+
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HOÀNG HẢI YẾN
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN SÁNG TẠO CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN (5 - 6 TUỔI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HOÀNG HẢI YẾN
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN SÁNG TẠO CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN (5 - 6 TUỔI)
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: Vũ Thị Minh Nguyệt
Sơn La, năm 2015
1.1.1. Đặc điểm của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong quan hệ với hoạt động kể
sáng tạo ................................................................................................................. 8
1.1.2. Đặc điểm tiếp nhận các hoạt động kể chuyện sáng tạo của trẻ ................. 16
1.1.3. Vai trò của hoạt động kể sáng tạo trong dạy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ........ 19
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 23
1.2.1. Khảo sát điều tra ........................................................................................ 23
1.2.2. Kết quả điều tra ......................................................................................... 24
1.2.3. Một số vấn đề rút ra từ kết quả khảo sát ................................................... 27
TIỂU KẾT ........................................................................................................... 28
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG KỂ
CHUYỆN SÁNG TẠO CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN .................................. 29
2.1. Sáng tạo nội dung truyện kể ......................................................................... 29
2.1.1. Mở rộng cốt truyện .................................................................................... 29
2.1.2. Sáng tạo cốt truyện mới ............................................................................ 31
2.1.3. Sáng tạo lời thoại của nhân vật ................................................................. 33
2.2. Sáng tạo trong ngôn ngữ kể của cô giáo ...................................................... 34
2.2.1. Sáng tạo trong giọng điệu kể chuyện ........................................................ 34
2.2.2. Sáng tạo trong ngữ điệu kể chuyện ........................................................... 36
2.3. Sáng tạo trong sử dụng các phương tiện hỗ trợ biểu cảm ............................ 39
2.3.1. Sáng tạo trong sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của
người kể) ............................................................................................................. 39
2.3.2. Sử dụng đồ dùng dạy học hỗ trợ biểu cảm................................................ 41
2.4. Sáng tạo trong các hoạt động ngoại khóa .................................................... 48
2.4.1. Tổ chức trò chơi đóng kịch phân vai......................................................... 48
2.4.2 Tổ chức ngoại khóa văn học ...................................................................... 55
TIỂU KẾT ........................................................................................................... 56
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................... 57
3.1. Mục đích thực nghiệm.................................................................................. 57
không chỉ ở những nước nghèo mà ngay cả ở những nước giàu, để phát triển sự
nghiệp giáo dục, họ đã tìm nhiều giải pháp để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, trong
đó có xã hội hóa giáo dục mầm non.
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục mầm non chủ trương cải
tiến nội dung giáo dục dựa trên quan điểm kết hợp giữa các tri thức tự nhiên, xã
hội và nghệ thuật nhằm giáo dục trẻ một cách toàn diện. Trong đó, cho trẻ làm
quen với tác phẩm văn học được xem là phương tiện chính trong lĩnh vực phát
triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm xã hội, phát triển thẩm mỹ cho trẻ. Việc đổi
mới phương pháp, đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động kể chuyện sáng tạo cho trẻ mầm non, hướng tới mục tiêu sử dụng tác phẩm
1
văn học giáo dục toàn diện nhân cách cho trẻ là việc làm cấp thiết, đòi hỏi nhiều
tâm huyết của các nhà quản lý, các nhà giáo dục và những ai quan tâm đến sự
nghiệp giáo dục mầm non.
1.2. Văn học là món ăn tinh thần của con người. Nó như mạch nguồn của
cuộc sống, làm rung động hàng triệu con tim của nhân loại. Tiếng nói trong văn
học là tiếng nói tình cảm, đó là những trăn trở, những suy nghĩ, những yêu
thương, giận hờn của con người đối với cuộc sống.
Đặc biệt hoạt động làm quen với văn học là một hoạt động không thể thiếu
ở lứa tuổi mầm non bởi lứa tuổi này trẻ rất nhạy cảm, giàu cảm xúc. Vì vậy việc
cho trẻ lứa tuổi mầm non làm quen với các tác phẩm văn học từ lâu đã được
đặt ra như một nội dung, một phương tiện vô cùng quan trọng trong chương
trình giáo dục trẻ. Là loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng đi
vào lòng người một cách tự nhiên và sâu sắc. Đây chính là một trong những
phương tiện hữu hiệu nhất để hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em một
cách toàn diện.
V.G Biêlinxki đã từng nói “Một cuốn sách viết cho thiếu nhi là để giáo dục,
mà giáo dục là một sự nghiệp vĩ đại, vì nó quyết định số phận con người” [4.26].
trường Mầm non Ngọc Linh – Phường Quyết Thắng – Thành phố Sơn La, chúng
tôi nhận thấy rằng việc sử dụng phương pháp chung và các biện pháp cụ thể
nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động kể chuyện sáng tạo cho trẻ mầm non nói
chung, trẻ ở độ tuổi mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) nói riêng còn bộc lộ những hạn
chế nhất định.
Thực tế chung ở trường mầm non hiện nay là giáo viên chưa giúp trẻ, đặc
biệt là trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) phát huy những khả năng tư duy, sáng tạo của
bản thân. Khi cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm văn học ta thường được nghe trẻ
kể lại những câu chuyện dập khuôn quen thuộc như một con đường mòn mà thiếu
sáng tạo, linh hoạt. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ
bản nhất là do khi cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học, tác phẩm chuyện, một số
giáo viên chưa hiểu rõ về vai trò, mục đích về việc sử dụng các tác phẩm văn học
để giáo dục toàn diện nhân cách của trẻ. Điều đó dẫn đến tình trạng thiếu chú
trọng, thiếu linh hoạt, sáng tạo trong việc sử dụng các biện pháp giúp trẻ tiếp nhận
truyện một cách có hiệu quả nhất.
3
Với những lý do trên, đồng thời dựa trên sự tiếp thu những thành tựu của các
công trình nghiên cứu khác, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: Biện pháp nâng cao
chất lượng hoạt động kể chuyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi).
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua quá trình tìm hiểu việc cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) tiếp xúc với
truyện qua đọc, kể sáng tạo các tác phẩm văn học nhằm xây dựng một số biện
pháp giúp trẻ phát huy sự sáng tạo trong các tác phẩm văn học một cách có hiệu
quả nhất, chúng tôi đã được nghiên cứu một số công trình khoa học trong nước
có đề cập những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình.
Cuốn Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ (1986) của tác giả Nguyễn
Thu Thủy có nhấn mạnh đôi nét giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện cổ tích.
sắc (ở mức độ của trẻ) nội dung và tư tưởng tác phẩm văn học, có thể phân biệt
được hình ảnh nghệ thuật với hiện thực, chỉ ra và nhận xét được những phương
tiện biểu đạt hình tượng, ngôn ngữ, các thủ pháp nghệ thuật, có khả năng nắm
bắt được cơ bản cách xây dựng cốt truyện, cấu trúc và mối quan hệ giữa các
nhân vật…
Khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu khả năng nhớ truyện của trẻ mẫu giáo của
tác giả Nguyễn Thị Phúc dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tiếp nhận văn học
của trẻ mầm non để khẳng định vai trò quan trọng của văn học đối với việc giáo
dục trẻ một cách toàn diện. Theo đó, các tác phẩm thơ, truyện tham gia tích cực
vào các lĩnh vực phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm xã
hội, phát triển thẩm mỹ và phát triển thể chất cho trẻ. Như vậy, việc cho trẻ tiếp
xúc với thơ, truyện là việc làm cần thiết và có ý nghĩa.
Qua nghiên cứu các bài viết, các công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu
chúng tôi nhận thấy các công trình này quan tâm sâu sắc đến vai trò của tác
phẩm văn học đối với việc giáo dục trẻ mầm non; khả năng của trẻ mầm non
trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học; khẳng định sự cần thiết phải cho trẻ tiếp
xúc với tác phẩm văn học thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo của cô giáo.
Có tài liệu đã đề cập đến nghệ thuật đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học để tăng
cường khả năng sáng tạo các tác phẩm văn học của trẻ. Tuy nhiên, vấn đề nêu ra
ở tài liệu này chưa hướng vào từng độ tuổi cụ thể trong suốt giai đoạn trẻ ở bậc
học mầm non, từng đối tượng trẻ với trình độ khác nhau, điều kiện học tập khác
nhau; cũng như chưa nêu các biện pháp cụ thể giúp trẻ phát huy khả năng tự
5
sáng tạo của bản thân trong các tác phẩm văn học. Nhận thấy đây là một khoảng
trống có thể tiến hành khảo sát, nghiên cứu và đề xuất các biện pháp mang tính
ứng dụng, tôi chọn nghiên cứu vấn đề Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động
kể chuyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi).
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
– Thành phố Sơn La).
6. Giả thuyết khoa học
Trên thực tế, tại các trường mầm non, việc nâng cao chất lượng hoạt động
kể chuyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo (5 – 6 tuổi) chưa được quan tâm đúng mức
dẫn đến tình trạng chất lượng của việc tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ mẫu
giáo ở độ tuổi này chưa cao. Nếu biện pháp tôi đề xuất trong khóa luận nghiên
cứu này được ứng dụng thì việc đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
của việc kể chuyện diễn cảm cho trẻ nghe và dạy trẻ kể diễn cảm chuyện đồng
thời nâng cao chất lượng hiệu quả của việc tiếp xúc, làm quen với tác phẩm văn
học của trẻ.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài, hệ thống hoá tài liệu để xây dựng
cơ sở lý luận cho đề tài.
7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp thống kê phân loại.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
8. Đóng góp của khoá luận
Khoá luận đạt chất lượng và được nghiệm thu sẽ bổ sung một số biện pháp
tổ chức hoạt động kể chuyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo (5 – 6 tuổi); là tài liệu
tham khảo cho sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non, khoa Tiểu học –
Mầm non, Trường Đại học Tây Bắc và những người quan tâm đến vấn đề này.
9. Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khoá luận gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động kể chuyện sáng tạo
cho trẻ mẫu giáo lớn.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
tiếp được thực hiện nhờ phương tiện cơ bản và quan trọng nhất là ngôn ngữ.
Giao tiếp là nhu cầu có tính bản năng của sinh vật bậc cao và là nhu cầu đặc
biệt thiết yếu với con người. Hoạt động giao tiếp có ngay từ khi xuất hiện con
8
người và xã hội loài người, và ngày càng phong phú, đa dạng. Con người và xã
hội không thể thiếu hoạt động giao tiếp. Nhờ có hoạt động giao tiếp, con người
mới dần hình thành và phát triển. Đặc điểm của hoạt động giao tiếp là bao giờ
cũng xảy ra trong một hoàn cảnh nhất định, với những phương tiện nhất định
nhằm tới một mục tiêu nhất định.
Lênin đã coi ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng của con người.
Ngôn ngữ không phải là công cụ giao tiếp duy nhất nhưng là công cụ giao tiếp
quan trọng nhất của loài người (xét ở tính thuận tiện và hiệu quả của việc giao
tiếp bằng ngôn ngữ). Loài người đã tiến hành giao tiếp bằng nhiều loại công cụ.
Nhưng những công cụ này dù có những ưu điểm mà ngôn ngữ không có nhưng lại
có nhiều hạn chế và không thể quan trọng bằng ngôn ngữ. Cử chỉ, nét mặt, dáng
điệu cũng là những phương tiện giao tiếp quan trọng. Nhưng so với ngôn ngữ,
chúng thật nghèo nàn và hạn chế. Không một cử chỉ, nét mặt nào có thể diễn đạt
một nội dung phức tạp, chẳng hạn: “Tại sao nói ngôn ngữ là một hiện tượng xã
hội đặc biệt?” Hơn nữa, nhiều cử chỉ có ý nghĩa không rõ ràng, chính xác. Có thể
người tạo ra cử chỉ nghĩ một đằng, người tiếp thu nó hiểu một nẻo.
Các loại hình nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, khiêu vũ,… đều
là những phương tiện giao tiếp rất phong phú của con người. Chúng có những
khả năng to lớn và kì diệu nhưng vẫn bị hạn chế nhiều mặt so với ngôn ngữ.
Chúng không thể truyền đạt khái niệm và tư tưởng mà khơi gợi chúng trên cơ sở
những hình ảnh thị giác hay thính giác gây ra được ở người xem. Những tư
tưởng, tình cảm này thường thiếu tính chính xác, rõ ràng, thường rất đa nghĩa.
Ngay cả ở những hội nghị về âm nhạc, hội họa, điêu khắc,…người ta cũng
không thể nào chỉ giao tiếp nhờ các tác phẩm âm nhạc, hội họa hay điêu khắc
tượng với nhau.
Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là chỗ dựa để suy nghĩ và ghi lại kết quả
suy nghĩ của con người. Ngôn ngữ và tư duy thống nhất với nhau, không có
ngôn ngữ thì không có tư duy và ngược lại không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là
vô âm thanh trống rỗng, thực chất là không có ngôn ngữ.
Hai chức năng giao tiếp và tư duy được thực hiện không tách rời nhau mà
gắn bó chặt chẽ với nhau. Khi tư duy, hoạt động giao tiếp vẫn diễn ra không
ngừng và ngược lại khi giao tiếp, hoạt động tư duy vẫn diễn ra liên tục (để kiểm
tra, điều chỉnh thông tin).
10
c) Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ
* Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
“Bản chất con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội” (Marx). “Con
người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là một đặc trưng
quan trọng của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng đối với
trẻ” (Lênin). Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau
hành động vì những mục đích chung: lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triển
xã hội.
Không có ngôn ngữ thì con người không thể giao tiếp được, thậm chí
không thể tồn tại được, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm
sóc, bảo vệ của người lớn.
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một
thành viên của xã hội loài người. Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có
thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể
chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia
vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ.
* Ngôn ngữ là một công cụ để phát triển tư duy, nhận thức
Quá trình trưởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để phát
nào cho phù hợp… không chỉ là sự bắt chước máy móc. Ngôn ngữ phát triển
sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp. Điều này giúp trẻ có điều kiện học hỏi
những gì tốt đẹp nhất xung quanh. Cô giáo nói bằng lời cũng sẽ dễ dàng hơn
trong việc giải thích, nêu gương, thuyết phục trẻ, định hướng những hành vi đạo
đức cho trẻ.
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong thơ
ca, truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đem
đến cho trẻ từ những ngày thơ ấu. Sự tác động của lời nói nghệ thuật như một
phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mĩ cho trẻ.
Giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tuổi, nhất là từ 3 – 6 tuổi, là giai đoạn siêu tốc
phát triển ngôn ngữ. Thành tựu phát triển tối ưu nhất thiết đòi hỏi phải có sự
giáo dục ngôn ngữ “kịp thời”, “đúng lúc” (khái niệm của các nhà giáo dục Nga
“vo vremia”). Những thành tựu phát triển lời nói ở lứa tuổi này là rất to lớn. Về
ngữ âm, đến 6 tuổi về cơ bản trẻ đã phát âm chính xác tất cả các nguyên âm, phụ
âm của tiếng mẹ đẻ. Về từ vựng, số lượng từ vựng tương đối lớn, trẻ có thể nói
lưu loát, biểu cảm. Về mặt ngữ pháp, hầu hết các mẫu câu tiếng Việt trẻ cũng đã
sử dụng vào lúc 6 tuổi. Sự thực là những giờ học ngôn ngữ đầu tiên đối với mỗi
con người là ngay từ khi lọt lòng mẹ. Trường mầm non là trường học đầu tiên. Ở
12
đây, có điều kiện, có cơ hội lớn hơn để giáo dục ngôn ngữ cho trẻ. Có thể khẳng
định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt
đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất.
d) Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi
Phát triển ngôn ngữ là quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mà lứa tuổi mẫu
giáo là lứa tuổi “hoàng kim” cho sự phát triển ngôn ngữ hiện tại và sau này. Lứa
tuổi 5 – 6 tuổi là bước ngoặt quan trọng nhất cần có những biện pháp tác động
đúng lúc và kịp thời vì mọi sự chậm trễ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển toàn
diện của trẻ. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Đặc
triển tương đối cao, không những về phương diện ngôn ngữ mà cả về phương
diện tư duy. Ở lứa tuổi mẫu giáo, trước đây trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là
chủ yếu. Dần dần cuộc sống đòi hỏi trẻ phải mô tả lại cho người khác những
điều mắt mình thấy, tai nghe được. Ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với việc hình thành mối liên hệ qua lại trong nhóm trẻ và những người
xung quanh, đặc biệt là đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ.
1.1.1.2. Đặc điểm tư duy
Tư duy là một quá trình tâm lý của việc tìm kiếm và khám phá những điều
mới, quá trình phản ánh cụ thể và tổng hợp hiện thực khách quan.
Mối quan hệ thống nhất giữa tư duy và ngôn ngữ thể hiện ở chỗ nhờ có
ngôn ngữ mà ngay từ khi mở đầu của quá trình tư duy, con người nhìn nhận
hoàn cảnh có vấn đề, khi đó quá trình tư duy bắt đầu.
Có thể nói rằng: Nghĩa chứa đựng sự thống nhất của tư duy và ngôn ngữ.
“Từ mà không có nghĩa thì không phải là từ mà chỉ là âm thanh trống rỗng”.
Nghĩa của từ là kết quả của thao tác tư duy và có sản phẩm là sự khái quát. Mỗi
từ đều mang ý nghĩa khái quát, nhưng đối với trẻ em thì mỗi từ vẫn chỉ là đại
diện cho một sự cụ thể, riêng rẽ, ý nghĩa của mỗi từ khác với trẻ khác xa ý nghĩa
của từ đó đối với người lớn. Các biểu tượng phản ánh sự vật, hiện tượng một
cách sinh động hơn, rõ ràng hơn các khái niệm. Trẻ em nhận biết sự vật, hiện
tượng trong thế giới xung quanh, tức là trẻ học thêm các từ ngữ chỉ chính sự vật,
hiện tượng, đó cũng là lúc trẻ lĩnh hội cả phương thức tư duy bằng ngôn ngữ
(lĩnh hội ý nghĩa khái quát của từ, phương thức cấu tạo từ,…). Lúc trẻ sử dụng
từ ngữ để biểu đạt những suy nghĩ, tình cảm của mình bằng những từ ngữ cụ thể,
câu đơn giản là lúc trẻ sử dụng sản phẩm của quá trình tư duy.
14
1.1.1.3. Đặc điểm xúc cảm, tình cảm của trẻ
Ở lứa tuổi này, trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè. Đời sống xúc cảm, tình cảm
ổn định hơn so với trẻ 4 – 5 tuổi, mức độ phong phú, phức tạp tăng dần theo các
1.1.1.4. Đặc điểm phát triển trí nhớ
Trí nhớ là một quá trình tâm lí phản ánh những kinh nghiệm đã có của cá
nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo lại sau
đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, xúc cảm, hành động hay
suy nghĩ trước đây.
Có thể nhận xét rằng trí nhớ của trẻ mẫu giáo mang tính trực quan hình
tượng, tính không chủ định nhờ tác động một cách tự nhiên của những ấn tượng
hấp dẫn bên ngoài. Trí nhớ không chủ định đang chiếm ưu thế ở tuổi mẫu giáo
mà biểu hiện rõ nhất là ở trẻ mẫu giáo bé và đi liền với nó là trí nhớ máy móc.
Điều đó có ý nghĩa là trẻ em không đặt ra cho mình một cách có ý thức mục đích
ghi nhớ một điều gì. Trí nhớ không chủ định có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát
triển của trẻ vì nhờ đó trẻ có thể ghi nhớ nhẹ nhàng nhiều ấn tượng đẹp đẽ cũng
như những tài liệu cần thiết cho trẻ sau này.
Vào cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có bước biến đổi về chất: trí nhớ có
chủ định xuất hiện và phát triển mạnh. Đó là loại trí nhớ có mục đích và phải
nhờ đến công cụ tâm lí như ngôn ngữ, sơ đồ, biểu đồ, chữ viết và mọi quy ước.
Có ý kiến cho rằng ở lứa tuổi mẫu giáo, trí nhớ máy móc dường như có ý nghĩa
hơn hẳn trí nhớ. Nhưng các nhà nghiên cứu lại cho rằng trẻ mẫu giáo ghi nhớ tốt
những gì mà trẻ hiểu. P. I. Zinchenco từ 30 công trình nghiên cứu trí nhớ của trẻ
đã đi đến kết luận: “Tài liệu nhớ nếu được hiểu rõ và gắn với mục đích hành
động thì được trẻ em ghi nhớ tốt hơn”. Nhờ tính mục đích của hành động mà vai
trò của trí nhớ được thay đổi trong đời sống tâm lí của trẻ mẫu giáo và trở thành
chức năng chủ yếu với những thao tác bên trong cấu trúc khiến cho hoạt động
nhận thức của trẻ tốt hơn. Trong đó, ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng
dối với sự phát triển trí nhớ có chủ định của trẻ, giúp trẻ nắm được tên và tìm
các phương tiện để hỗ trợ ghi nhớ. Trí nhớ có chủ định là loại trí nhớ rất cần cho
việc học tập ở trường phổ thông sau này.
1.1.2. Đặc điểm tiếp nhận các hoạt động kể chuyện sáng tạo của trẻ
1.1.2.1. Tiếp nhận gián tiếp
Lứa tuổi 5 – 6 tuổi chưa biết đọc chữ nên việc tiếp nhận và cảm thụ các tác
coi đây là thời kỳ phát triển của những cảm xúc thẩm mỹ, những cảm xúc tích
cực, dễ chịu được nảy sinh khi trẻ tiếp xúc với điều hay, điều đẹp tạo nên trạng
thái tinh thần khoan khoái khiến trẻ cảm thấy gắn bó thiết tha với con người và
cảnh vật xung quanh, làm nảy nở ở trẻ lòng mong muốn làm những điều tốt lành
để đem niềm vui đến cho mọi người. Và điều đó chỉ có ở trong các bài thơ, câu
17
chuyện mang “cái đẹp” – cái nhân văn đến cho tâm hồn trẻ. Khi nghe cô giáo kể
một câu chuyện hay một bài thơ trẻ để ý qua ngôn từ cũng như cử chỉ, nét mặt
của cô rồi dần biến đổi thành chính cảm xúc của mình. Trẻ cũng sẽ nhăn mặt khi
nghe kể về những con vật độc ác, ghê sợ, hay trẻ cũng sẽ mỉm cười vui vẻ khi
nghe kể về những nhân vật ngốc nghếch, những chi tiết hài hước gây cười. Và
cũng sẽ có sự trầm tư, suy nghĩ, lo âu hồi hộp khi muốn biết xem tình huống tiếp
theo sẽ xảy ra như thế nào. Trẻ giường như sống trong thế giới huyền bí đó, trẻ
cũng sẽ học tập được những đức tính hay của các nhân vật và bên cạnh dó trẻ
cũng biết cách đánh giá được phẩm chất, tính cách của nhân vật qua những câu
chuyện mà cô kể.
1.1.2.3. Tiếp nhận với trí tưởng tượng phong phú
Nét nổi bật trong tâm lí trẻ em là sự phong phú về trí tưởng tượng. Sức
tưởng tượng của các em dường như vô bờ bến, không biết đến đâu là cùng.
Chúng dùng tưởng tượng để khám phá thế giới và tự thỏa mãn nhu cầu nhận
thức của mình. Trí tưởng tượng là một phần quan trọng của các quá trình tâm lí,
nó góp phần tích cực vào hoạt động tư duy và nhận thức của trẻ. Tưởng tượng
của trẻ được phát triển các hoạt động giáo dục. Qua các hoạt động giáo dục, trẻ
xâu chuỗi được các sự kiện bằng trí tưởng tượng phong phú của mình và tích lũy
được vốn biểu tượng trong từng hoạt động, sau đó trong những thời điểm và
hoàn cảnh cụ thể, trẻ sẽ có những sự liên tưởng cần thiết. Trẻ thơ rất cần có trí
tưởng tượng và vì vậy việc nuôi dưỡng trí tưởng tượng cho trẻ là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mầm non.
khoa học. Điều đó phản ánh quan niệm đơn sơ, ngây thơ của trẻ trong lĩnh hội
thế giới và văn học. Trong cảm thụ văn học trẻ thường vận dụng kinh nghiệm
trực tiếp và nguyên hợp, không phân biệt sự khác nhau giữa chúng. Các em chưa
đòi hỏi lý lẽ mà đòi hỏi hợp lý tình cảm trong khuân khổ hạn hẹp của mình. Khi
giải thích với trẻ cần nhất quán không nên làm xấu đi hình tượng nhân vật của
trẻ đang ưa thích bởi sự tiếp nhận đó mới chỉ mang tính chủ quan.
1.1.3. Vai trò của hoạt động kể sáng tạo trong dạy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
1.1.3.1. Kể chuyện góp phần thoả mãn nhu cầu nghe kể chuyện của trẻ
Từ lúc bập bẹ tập nói, trẻ nhỏ đã rất thích nghe kể chuyện. Những câu
chuyện của bà luôn là niềm hứng khởi đối với các em và nó đã để lại trong lòng
các em những tình cảm tốt đẹp. Khi đến tuổi mẫu giáo, nhu cầu được nghe cũng
19
như được kể chuyện của các em lại tăng lên. Những câu chuyện cổ tích thường
được đưa vào chương trình giáo dục ở các lớp mẫu giáo. Đặc biệt đối với trẻ 5 –
6 tuổi nhu cầu nghe kể chuyện và được kể chuyện ngày càng tăng, đặc biệt là
đối với loại truyện cổ dân gian. Vì những truyện kể dân gian là những câu
chuyện rất gần gũi với trẻ, trẻ em đã được làm quen với chúng từ rất sớm.
Những câu chuyện này giúp trẻ có thể nhận thức thế giới và chúng cũng giúp trẻ
có thể chính xác hoá những biểu tượng đã có về tự nhiên và xã hội. Đồng thời
chúng từng bước cung cấp thêm những khái niệm mới và mở rộng kinh nghiệm
sống cho trẻ. Những câu chuyện ấy còn hình thành cho các em thái độ với cuộc
sống xung quanh.
1.1.3.2. Kể chuyện góp phần rèn kĩ năng tiếng Việt và năng lực cảm thụ văn học
cho trẻ
Cảm thụ văn học là một hoạt động đặc thù trong việc giúp trẻ tiếp nhận văn
học. Cơ sở, nguồn gốc của cảm thụ là sự nhân hóa tự nhiên bên trong của trẻ
thông qua quá trình hoạt động. Cấu trúc của cảm thụ là sự đan xen phức tạp của
các yếu tố: tri giác, lý giải, tưởng tượng, cảm xúc. Cũng có thể hiểu cảm thụ văn