MỘT số THỦ THUẬT gây HỨNG THÚ CHO TRẺ EM 5 6 TUỔI NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG môn học làm QUEN với môi TRƯỜNG XUNG QUANH - Pdf 39

một số thủ thuật gây hứng thú cho trẻ em 5 - 6 tuổi
nhằm nâng cao chất lợng môn học :
làm quen với môi trờng xung quanh

A - đặt vấn đề
I . lý do chọn đề tài

Bác Hồ kính yêu đã nói :
Vì lợi ích mời năm trồng cây ,
Vì lợi ích trăm năm trồng ngời .
Giáo dục Mâm Non là ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, chiếm vị
trí quan trọng. trong giáo dục Mầm non có nhiệm vụ dây xựng những cơ sở ban đầu, đặt
nền móng cho việc hình thành nhân cách con ngời. Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình,
là tơng lai của cả dân tộc, viêc bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ không phải chỉ là trách nhiệm
của mơi ngời và của toàn xă hội và của cả nhân loại
Đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, thời điểm này tất cả mọi việc đều bắt
đầu: bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn và vận động bằng đội chân, đôi tay của
mình.... tất cả những cử chỉ đó đều làm lên nhng thói quen,kể cả thói xấu.Chính vì vậy
chúng ta đã bớc sang thế kỷ 21 thế kỷ nền văn minh trí tuệ, của nền khoa học hiện đại.do
vậy con ngời cần phải nãng động sáng tạo để phù hợp với sự phát triển của thời đại. Muốn
đợc nh vậy ngay từ tuổi ấu thơ trẻ MâmNon , Đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi đang ở nhũng bớc
phát triển mạnh về nhận thức , t duy ,về ngôn ngữ ,về tình cảm .....những thế giới khách
quan xung quanh thật bao la rộng lớn ,có biết bao điều mới lạ hấp dẫn , và còn có bao lạ
lẫm khó hiểu,trẻ tò mò muốn biết ,muốn đợc khám phá , cho nên giáo dục mầm non dã
góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ . Trách nhiệm nặng lề và cao cả ấy tất cả
thuộc về cô giáo Mầm Non tạo nên nền tảng vững chắc , là trặng đờng khôn lớn của trẻ . ở
lứa tuổi này cái nảy sảy cái ung chính vì vậy sự nhảy cảm và có trách nhiệm cao là yêu
cầu không thể thiếu trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ , cô giáo phải rất linh hoạt nhạy
bén kịp thời , có năng lực và có tính chủ động sáng tạo .
Vậy giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống con ngời nhất là ở tuổi Mầm
non . ca dao xa có câu dạy con từ thủa còn thơ câu ca dao ấy đã đi vào lòng ngời và

này đề cập đến chơng trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non từ 5 6 tuổi ở chính đơn
vị trờng tôi dang công tác .
V / Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua đề tài nghiên cứu giúp giáo viên có những định hớng phù hợp trong công tác
chăm sóc cho trẻ mầm non ở độ tuổi 5- 6 tuổi sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần đắc lực
cho quá trình hình thành nhân cách cho trẻ
VI / Phơng pháp nghiên cứu
Trớc hết bản thân phải nhận định đợc tình hình chung của đối tợng nghiên cứu,sau đó
đọc, phân tích, tổg hợp tài liệu tham khảo. Để xây dợng đề cơng sáng kiến, áp dụng sáng
kiến và hoàn thành sáng kiến.
VII / Phạm vi thời gian nghiên cứu
Đề tài đợc tiến hành trong một năm học, tại lớp Mẫu giáo 5 tuổi

B. nội dung
I . tình hình thực tế
1/ Tình trạng trớc khi thực hiện đề tài
a) Thuận lợi:


Đợc sự quan tâm của Phòng GD - ĐT , thờng xuyên tâm bồi dỡng chuyên môn cho giáo
viên .
Bản thân luôn yêu nghề mến trẻ ,ham học hỏi nâng cao chuyên môn . Tìm tòi và tự làm
một số đồ dùng ,đồ chơi để phục vụ tiết dạy vào hoạt động vui chơi của trẻ .
Trẻ ở gần trờng nên rất chăm đi lớp .
b ) Khó khăn:
Cơ sở vật chất thiếu thốn , phòng học chật hẹp , đồ dùng phục vụ tiết dạy còn rất thiếu thốn
nh , những vật mẫu, những con vật thật, đồ vật ...
Góc tự nhiên còn nghèo, số cây ít ,loại cây cha phong phú, đồ chơ, đồ dùng còn ít ...
Số trẻ ở lớp cha qua nhóm lớp nhà trẻ, trẻ đến lớp 4 -5 tuổi chiếm 80%, khả năng trẻ tiếp
thu chậm.

sau :
II . nội dung
Sau một năm thực hiện đề tài , tôi đã sử dụng một số biện pháp sau:
1- Xây dựng cơ sở vật chất
2- Bổ sung đồ dùng , đồ chơi để tiết dạy thêm sinh động , hấp dẫn.
3- Xây dựng góc ( bé với thiên nhiên )
4- Làm giầu vốn biểu tợng vè môi trờng xung quanh.
5- Rèn trẻ thông qua tiết dạy.
6- Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại
7- Kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh để đạt hiệu quả dạy trẻ cao nhất


những biện pháp thực hiện
1/ Xây dựng cơ sở vật chất
Đồ dùng ,trực quan , đồ chơi phục vụ tiết học nh : Bàn ,ghế ,bảng ,tranh , mô hình ,các từ
gắn với mỗi hình ảnh ,vật mẫu ... Cần phải đầy đủ cho cô và trẻ cùng hoạt động .
Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp ,hấp dẫn ,phong phú sinh động nhằm kích thích hứng thú
,tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ , tôi thờng sử dụng đồ thật , vật thật hoặc hình ảnh động cho tiết
học sinh học.
dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ , tôi đề nghị với BGH nhà trờng trang bị thêm thiết bị ,đồ
dùng dạy học nh : Bảng ,tranh ảnh ,lôtô ,và với mỗi tiết cần có đồ dùng để phục vụ thật đầy đủ .
Với các bậc phụ huynh vận động họ mua thêm đồ dùng , tranh ,truyện , đặc biệt là tranh,
sách, ảnh về các con vật, cây cối, hoa lá, quả ,... Su tầm những câu ca dao , tục ngữ ,đồng dao để
làm phong phú vốn hiểu biết về môi trờng xung quanh của trẻ .
Với chính bản thân mình tôi tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn ở địa phơng nh : vải
vụn, cọng rơm khô, lá khô, hoa ép khô, vỏ cây khô để làm tranh ảnh cho tiết dạy. Su tầm các loại
hạt , các loại vỏ trai ốc, hến sò ... để bổ xung gia đồ chơi của trẻ .
2/ Bổ sung đồ chơi
Đợc nhà trờng cấp cho tranh dạy môi trờng xung quanh, lô tô các loại...Ngoài ra tôi còn tự
làm đồ dùng phục vụ tiết dạy, các loại tranh ảnh, hình ảnh, các con vật, cây cỏ, hoa lá ... Su tầm

_ Lô tô con vật xếp vào một ô.
- Lô tô các loại quả xếp vào một ô
Đối với tranh đều có chữ cái tơng ứng ở dới cũng đợc phân loại xếp gọn gàng và dễ kiếm .
4. Làm giầu vốn hiểu biết về môi trờng xung quanh.
Biểu tợng về thế giới xung quanh, đã đến với trẻ qua nhiều hình thức:
Câu đố, bài hát, ca dao, tục ngữ , đồng dao, tranh ảnh , đồ vật , vật thật, giúp trẻ không bị
nhàm chán, lại dễ tiếp thu để trẻ ghi nhớ và chính xác hoá thành biểu tợng của mình .
Ví dụ : Cho trẻ làm quen với con cua :
Con gì tám cẳng hai càng.
Đầu thì không có bò ngang cả đời
Trẻ đoán ngay đợc đó là con cua ,. Nhng trong đầu trẻ biểu tợng về con cua đợc chính xác
là con cua có hai càng to, có tám chân này, lại bò ngang nữa.
Cho trẻ làm quen với con cá ,ttôi dùng câu đố.
Con gì có vẩy có vây
Không đi trên cạn mà bơi dới hồ
Trẻ trả lời đó là con cá. Nhng trẻ lại biết thêm con cá có đặc điểm cụ thể, có vây có đuôi,
vẩy, môi trờng sống của chúng.
Từ đó trẻ có thể so sánh xem con cá và con cua có đặc điểm gì giống nhau ,có đặc điểm gì
khác nhau ? Sau đó trẻ có thể phân nhóm .
Ngoài ra tôi còn dùng cách khác để vào bài cung cấp biểu tợng thế giới xung quanh cho
trẻ, qua hình ảnh mô hình ,con vật thật.
5 / Rèn trẻ thông qua tiết dạy
Vì cho trẻ LQVMTXQ, nên trong mỗi tiết với mỗi mẫu vật, hay tranh ảnh, tôi đều cho trẻ
quan sát kỹ, cho trẻ đa ra nhiều ý kiến nhận xét để tìm ra đầy đủ và chính xác đặc điểm vật mẫu.
Ví dụ : Làm quen với con cua , trẻ đã tìm đợc đặc điểm của con cua có hai càng to ,tám
chân. Sau đó đặt câu hỏi gợi mở các con có biết con cua nó đi nh thế nào không ? Trẻ trả lời
đợc là con cua bò ngang , tôi dùng que chỉ rõ, cua có mai cua , yếm cua cứng để bảo vệ cơ thể
chúng.
Nh vậy không những trẻ biết đợc cua có những đặc điểm gì mà trẻ còn biết môi trờng sống
của chúng, cách vận động, (Đi nh thế nào ? ) các bộ phận cơ thể ra sao. Nắm rõ đặc điểm trẻ

bản thân tôi khắc phục bằng cách: Thờng xuyên học tập bạn bè đồng nghiệp, luyện tập giọng nói
sao cho thật chuyền cảm, tác phong dạy sao cho nhẹ nhàng, linh hoạt.
Về kiến thức phải nắm vững phơng pháp dạy, cung cấp cho trẻ kiến thức dù đơn giản nhng
cũng phải thật chính xác.
Tận dụng mọi thời gian để tự rèn luyện mình ,dù ở lớp hay ở nhà.
Sử dụng bộ tranh cho trẻ LQVMTXQ, theo nội dung từng bài ,theo đúng chơng trình .
Luôn lắng nghe , tiếp thu ý kiến nhận xét , của BGH sau mỗi tiết dạy, để từ đó phát huy
những mặt tốt ,khắc phục những hạn chế .
+ Về cách tiến hành :
Với mỗi bài tuỳ thuộc vào đối tợng cho trẻ làm quen , tôi tìm những cách vào bài khác
nhau để gây sự chú ý, tò mò của trẻ. có thể dùng câu đố ,bài hát. Để trẻ nhận biết đối tợng bằng
tranh ảnh và đồ vật, vật thật và mô hình.
Với mỗi đối tợng trẻ đợc làm quen , trẻ đợc quan sát thật kỹ , trẻ biết đa ra ý kiến nhận xét
của mình, cùng với đó là câu hỏi gợi mở của cô, cứ mỗi lần làm quen nh vậy tôi lồng ghép nội
dung giáo dục vào bài. Trẻ không những hiếu về vật đó mà còn có cách ứng xử, hành động với
chúng.
Sau khi trẻ đợc làm quen 3 4 đối tợng( trong 1bài ) tôi cho trẻ so sánh 2đối tợng một ,
để trẻ có thể dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ phân loại trong các trò chơi.
Tổ chức các trò chơi trong mỗi tiết đạt , tôi tổ chức đan xen trò chơi động với trò chơi tĩnh,
làm cho không khí tiết dạy vui tơi hào hứng và hiệu quả.


Trong các tiết học khác tôi cũng lồng ghép kiến thức môi trờng sung quanh để củng cố vốn
hiểu biết về biểu tợng đã có của trẻ.
Ví dụ : Trong tiết làm quen với chữ cái I ,T , C
Cô đa tranh hình con voi Cô và trẻ cùng đàm thoại về con voi để trẻ biết đợc hình
dạng ,môi trờng sống , thức ăn và cách vận động của nó.
Trong hoạt động khác của trẻ , tôi có thể cung cấp kiến thức cũ , tận dụng mọi lúc ,mọi nơi
để giáo dục trẻ .
Trong hoạt động góc , trẻ đợc chơi ở góc thiên nhien . trẻ tới cây , nhặt lá, bắt sâu, xem

môi trờng sung quanh là rất cao .
Kết quả thực nghiệm
Qua thực hiện một số biện pháp trên kết quả đạt đợc nh sau :


Bản thân đợc trau rồi kiến thức ,kỹ năng , nghệ thuật dạy trẻ .
Phụ huynh tín nhiệm tin yêu
Kết quả đánh giá qua 6 tiết dậy đợc thể hiện qua bảng sau :

STT
1
2

Phân loại
Loại tốt
Loại khá

Bảng 2 : Kết quả đạt đợc
Đầu năm
Số lợng
Tỷ lệ %
2
33.33
4
66.67

Cuối năm
Số lợng
Tỷ lệ %
4

24
2
Loại khá
6
24
10
40
4
16
3
Trung bình
13
52
5
20
4
Loại yếu
2
8
0
0

Đối tợng phụ huynh :
Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ đợc tầm quan trọng của việc dạy trẻ làm quen với môi
trờng xung quanh , tạo điều kiện cùng công tác với cô giáo để đợc làm quen với môi trờng
xung quanh của trẻ đạt hiệu quả cao nhất , đó cũng đã góp phần nâng cao chất lợng môn
cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh .

Bài học kinh nghiệm
- Giáo viên thực sự yêu nghề mến trẻ , có năng lực s phạm , nắm chắc chuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status