Nghiên cứu các thông số chủ yếu của bê tông đầm lăn trong tính toán kết cấu mặt đường ô tô và sân bay - Pdf 39

Bộ giáo dục và đào tạo
Trường Đại học giao thông vận tải
------------------

nguyN TH THU NG

NGHIấN CU CC THễNG S CH YU
CA Bấ TễNG M LN TRONG TNH TON
KT CU MT NG ễ Tễ V SN BAY

Luận án tiến sĩ kỹ thuật

Hà nội - 2016


Bộ giáo dục và đào tạo
Trường Đại học giao thông vận tải
------------------

NGUYN TH THU NG

NGHIấN CU CC THễNG S CH YU
CA Bấ TễNG M LN TRONG TNH TON
KT CU MT NG ễ Tễ V SN BAY

chuyên ngành : xây dựng đường ô tô và đường thành phố
Mã số
: 62.58.02.05

Luận án tiến sĩ kỹ thuật





1.1. Khái niệm về bê tông đầm lăn



1.1.1. Quá trình hình thành cường độ 



1.1.2. Đặc điểm của BTĐL 



1.1.2.1.Thành phần vật liệu 



1.1.2.2. Phương pháp thiết kế cấp phối 



1.1.2.3. Công nghệ thi công 

10 

1.1.3. Những điểm khác nhau cơ bản giữa BTT và BTĐL 

12 

1.2.2.3. Tiềm năng ứng dụng công nghệ BTĐL 

27 


 


ii 
 
1.3. Các thông số chủ yếu của vật liệu bê tông cho thiết kế mặt đường ô tô và đường
sân bay ở Việt Nam

28 

1.4. Những vấn đề tồn tại luận án cần giải quyết

33 

1.5. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài

34 

1.5.1. Mục tiêu 

34 

1.5.2. Nội dung 

34 


37 

2.1.1.3. Lựa chọn hợp lý cấp phối các cốt liệu 

38 

2.1.1.4. Đánh giá các cấp phối cốt liệu bằng thực nghiệm 

45 

2.1.2. Xi măng 

47 

2.1.3. Phụ gia khoáng 

47 

2.1.3.1. Phân loại và yêu cầu kỹ thuật phụ gia khoáng trong BTĐL 

47 

2.1.3.2. Vai trò của phụ gia khoáng 

50 

2.1.3.3. Cơ sở lựa chọn lượng PGK trong BTĐL 

51 

72 

2.2.2.2. Đánh giá độ tin cậy 

73 

2.3. Kết luận chương 2

78 

CHƯƠNG 3. NGHIÊN CỨU CÁC TÍNH CHẤT CHỦ YẾU

79 

CỦA BÊ TÔNG ĐẦM LĂN

79 

3.1. Tính chất công tác

79 

3.1.1. Yêu cầu về độ công tác trong xây dựng đường 

79 

3.1.2. Đánh giá tổn thất độ công tác 

80 


94 

3.3. Tính chất vật lý

97 

3.3.1. Khối lượng thể tích 

97 

2.3.2. Độ co ngót 

98 

3.3.3. Hệ số giãn nở nhiệt 

106 

Kết luận chương 3

111 
iii 

 


iv 
 
CHƯƠNG 4. ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀO THIẾT KẾ


4.2.2. Đề xuất mô hình kết cấu áo đường BTĐL cho đường giao thông cấp thấp 

117 

4.2.2.1.  Xác định chiều dài cho phép của tấm BTĐL 

117 

4.2.2.2. Phân tích kết cấu mặt đường dùng BTĐL làm lớp mặt cho đường cấp thấp
 

118 

4.2.3. Tính toán kết cấu móng mặt đường cứng  sử dụng BTĐL làm lớp móng 

121 

4.3. Kết luận chương 4

122 

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

123 

1. Kết luận

123 

2. Những đóng góp mới của luận án


VIII 
IX 

PHỤ LỤC B. TRÌNH TỰ CÁC BƯỚC THIẾT KẾ THÀNH PHẦN BTĐL THEO
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP

XVII 

PHỤ LỤC C. BẢNG TÍNH CÁC KẾT CẤU ÁO ĐƯỜNG

XXV 

PHỤ LỤC D. KẾT CẤU MẶT ĐƯỜNG CỨNG VỚI MÓNG BTĐL

XXX 


 


vi 
 
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 
Ký hiệu

Ý nghĩa

BTĐL 


N/CKD 

Tỷ lệ nước và chất kết dính 

CKD 

Chất kết dính 

C/CL 

Tỷ lệ cát và cốt liệu 

XM 

Xi măng 

PGK 

Phụ gia khoáng 

TB 

Tro bay 



Nước 




KLTT 

Khối lượng thể tích 

TKBT 

Thiết kế bê tông 

CTE 

Hệ số giãn nở nhiệt 

MĐĐL 

Mô đun độ lớn 
vi 

 


vii 
 
VC 

Độ công tác 

CSH 

Sản phẩm ettrignit  



Bảng 1.4. Các chỉ tiêu cường độ và mô đun đàn hồi của bê tông làm đường 

31 

theo Tiêu chuẩn 22TCN 223-95 

31 

Bảng 2.1. Tính chất cơ lý của cốt liệu lớn 

36 

Bảng 2.2. Tính chất cơ lý của cốt liệu nhỏ 

37 

Bảng 2.3. Thành phần hạt cốt liệu cát và đá dăm 

40 

Bảng 2.4. Kết quả tính toán chi tiết các cấp phối cốt liệu theo từng mức ngậm cát 

42 

Bảng 2.5. Chỉ số độ thô của các cấp phối 

43 

Bảng 2.6. Bảng thành phần cấp phối BTĐL với mức ngậm cát khác nhau. 


Bảng 2.12. Thành phần bê tông đầm lăn tính cho 1m3 

65 

Bảng 2.13. Cường độ chịu nén trung bình của BTĐL với tỷ lệ N/CKD và TB 

66 

Bảng 2.14. Phương trình tương quan giữa Rn28 của BTĐL và tỷ lệ N/CKD 

67 

Bảng 2.15. Hệ số hồi quy A, B khi thay đổi hàm lượng TB 

69 

Bảng 2.16. Cường độ chịu kéo uốn trung bình với tỷ lệ N/CKD và TB 

69 

Bảng 2.17. Phương trình tương quan giữa Rku28 và tỷ lệ N/CKD 

70 

viii 
 


ix 


86 

Bảng 3.6. Kết quả cường độ chịu nén và cường độ chịu kéo uốn 

88 

Bảng 3.7. Kết quả mô đun đàn hồi tương ứng với cường độ nén 

92 

Bảng 3.8. Kết quả mô đun đàn hồi tương ứng với cường độ nén 

93 

Bảng 3.9. Kết quả thí nghiệm độ mài mòn của bê tông 

96 

Bảng 3.10. Thành phần hỗn hợp BTĐL và BTT 

101 

Bảng 3.11. Độ giãn nở nhiệt CTE với các loại cốt liệu khác nhau 

106 

(theo Jahangirnejad et al – 2009, Neville và Brooks - 1987), [72] 

106 


xxiii 

Hình B.4. Biểu đồ quan hệ giữa cường độ nén và chất kết dính 
 

xxiv 

 

ix 
 



 
DANH MỤC CÁC HÌNH 
Hình 1.1. Sơ đồ thi công mặt đường bằng công nghệ BTĐL 

11 

Hình 1.2. Rải hỗn hợp BTĐL 

11 

Hình 1.3. Lu lèn BTĐL bằng lu rung 

11 

Hình 1.4. Hoàn thiện bề mặt BTĐL bằng lu bánh hơi 


24 

Hình 1.13. Quá trình thay đổi ứng suất do co ngót và phát triển cường độ chịu kéo của bê 
tông theo thời gian 
32 
Hình 2.1. Các cỡ hạt cốt liệu tại các cỡ sàng khác nhau 

41 

Hình 2.2. Cấp phối các cốt liệu theo mức ngậm cát 

42 

Hình 2.3. Chỉ số độ thô của các cấp phối cốt liệu 

44 

Hình 2.4. Mối quan hệ giữa tỷ lệ C/Cl và độ cứng VC 

46 

Hình 2.5. Mối quan hệ giữa tỷ lệ C/Cl và cường độ chịu nén 

46 

Hình 2.6. Toạ độ các điểm thí nghiệm theo không gian 

55 


Hình 2.12. Quan hệ giữa Rn28 với tỷ lệ N/CKD 

67 

Hình 2.13. Quan hệ giữa Rn28 của BTĐL với tỷ lệ CKD/N 

69 

Hình 2.14. Quan hệ giữa Rku28 với tỷ lệ N/CKD 

70 

Hình 2.15. Quan hệ giữa Rku  và Rn 

71 

Hình 2.16. Biểu đồ kiểm soát chất lượng BTĐL có mác M30 

76 

Hình 2.17. Biểu đồ kiểm soát chất lượng BTĐL có mác M35 

76 

Hình 3.1 Độ cứng HHBTĐL theo thời gian (tmt= 200C  30oC) 

81 

Hình 3.2 Sự thay đổi thời gian đông kết của vữa BTĐL 


Hình 3.10. Mối quan hệ giữa cường độ chịu nén và mô đun đàn hồi 

94 

Hình 3.11. Thiết bị thí nghiệm mài mòn 

95 

Hình 3.13. Mẫu thử mài mòn theo TCVN 3114-93 

95 

Hình 3.13. Mối quan hệ giữa cường độ chịu nén và độ mài mòn 

97 

Hình 3.14. Hình ảnh quá trình đúc mẫu và cân đo mẫu sau khi tháo khuôn 

98 

Hình 3.15. Sơ đồ các giai đoạn và các kiểu co ngót của bê tông [16] 

98 

Hình 3.16. Nhiệt lượng tỏa ra theo thời gian 

98 

Hình 3.17. Ứng suất kéo các hạt xi măng xích lại gần nhau do các phân tử nước thoát ra 
ngoài 

BTT và BTĐL 

104 

Hình 3.24. Quan hệ độ co ngót BTĐL - thời gian 

104 

Hình 3.25. Co ngót nội sinh của 

104 

BTĐL và BTT 

104 

Hình 3.26. Co ngót khô của 

104 

BTĐL và BTT 

104 

Hình 3.27. Các thiết bị thí nghiệm dùng để xác định CTE 

107 

Hình 3.28. Sơ đồ xác định độ giãn nở của bê tông do nhiệt 


Hình 4.4. Mô hình kết cấu 3 (KC3) 

119 

Hình 4.5. Biểu đồ ứng suất tính toán của các kết cấu 

120 

Hình 4.6. Lớp móng BTĐL (KC4) 

121 

Hình A.1. Phạm vi cấp phối thành phần hạt theo ASTM C33 

xi 

Hình A.2. Biểu đồ chỉ số độ thô 

xii 

xii 
 



 

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
 


dựng mà ở đó vai trò của BTĐL đã thực sự được khẳng định. Tuy nhiên, việc ứng dụng 
BTĐL trong xây dựng hạ tầng giao thông chưa có nhiều. Trong khi đó hàng loạt các công 
trình đường giao thông qua các vùng thường xuyên chịu lũ lụt, các bãi đỗ xe, sân cảng và 
sân bãi các công trình công nghiệp lớn, đang và sẽ được xây dựng trong tương lai gần. 
 
 



 
Năm 2013, Bộ giao thông vận tải ban hành Thông tư số 12/2013/TT – BGTVT về việc 
“Quy định sử dụng kết cấu mặt đường bê tông xi măng trong đầu tư xây dựng công trình 
giao thông”. Thông tư đã hướng dẫn cụ thể về việc lựa chọn kết cấu mặt đường BT cũng 
như các quy định pháp lý cho công tác thiết kế và thi công cho loại hình mặt đường này. 
Điều này càng khẳng định thêm xu thế sử dụng mặt đường bê tông trong những năm sắp 
tới ở Việt Nam. Trong tình hình kinh tế suy thoái như hiện nay, làm đường bê tông là một 
giải pháp kích cầu mà Đảng và Nhà nước ta khuyến khích. Điều này không chỉ thúc đẩy 
ngành xi măng trong nước phát triển, tạo việc làm cho người lao động mà còn giảm nhập 
siêu do hàng năm  Việt Nam phải  nhập khẩu  hàng trăm tấn nhựa đường, góp  phần hiện 
thực hóa các giải pháp kích cầu của Chính phủ trong giai đoạn hiện nay.  
 

Vì vậy, từ thực tế này cho thấy việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ BTĐL vào 

trong xây dựng giao thông là thực sự cần thiết, góp phần giảm giá thành đầu tư công trình 
mà vẫn đảm bảo tốt chất lượng, mang lại ý nghĩa thiết thực giúp cho công tác xây dựng ở 
nước ta làm chủ được một loại hình công nghệ tiên tiến, đồng thời phát huy các nguồn 
lực sẵn có trong nước.  
2. Mục đích nghiên cứu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN VÀ ỨNG DỤNG TRONG
XÂY DỰNG ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
 

Mục đích của chương này nhằm đánh giá tình hình nghiên cứu, ứng dụng vật liệu 

bê tông đầm lăn trong nước và trên thế giới, từ đó đưa ra định hướng nghiên cứu của luận 
án cho ứng dụng trong xây dựng đường ở Việt Nam. 
1.1. Khái niệm về bê tông đầm lăn
1.1.1. Quá trình hình thành cường độ
Quá  trình  hình  thành  cường  độ  của  BTĐL  cũng  tương  tự  như  BTT,  cơ  bản  dựa 
trên quá trình hình thành cường độ của đá xi măng. Trước khi tạo hỗn hợp bê tông và bắt 
đầu đông kết, hồ xi măng tạo thành sau khi nhào trộn xi măng với nước thành loại huyền 
phù đặc có cấu trúc ngưng tụ. Trong đó những hạt rắn hút nhau bằng lực Vanđecvan và 
liên kết với nhau bằng  lớp vỏ hydrat. Cấu trúc này sẽ bị phá hủy  khi có lực cơ học tác 
dụng (nhào, trộn, rung và đầm) nó trở thành chất lỏng nhớt, dễ tạo hình. Việc chuyển hồ 
sang trạng thái chảy mang đặc trưng xúc biến, khi loại bỏ tác dụng của lực cơ học thì liên 
kết cấu trúc trong hệ lại được phục hồi. Tính chất cơ học của hồ xi măng tăng theo mức 
độ thủy hóa của xi măng. Theo thuyết Baikov – Rebinder, sự hình thành cấu trúc của hồ 
xi măng và cường độ của nó diễn ra theo các giai đoạn như sau: 
 

-  Giai  đoạn  hòa  tan:  khi  nhào  trộn  xi  măng  với  nước,  các  thành  phần  khoáng 

clanhke sẽ tác dụng với nước ngay trên bề mặt của hạt xi măng. Những sản phẩm mới tan 
được như Ca(OH)2, 3CaO.Al2O3.6H2O sẽ hòa tan vào trong nước. Tuy nhiên độ tan của 
chúng  không  lớn  do  lượng  nước  có  hạn  nên  dung  dịch  nhanh  chóng  trở  nên  bão  hòa. 
Những phân tố cấu trúc đầu tiên được hình thành sau khi nhào trộn xi măng với nước là 
etringit, hydroxit canxi và các sợi gen Ca(OH)2 xuất hiện vài giờ sau đó. Những lớp gen 
mỏng tạo thành xen giữa các tinh thể Ca(OH)2 làm đặc chắc thêm hồ xi măng. 

phụ  gia  khoáng  (PGK)  cùng  với  xi  măng  tạo  thành  chất  kết  dính  cho  cốt  liệu  lớn  (bộ 
khung chịu lực chính của kết cấu).  Phụ gia khoáng sẽ góp phần tăng thể tích hồ, bổ sung 
lượng hạt mịn còn thiếu để lấp đầy lỗ rỗng tại các khe giữa các hạt cốt liệu tăng tính dẻo 
cho hỗn hợp, tăng độ đặc chắc cho bê tông, do đó làm tăng khả năng chịu lực và chống 
thấm của bê tông. Ngoài ra, nó còn làm giảm lượng nhiệt tỏa ra từ các sản phẩm của quá 
trình thủy hóa xi  măng, giảm độ co ngót cho bê tông, đây là nguyên nhân chính gây ra 
rạn nứt phá hoại kết cấu bê tông sau này. 
Bên cạnh đó, lực chấn động cũng là yếu tố quan trọng khác góp phần hình thành 
nên cường độ cho BTĐL. Trong giai đoạn đầu, nhờ máy trộn cưỡng bức, các thành phần 
trong hỗn hợp BTĐL có sự phân bố đồng đều không bị phân tầng hay vón cục. Trong giai 
đoạn  thi  công,  với  lu  rung  bánh  thép  gây  ra  một  áp  lực  lớn  lên  hỗn  hợp,  làm  cho  các 
thành phần được xắp xếp chặt chẽ, kết cấu của BTĐL càng đặc chắc hơn. Với hàm lượng 
nước ít chỉ đủ cho quá trình thủy hóa của xi măng, nên hạn chế phần nào lượng nước dư 
thừa bay hơi gây ra lỗ rỗng là  nguyên nhân làm giảm cường độ của bê tông. 
So  với  BTT  thì  cường  độ  của  BTĐL  được  hình  thành  sớm  hơn,  mặc  dù  sự  phát 
triển  cường  độ  của  nó  vẫn  biến  đổi  liên  tục  theo  thời  gian.  Đến  một  giai  đoạn  sự  phát 
 
 



 
triển đó được ổn định, tuy nhiên quá trình hình thành cường độ của nó là một quá trình 
phức tạp, mà ở đó sự biến đổi cơ – lý - hóa xen kẽ nhau và tác dụng tương hỗ bổ sung 
nhau. 
1.1.2. Đặc điểm của BTĐL
1.1.2.1.Thành phần vật liệu
 

Bê tông đầm lăn sử dụng trong xây dựng đường và đập về cơ bản có thành phần 

45 

10  25 

30  60 

Đường kính của cốt liệu lớn (mm) 
Cường độ chịu nén ở 28 ngày tuổi 
(MPa) 
Độ công tác (sec.) 
 

Ngoài ra, cốt liệu dùng cho BTĐL cần phải thỏa mãn tiêu chuẩn về thành phần hạt 

không chỉ cho từng loại cốt liệu mà tất cả hỗn hợp các thành phần. Do cốt liệu chiếm từ 
75% ÷ 85% tổng thể tích của BTĐL nên việc lựa chọn thích hợp loại cốt liệu, thành phần 
hạt sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng làm việc của bê tông. 
 

Mục đích của việc thiết kế cấp phối hợp lý là nhằm đạt được một hỗn hợp chặt với 

độ ổn định cao, độ rỗng nhỏ giữa các thành phần cốt liệu, đảm bảo được chèn lấp bằng 
một lượng chất kết dính thích hợp, để hỗn hợp vật liệu có được những tính chất cần thiết 
cho xây dựng. Hiện nay có rất nhiều PPTK tối ưu thành phần hạt như Fuller – Thomson, 
biểu  đồ  lượng  sót  riêng  biệt  (Percent  Retained  Chart),  đồ  thị  chỉ  số  độ  thô  (Coarseness 
Factor Chart), đồ thị   0.45 Power, ASTM  C33,  ACI 211  và phương  pháp  số. Nội dung 
 
 



toàn thế giới cho hỗn hợp BTĐL. Do vậy, rất khó để xác định phương pháp nào để làm 
chuẩn, tuy nhiên có hai quan điểm thiết kế hỗn hợp BTĐL chính như sau: 
-  Quan  điểm  bê  tông:  dựa  vào  tỷ  lệ  N/CKD  được  giữ  không  đổi  và  hỗn  hợp  trộn 
được xác định bằng khối lượng tuyệt đối. 
- Quan điểm cơ  học  đất: dựa vào  mối quan  hệ giữa chất  kết dính,  cốt liệu và hỗn 
hợp được trộn xác định bởi độ ẩm tối ưu và tỷ trọng khô lớn nhất. 
Dù thiết kế theo bất kỳ phương pháp nào thì mục đích chính của việc thiết kế BTĐL đều 
phải đảm bảo các yếu tố như: 

 
 



 
- Có đủ lượng vữa cần thiết để bao bọc xung quanh các hạt cốt liệu và lấp đầy lỗ 
rỗng giữa chúng. 
- Có thể chế tạo được BTĐL với cường độ và mô đun đàn hồi theo yêu cầu. 
- Khả năng thi công dễ dàng để đạt được độ chặt như yêu cầu và có tuổi thọ công 
trình cao. 

 

Theo quan điểm thiết kế bê tông:
 

- Thành phần BTĐL được lựa chọn dựa trên quan hệ giữa cường độ nén và một số 

tính chất khác với tỷ lệ N/CKD được Abrams thiết lập vào năm 1918. Quan điểm của bê 
tông cho rằng lượng hồ xi măng cần vừa đủ để lấp đầy khoảng trống giữa các hạt cốt liệu 

Phương pháp RCCD (Roller -Compacted Concrete Dams) - Trung Quốc  
 

 

Thiết  kế  thành  phần  tương  tự  như  BTT,  dùng  nguyên  lý  bao  bọc  lấp  kín  và  tính 

toán các thành phần bằng phương trình TTTĐ (trình tự các bước thiết kế xem phụ lục B).  
Việc tính hàm lượng CKD dựa trên công thức: 
R90  ARckd (

CKD
 B)  
N

(1.1) 

trong đó:
R90 là cường độ BTĐL ở tuổi 90 ngày, MPa;  
Rckd là cường độ của CKD ở tuổi 28 ngày, MPa; 
N, CKD lần lượt là lượng dùng nước, chất kết dính bao gồm xi măng và phụ gia 
khoáng, kg/m3;
A, B là hệ số phương trình hồi qui được xác định bằng thí nghiệm.  

 

Sau khi tính toán, đúc mẫu thử trong phòng thí nghiệm, điều chỉnh các thông số để 
BTĐL có được những tính chất kỹ thuật yêu cầu và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. 
Nhận xét:
 



 
 

-  Dựa  trên  nguyên  lý  này,  khối  lượng  thể  tích  khô  của  hỗn  hợp  BTĐL  được  sử 

dụng như một chỉ số để thiết kế thành phần BTĐL theo quan điểm cơ học đất. KLTT khô 
độc lập với hàm lượng nước và được tính toán từ KLTT ướt theo công thức: 
d = w / (1+ 0,01w) 

(1.2) 

trong đó:     
 

d là khối lượng thể tích khô, kg/m3; 

 

W là khối lượng thể tích ướt, kg/m3; 

 

w là độ ẩm, %. 
- Có hai cách thức làm là thí nghiệm với Proctor tiêu chuẩn theo ASTM D698 và 

Proctor cải tiến theo ASTM D1557. Hai phương pháp này khác nhau ở trọng lượng quả 
đầm, chiều rơi tức là công đầm thay đổi. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, thí nghiệm Proctor cải 
tiến phù hợp với BTĐL do cốt liệu tự nhiên và khả năng để có độ chặt cao như ngoài hiện 



10 
 
 

- Thí nghiệm đầm nén dùng Proctor cải tiến là biện pháp có hiệu quả cho việc lựa 

chọn  hàm  lượng  nước  để  vừa  đảm  bảo  tính  công  tác  cũng  như  các  tính  chất  khác  cho 
BTĐL ngoài hiện trường. Trong lý thuyết đầm nén đất đá, nước ở trong vật liệu hỗn hợp 
dạng  hạt  sẽ  có  tác  dụng  bôi  trơn  và  dưới  tác  dụng  của  lực  đầm,  thì  đất  đá  sẽ  đạt  được 
dung trọng khô cao. Tuy nhiên, từ quan điểm lý luận bê tông để xét, nước nhiều hay ít 
ảnh hưởng của nó là rất lớn, lượng nước cần thiết cho vào để đạt đến tỷ trọng khô cao có 
thể sẽ vượt quá lượng dùng nước cần thiết để đầm chặt bê tông, như thế đối với tính năng 
cứng hóa của BTĐL thì khả năng không đảm bảo. Cho nên, tỷ trọng khô, lượng nước tối 
ưu và công đầm cần có sự lựa chọn hợp lý mới có thể  đảm bảo đầm chặt, đồng thời làm 
cho tính năng cứng hóa của BTĐL thỏa mãn các yêu cầu.  
Mặc dù các phương pháp trên đều có những tính ưu điểm của mình, nhưng dù lựa 
chọn theo cách thức nào thì hỗn hợp BTĐL cũng phải đảm bảo về cường độ yêu cầu và 
tính công tác của nó. Vì vậy, chìa khóa để thiết kế, thi công và áp dụng hiệu quả khi dùng 
BTĐL là phải có quá trình ứng dụng thử nghiệm trong phòng và ngoài hiện trường để có 
đánh giá, điều chỉnh cụ thể cho phù hợp với điều kiện kinh tế - kỹ thuật, môi trường và 
tiêu chuẩn thiết kế ở Việt Nam. 
1.1.2.3. Công nghệ thi công
- Hệ thống trộn: thiết bị trộn bê tông nên dùng loại hoạt động theo nguyên lý trộn 
cưỡng  bức.  Công  suất  của  thiết  bị  trộn  phải  đáp  ứng  được  năng  suất  của  thiết  bị  rải 
(thường 60m3/h trở lên). Khoảng cách từ nơi trộn tới hiện trường không quá 30 phút xe 
chạy.  
- Vận chuyển hỗn hợp bê tông: do hỗn hợp BTĐL khô, không bị phân tầng khi vận 
chuyển, nên thường dùng xe tải tự đổ để vận chuyển. Thông thường sử dụng các xe có tải 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status