành xây dựng chương trình theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội
nhập quốc tế đồng thời đa dạng hóa chương trình sách giáo khoa để đảm bảo tính lựa chọn cho
phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, vùng.
3.3. Các phương án
Trên cơ sở định hướng chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có thể đưa ra các phương án
về xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử bậc THCS sau năm 2015 như sau:


21


THCS; đảm bảo được sự tương quan trong mối quan hệ với chương trình Lịch sử bậc THCS;
đảm bảo được những kiến thức sai sót, nhầm lẫn được sửa chữa; cơ cấu giữa các nội dung kiến
thức lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, giữa các khối lớp phù hợp; đảm bảo vận dụng hợp lý
nguyên tắc biên soạn và đổi mới phương pháp theo hướng toàn diện về kiến thức, phát triển
năng lực cho học sinh thông qua nội dung chương trình, sách giáo khoa Lịch sử mới.
- Phương án 2: Thay đổi cơ bản kết cấu của chương trình sách giáo khoa, xây dựng
hoàn toàn mới. Theo phương án này, học sinh chỉ học lịch sử văn minh thế giới và lịch sử
văn hóa Việt Nam.
Theo phương án này, chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS sau năm 2015 sẽ là
một chương trình sách giáo khoa hoàn toàn mới và chưa từng tồn tại trước đó. Theo phương án
này, kết cấu của chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS mới sẽ có khối lượng kiến thức về
lịch sử văn minh chiếm 1/3, còn khối lượng về lịch sử văn hóa Việt Nam chiếm 2/3 cấu trúc
chương trình. Với phương án này, việc chương trình sách giáo khoa mới sẽ cung cấp những
kiến thức mang tính cụ thể, sinh động trên cơ sở lựa chọn những thành tựu, giá trị văn hóa văn
minh tiêu biểu để hình thành những tri thức bước đầu về sự sáng tạo, phát triển của thế giới và
Việt Nam.
Phương án này có ưu điểm là giúp cho chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới hấp
dẫn, dễ tiếp cận hơn đối với người học. Nó không quá nặng nề về kiến thức và đồng thời cũng
không chính trị hóa chương trình sách giáo khoa. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng một trong
những hạn chế cơ bản của phương án này là sách giáo khoa không phản ánh được một cách khái
quát, toàn diện về tiến trình phát triển của lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc mà chỉ có cái nhìn cụ
thể. Hơn nữa, do việc lựa chọn những nền văn hóa tiêu biểu, những giá trị văn hóa tiêu biểu để
trình bày cho nên sách giáo khoa mới khó có thể giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa lịch
sử dân tộc và lịch sử thế giới. Mặt khác, việc thay đổi và điều chỉnh theo hướng này cũng kéo
theo phải điều chỉnh chương trình sách giáo bậc Tiểu học và THPT bởi vì các chương trình sách
giáo khoa này được xây dựng trong mối quan hệ với chương trình sách giáo khoa Lịch sử theo

1. Chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS hiện hành được coi là văn bản pháp lý
căn bản phục vụ dạy học bộ môn Lịch sử hiện nay. Chương trình sách giáo khoa được xây dựng
trên cơ sở mục tiêu chung của bậc THCS và đáp ứng mục tiêu cụ thể của bộ môn trên cả ba
phương diện kiến thức, kỹ năng và thái độ, tình cảm. Về cơ bản, nội dung, cấu trúc, nguyên tắc
và phương pháp biên soạn chương trình sách giáo khoa Lịch sử THCS đáp ứng được yêu cầu cơ
bản của chương trình sách giáo khoa bậc THCS.
2. So với chương trình sách giáo khoa trước đó, chương trình sách giáo khoa Lịch sử
THCS hiện hành có nhiều ưu điểm vượt trội từ hình thức đến nội dung, nguyên tắc và phương
pháp biên soạn. Thế nhưng, trên thực tế dù là công trình được biên soạn với quy trình chặt chẽ
và sự tham gia của đông đảo đội ngũ các nhà sư pham, song chương trình sách giáo khoa Lịch
sử THCS cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, thiếu sót. Hạn chế, thiếu sót của chương trình sách
giáo khoa Lịch sử THCS tập trung trên phương diện nguyên tắc xây dựng, cấu trúc (cách phân
kỳ lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới không thống nhất, cấu trúc nội dung kiến thức của phần
lịch sử thế giới quá chênh lệch giữa chương trình, sách giáo khoa các lớp, vận dụng nguyên tắc
đồng tâm trong cấu trúc một số nội dung chương trình sách giáo khoa chưa hợp lý); về hình
thức, phương pháp trình bày (lặp lại gần như cơ bản phương pháp, hình thức sách giáo khoa
THPT; quá nặng về chính trị, tính hàn lâm, chưa phản ánh và cung cấp kiến thức mang tính toàn
diện cho học sinh; thiếu sót trong lựa chọn một số kiến thức tiêu biểu); về nội dung (phần lịch
sử Việt Nam cận hiện đại chiếm khối lượng kiến thức quá lớn so với các nội dung về lịch sử
Việt Nam ở các giai đoạn khác; nội dung lịch sử thế giới cận hiện đại trong chương trình còn
khá lớn, chưa phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh bậc THCS; chưa xác định rõ yêu cầu
về một số nội dung lịch sử thế giới của chương trình, sách giáo khoa Lịch sử lớp 6, lớp 7; tồn tại
một số thiếu sót về nội dung). Những thiếu sót, bất cập, hạn chế đó đã làm giảm hiệu quả
chương trình sách giáo khoa Lịch sử, gây nên hiện tượng nhàm chán do đó cần được điều chỉnh
khắc phục.
3. Từ những vấn đề hạn chế nêu trên, cùng với chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ
Giáo dục và Đào tạo, việc xây dựng chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới bậc THCS sau
năm 2015 được đặt ra. Chương trình sách giáo khoa Lịch sử mới phải được xây dựng trên cơ sở
quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục đặc biệt là chiến lược đổi mới căn bản toàn diện
giáo dục; Dự thảo đề án đổi mới chương trình sách giáo khoa phổ thông; kế thừa kinh nghiệm từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status