Quan điểm toàn diện và sự vận dụng của đảng ta trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo khóa luận tốt nghiệp - Pdf 43

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

TW

:

Trung ương

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

CNH

:

Công nghiệp hóa

HĐH

:

Hiện đại hóa


MỤC LỤC

A. MỞ ĐẦU.............................................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................................................1


C. KẾT LUẬN..........................................................................................................................................58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................60


A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan điểm toàn diện mà cơ sở lý luận của nó là nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứng duy
vật macxít, là cẩm nang giúp chúng ta tránh được những đánh giá phiến diện,
sai lệch giản đơn về sự vật, hiện tượng. Nguyên lý này chỉ rõ tất cả các sự vật,
hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ. Vì vậy nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến của phép biện chứng duy vật có vai trò lớn trong chỉ đạo hoạt động thực
tiễn và nhận thức của con người trong đó có vấn đề giáo dục và đào tạo.
Ngày nay, khi Đảng và nhà nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới
toàn diện, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa hội
nhập quốc tế, trong bối cảnh có nhiều cơ hội và thách thức lớn. Thực tiễn đó
đặt ra nhiều vấn đề đổi mới đối với sự lãnh đạo của Đảng, trong đó vấn đề
quan trọng là đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu
CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập
quốc tế.
Trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) đã đề ra công cuộc đổi mới căn bản
toàn diện về giáo dục và đào tạo được thực hiện theo tinh thần: “giáo dục và đào
tạo là một hệ thống xuyên suốt từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo
dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học; giáo dục chính quy và giáo dục thường
xuyên; giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội; chất lượng giáo dục phụ thuộc
vào các yếu tố đầu vào, quá trình đào tạo đến sử dụng kết quả đầu ra. Phát triển
giáo dục và đào tạo phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống văn
hóa của dân tộc, vừa đáp ứng yêu cầu hiện tại, vừa đón đầu những đòi hỏi của
tương lai và cần được ưu tiên đầu tư đi trước một bước, đảm bảo đồng bộ cả về


2


2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Quan điểm toàn diện với cơ sở lý luận là nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến là vấn đề được các nhà triết học từ trước đến nay quan tâm, nhưng chỉ
đến khi Chủ nghĩa Mác ra đời, quan điểm này mới được trình bày một cách
khoa học, có hệ thống với những cơ sở lý luận đầy đủ nhất của nó. Quan điểm
này hợp thành với toàn bộ lý luận về phép biện chứng đã trở thành cơ sở lý
luận để các nhà khoa học vận dụng vào qúa trình nghiên cứu và hoạt động
thực tiễn. Trong quá trình thu thập tài liệu, nội dung quan điểm toàn diện với
cơ sở lý luận về mối liên hệ phổ biến đã được nhiều tác giả nghiên cứu, chẳng
hạn: “ Lịch sử phép biện chứng” (6 tập) của Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô,
Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; “ Giáo trình Mác - Lênin” (2010),
Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội; Giáo trình trung cấp lý luận chính trị
“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin”, Nxb, Lý luận chính
trị, học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,(2004); Quan điểm giáo dục và
đào tạo của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng ta.
Đối với việc vận dụng quan điểm toàn diện của Đảng ta trong Nghị
quyết TW 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
đáp ứng yêu cầu CHH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đây là vấn đề mới nên ít tác giả đề cập
và được quán triệt trong văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp Hành Trung
ương khóa XI của Đảng và trong các văn kiện đại hội của Đảng trong các
năm các nhiệm kì.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài: làm cơ sở lý luận của quan điểm toàn
diện, đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, quan điểm giáo dục và đào tạo


6. Đóng góp của đề tài
4


Về lý luận: Khóa luận là sự khái quát về quan điểm toàn diện và sự vận
dụng của Đảng ta trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Về thực tiễn: Khóa luận có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những
người học tập, nghiên cứu cho nội dung liên quan.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, đề tài được kết cấu với 2 chương và 5 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận chung của quan điểm toàn diện và quan điểm giáo
dục và đào tạo
1.1. Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng ta về giáo dục và
đào tạo
Chương 2: Sự vận dụng của Đảng ta trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
2.1. Những yêu cầu cấp bách của giáo dục và đào tạo đối với sự nghiệp
CNH, HĐH
2.2. Đánh giá chung về tình hình phát triển của sự nghiệp giáo dục và
đào tạo trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH
2.3. Sự vận dụng của Đảng ta trong nghị quyết TW 8 (khóa XI) về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

5


mối liên hệ. Trong thế giới tất cả các hiện tượng đều nằm trong tình trạng
liên hệ lẫn nhau và biệt lập với nhau. Chúng liên hệ với nhau trong mối
liên hệ này, nhưng lại không liên hệ với nhau trong mối liên hệ khác.
Trong các hiện tượng có những thay đổi xảy ra giả định phải có những
thay đổi tương ứng trong các hiện tượng khác.
Đến các nhà triết học Mác - Lênin thì khái niệm mối liên hệ phổ biến
mới có quan niệm đúng đắn, khoa học và đầy đủ nhất. Phê phán các quan
điểm siêu hình khi đã cho rằng, các sự vật, hiện tượng tồn tại một cách biệt
lập, tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ
thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau, nếu giữa chúng có sự quy
định lẫn nhau thì có chăng cũng chỉ là sự liên hệ hời hợt bề ngoài, mang tính
ngẫu nhiên, là sự quy định lẫn nhau một cách giản đơn. Đồng thời cũng phê
phán quan điểm khi cho rằng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó,
nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng.
Ăngghen cho rằng, khi chúng ta nghiên cứu giới tự nhiên, lịch sử loài
người hay sự hoạt động tinh thần của bản thân chúng ta thì trước hết trước
mắt chúng ta hiện ra một bức tranh chằng chịt vô tận những mối liên hệ và
những tác động qua lại lẫn nhau: trong đó, không có cái gì là không vận động,
biến hóa, xuất hiện và biến đi.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, một trong những thuộc tính bản
chất của thế giới vật chất là sự liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng. Tính
thống nhất vật chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình hiện thực là cơ sở khách
quan của sự liên hệ phổ biến. Khái niệm liên hệ phổ biến được hình thành như
một trong những kết quả của sự khái quát thực tiễn và tri thức khoa học.
Phép biện chứng nói chung đều thừa nhận mối liên hệ phổ biến của
những sự vật, hiện tượng, quá trình cấu thành thế giới. Tuy vậy, khi nói về cơ
sở của sự liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy tâm, coi cơ sở của sự liên hệ
phổ biến là ở cảm giác (duy tâm chủ quan), hay ở ý niệm tuyệt đối (duy tâm
khách quan). Đó là những cách giải thích một cách chủ quan, thần bí, không

không nói đến những điều kiện sinh sống của nó. Người ta coi sự liên hệ của
nó, sự liên hệ để có thể hiểu những quy luật của giới sinh vật là trọng yếu.
8


1.1.2. Một số tính chất của mối liên hệ phổ biến
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và
tính đa dạng phong phú.
- Tính khách quan của mối liên hệ
Sự liên hệ được hiểu như trên là mang tính chất biện chứng chung nhất
bao trùm toàn bộ thế giới vật chất. Không những các sự vật, hiện tượng liên
hệ với nhau mà các yếu tố, các bộ phận cấu thành các sự vật, hiện tượng cũng
liên hệ với nhau. Không những các giai đoạn trong một quá trình mà các quá
trình trước và sau sự vận động, phát triển của thế giới nói chung và của từng
sự vật, hiện tượng nói riêng cũng luôn luôn liên hệ với nhau – cái quá khứ,
hiện tại, và tương lai, kế thừa, chuyển tiếp lẫn nhau tạo thành dòng chảy bất
tận của lịch sử. Không chỉ tự nhiên, mà cả trong lĩnh vực đời sống xã hội và
tinh thần mỗi sự vật, hiện tượng cũng luôn luôn liên hệ tác động qua lại lẫn
nhau. Mối liên hệ của mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới (tự nhiên, xã hội và
tư duy) là khách quan, phổ biến.
Khi nói về cơ sở của mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy tâm
cho rằng là ở cảm giác (duy tâm chủ quan), hay ở ý niệm tuyệt đối duy tâm
khách quan). Đó là những cách giải thích một cách chủ quan, thần bí, không
có cơ sở khoa học. Trên cơ sở khoa học phép biện chứng macxít khẳng định
rằng, cơ sở của sự liên hệ phổ biến là ở tính thống nhất vật chất của thế giới.
Các sự vật, hiện tượng dù có đa dạng, khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì
cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới
vật chất. Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi vật
chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc

nhận thức của con người. Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, cái
riêng và cái chung không thể tách rời nhau. Không có cái chung tồn tại độc
lập, đứng ngoài cái riêng mà ngược lại: “cái chung chỉ tồn tại trong cái
riêng, thông qua cái riêng” [13;381]. Mỗi cái chung chỉ là một bộ phận,
một thuộc tính, một đặc điểm của cái riêng. Cái riêng là cái toàn thể, cái
10


chung là cái bộ phận, vì cái chung không bao quát hết cái riêng và cái riêng
phong phú hơn cái chung.
Tuy nhiên, cái chung căn bản bao giờ cũng sâu sắc hơn cái riêng, vì nó
là cái bản chất, cái mang tính quy luật. Cũng vì vậy, Lênin khẳng định: “cái
riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung”[13;381]. Cái riêng là
cái tồn tại độc lập tương đối với những cái khác. Mỗi cái riêng đều chịu sự
tác động cụ thể của môi trường mà nó tồn tại, bị chi phối bởi những mối liên
hệ bên trong và bên ngoài. Điều đó, tạo nên những sự vận động cụ thể, mang
tính đặc thù. Tuy vây, mọi cái riêng đều bị chi phối bởi những mối liên hệ
chung, bởi các quy luật chung và thông qua các hình thức vận động muôn
vẻ, cuối cùng nó đều đi theo những con đường khác nhau để đi tới những kết
cục chung, tất yếu của từng loại sự vật, hiện tượng hay của toàn bộ thế giới
khách quan.
Cái riêng không bao giờ nhập hết vào cái chung. Mỗi cái riêng, bên
cạnh cái chung, cái phổ biến bao giờ cũng tồn tại cái cá biệt, cái không lập lại,
cái đơn nhất. Cái đơn nhất và cái chung như hai mặt đối lập tạo thành cái
riêng. Trong cái riêng, cái đơn nhất và cái chung luôn chuyển hóa lẫn nhau.
Cái đơn nhất chuyển thành cái phổ biến và cái phổ biến trở thành cái đơn
nhất, nhưng không bao giờ có sự chuyển hóa đồng loạt, toàn bộ.
Bản thân cái đơn nhất khi trở thành cái phổ biến thì ở từng cái riêng
khác nhau lại được biểu hiện ra dưới hình thức đặc thù. Vì vậy, trong đời sống
hiện thực không ở đâu và không bao giờ có sự tác động giống nhau tuyệt đối.

nguyên nhân không giống nhau nên triết học Mác chia nguyên nhân ra
thành nhiều loại.
Nguyên nhân bên trong là sự tác động qua lại của các bộ phận, các yếu
tố tạo thành sự vật gây nên sự biến đổi của sự vật. Nguyên nhân bên ngoài là
sự tác động qua lại giữa các sự vật tạo nên sự biến đổi của từng sự vật ấy. Khi
xét nguyên nhân bên trong và bên ngoài bao giờ cũng xét trong mối quan hệ
khác. Trong hai nguyên nhân này, nguyên nhân bên trong bao giờ cũng giữ
12


vai trò quyết định đối với sự biến đổi của sự vật, còn nguyên nhân bên ngoài
chỉ thực sự có tác dụng khi nó chuyển được thành nguyên nhân bên trong
hoặc thông qua nguyên nhân bên trong.
Khi một kết quả có nhiều nguyên nhân thì vai trò của các nguyên nhân
đối với việc hình thành kết quả không giống nhau. Những nguyên nhân nào
quyết định sự ra đời của kết quả thì gọi là nguyên nhân chủ yếu. Những
nguyên nhân chỉ ảnh hưởng tới kết quả thì gọi là thứ yếu. Vì vậy trong hoạt
động thực tiễn chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân
cơ bản, nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên
ngoài, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan… Đồng thời, phải
nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp
thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động
và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực.
Trong đời sống xã hội còn có sự phân biệt giữa nguyên nhân khách
quan và nguyên nhân chủ quan. Đây là nguyên nhân được xác định trong
mối quan hệ chủ thể của hành động. Nguyên nhân là những sự tác động
độc lập với các chủ thể xác định. Nguyên nhân chủ quan là sự tác động
xảy ra do sự điều khiển của một cá nhân, một giai cấp, hay một tổ chức xã
hội nào đó. Nguyên nhân chủ quan không chỉ ảnh hưởng tới chất của kết
quả, mà còn ảnh hưởng tới lượng của kết quả. Chẳng hạn, chất lượng của

thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Còn cái ngẫu
nhiên và hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho
cái tất nhiên. Điều đó có nghĩa là cái tất nhiên bao giờ cái khuynh hướng của
sự phát triển và mỗi khi biểu lộ mình thì khuynh hướng ấy bộc lộ ra những cái
ngẫu nhiên nào đó. Còn tất cả những ngẫu nhiên tồn tại không phải là thuần
túy mà là đã bao hàm cái tất nhiên. Cái tất nhiên chỉ có thể tạo ra từ cái ngẫu
nhiên. Đằng sau cái tất nhiên bao giờ cũng ẩn nấp cái ngẫu nhiên.

14


Tất nhiên và ngẫu nhiên không nằm yên ở trạng thái cũ mà thay đổi
cùng với sự thay đổi của sự vật và trong những điều kiện nhất định tất nhiên
có thể chuyển hóa thành ngẫu nhiên và ngược lại.
Sự chuyển hóa giữa tất nhiên và ngẫu nhiên còn thể hiện ở chổ khi
xem xét trong mối quan hệ này, thông qua mặt này thì sự vật, hiện tượng đó
là cái tất yếu. Như vậy, ranh giới giữa tất nhiên và ngẫu nhiên chỉ có ý
nghĩa tương đối.
Vì cái tất nhiên gắn với bản chất của sự vật, cái nhất định xảy ra theo
quy luật nội tại của sự vật, còn cái ngẫu nhiên là cái không gắn với bản
chất nội tại của sự vật nó có thể xảy ra, có thể không. Do vậy, trong hoạt
động thực tiễn chúng ta phải dựa vào cái tất nhiên, mà không thể dựa vào
cái ngẫu nhiên. Nhưng cũng không bỏ qua hoàn toàn cái ngẫu nhiên, vì cái
ngẫu nhiên không chi phối sự phát triển của sự vật, đôi khi còn có thể ảnh
hưởng rất sâu sắc. Do vậy trong hoạt động thực tiễn, ngoài phương án
chính, người ta thấy có phương án hành dộng dự phòng để chủ động đáp
ứng những sự biến ngẫu nhiên có thể xảy ra.
Thứ tư, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
Đây là mối quan hệ có tính biện chứng. Sự gắn bó này thể hiện trước
hết ở sự thống nhất giữa chúng. Bất kỳ sự vật nào cũng có cả nội dung và

chất không phải chỉ được thể hiện qua một hiện tượng, mà thường bộc lộ
qua nhiều hiện tượng khác nhau. Tất nhiên, các hiện tượng phản ánh bản
chất không như nhau. Có hiện tượng phản ánh bản chất khá trực tiếp, rõ
ràng. Ngược lại, có hiện tượng phản ánh bản chất một cách quanh co, phức
tạp và trong nhiều trường hợp, các sự vật thường tìm cách che giấu bản chất
của mình.
Bản chất mang tính ổn định tương đối, còn hiện tượng biến đổi thường
xuyên. Hiện tượng là sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất, nhưng điều kiện,
hoàn cảnh bên ngoài không đồng nhất, vì vậy ở những môi trường khác nhau
thì hiện tượng cũng khác nhau. Trong thực tế, bản chất cũng không phải là cái
16


hoàn toàn cố định. Theo Lênin: “ không phải chỉ riêng hiện tượng là tạm thời,
chuyển động, lưu động, bị tách rời bởi những giới hạn có tính chất ước lệ, mà
bản chất của sự vật cũng như thế”[13;268].
Điều đó cũng có nghĩa bản chất cũng biến đổi dễ dàng như hiện tượng.
Sự biến đổi của bản chất chỉ xảy ra khi có sự tác động mạnh mẽ, hoặc lâu dài
tạo nên những biến đổi căn bản, sâu sắc của các nhân tố tạo nên sự vật. Trong
đời sống xã hội, bản chất của một con người có thể thay đổi do những tác
động mạnh mẽ lâu dài của hoàn cảnh, của giáo dục. Nhưng sự biến đổi này
nhiều khi rất phức tạp và đòi hỏi phải được củng cố, duy trì bằng hằng loạt
biện pháp tích cực, công phu.
Thứ sáu, mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực
Khả năng đều nằm trong hiện thực, đều có cơ sở là hiện thực. Vì vậy,
hiện thực nào cũng có chứa đựng các khả năng. Trong đó, có cả khả năng tất
nhiên và khả năng ngẫu nhiên, khả năng gần và khả năng xa, có khả năng tốt
và khả năng xấu. Không hiện thực nào không chứa đựng khả năng. Khả
năng nằm trong hiện thực nhưng hiện thực luôn luôn vận động, biến đổi nên
khả năng cũng biến đổi theo. Trong quá trình vận động của hiện thực luôn có

liên hệ trực tiếp giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng; lại có những mối liên
hệ gián tiếp, trong đó các sự vật hiện tượng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau
phải thông qua một hay nhiều khâu trung gian. Có mối liên hệ tất nhiên lại có
mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ cơ bản, thuộc về bản chất của sự vật,
đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật; lại có mối liên hệ
không cơ bản, chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho sự tồn tại và phát triển của
nó. Trong từng giai đoạn phát triển của sự vật có mối liên hệ chủ yếu, quyết
định sự tồn tại và phát triển của sự vật trong giai đoạn đó, lại có mối liên hệ
thứ yếu. Các sự vật, hiện tượng trải qua giai đoạn phát triển khác nhau. Chính
sự liên hệ tác động qua lại của các giai đoạn kế tiếp nhau ấy quyết định tính
liên tục trong quá trình vận động, biến đổi, phát triển của chúng, tuỳ theo

18


phương hướng của sự tác động mà có mối liên hệ thuận chiều, ngược chiều,
mối kiên hệ đơn hoặc mối liên hệ kép…
Như vậy, sự liên hệ tác động qua lại của các sự vật, hiện tượng trên thế
giới không những là vô cùng vô tận mà còn rất phong phú, đa dạng và phức
tạp. Đặc biệt trong lĩnh vực đời sống xã hội, tính phức tạp của sự liên hệ được
nhân lên do sự đan xen, chồng chéo, chằng chịt của vô vàng các hoạt động có
mục đích, có ý thức của con người. Chính vì vậy, mà quá trình nhận thức và
phân loại đúng có mối liên hệ trong xã hội trở nên khó khăn hơn nhiều so với
trong giới tự nhiên.
1.1.3. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nội dung quan
trọng của phép biện chứng duy vật. Đồng thời nó cũng là cơ sở lý luận của
quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể là những quan điểm mang
tính phương pháp luận khoa học trong nhận thức và thực tiễn. Từ việc nghiên
cứu về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng, nguyên lý về mối liên

được các mối liên hệ khác của sự vật rồi liên kết chúng lại thành một hệ thống
hoàn chỉnh. Cho đến khi đó mới hiểu được thấu đáo sự vật, mới có giải pháp
đồng bộ, đúng đắn, khoa học khi giải quyết sự vật.
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải chống lại cách xem xét phiến diện,
siêu hình, chỉ thấy một mặt, không thấy toàn bộ. Quan điểm toàn diên cũng
hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa chiết trung. Thực chất của chủ nghĩa chiết trung
là kết hợp một cách vô nguyên tắc nhiều mối quan hệ, nhiều sự vật, nhiều
hiện tượng… khác nhau tạo thành một mớ hỗn độn các sự kiện, không phân
biệt cái bản chất với cái không bản chất, cái chủ yếu với cái không chủ yếu,
dẫn tới lúng túng, chủ quan trong nhận thức. Nhìn bề ngoài thì chủ nghĩa chiết
trung có vẻ như “toàn diện”, nhưng thực chất trái với quan điểm toàn diện của
phép biện chứng duy vật.

20


Chủ nghĩa chiết trung và phép ngụy biện thường đi với nhau. Ngụy
biện là đem những mặt, những mối liên hệ thứ yếu làm chủ yếu, không cơ bản
làm cơ bản, chuyển cái cá biệt thành cái phổ biến. Thuật ngụy biện đưa ra
những lập luận có vẻ như đúng đắn, có sức “ thuyết phục”, có vẻ như toàn
diện, nhưng thực chất chỉ là sự vận dụng một cách chủ quan, vô nguyên tắc
tính mềm dẻo, linh hoạt của các khái niệm, phạm trù, là đối lập với quan điểm
toàn diện. Nói về sự khác nhau này, Lênin chỉ rõ: “Tính linh hoạt đó áp dụng
một cách chủ quan bằng chủ nghĩa chiết trung và ngụy biện. Tính linh hoạt áp
dụng một cách khách quan, nghĩa là phản ánh toàn diện của quá trình vật chất
và sự thống nhất của quá trình đó, thì đó là phép biện chứng, là sự phản ánh
chính xác sự phát triển vĩnh viễn của thế giới”[13;118].
- Quan điểm toàn diện xuất phát từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
của phép biện chứng duy vật trên các cơ sở:
Thứ nhất, sự vật, hiện tượng nào cũng chỉ tồn tại trong liên hệ và

và phát triển của nó. Quan điểm toàn diện chân thực không đồng nhất với
cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của các sự vật,
hiện tượng; nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự
vật hay hiện tượng đó.
Ba là,phải nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể của nó, trong tính
nhiều mặt và sự tác động qua lại quy định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau. Sự vật
trong thực tế tồn tại với tư cách như một chỉnh thể. Chỉ có thể xem xét sự vật
trong tính chỉnh thể thì mới có thể nhận thức được bản chất của nó.
Như vậy, quá trình hình thành quan điểm toàn diện phải trải qua các
giai đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể đến nhận thức một
mặt một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối
liên hệ nào đó của sự vật và cuối cùng khái quát những tri thức phong phú đó
để rút ra tri thức về bản chất của sự vật.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi cải tạo sự vật phải tính đến mối liên hệ
phổ biến của nó. Đồng thời phải nghiên cứu tất cả những mặt, những yếu tố,
những mối liên hệ vốn có của nó qua đó xác định mối liên hệ bên trong bản
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status