TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------------
VŨ THỊ THANH ÁNH
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
TỈNH HÀ NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐẦU TƯ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
HÀ NỘI - 2013
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trong nội dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Đảng và Nhà
nước ta đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại, tập trung phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo
hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh. Mục tiêu đến năm 2020 tỷ trọng
các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 85% trong GDP. Giá trị sản phẩm
công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP.
Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công
nghiệp. Với quan điểm phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền
vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược phát triển. Vì vậy, tiến hành đầu tư phát
triển ngành công nghiệp rất quan trọng không những góp phần làm gia tăng giá trị sản
lượng của bản thân ngành mà còn thúc đẩy các ngành khác phát triển.
Hà Nam với lợi thế về tài nguyên, con người, là cửa ngõ của thủ đô, mạng lưới
giao thông thuận lợi, từ đó góp phần thúc đẩy chung cho sự phát triển ngành công nghiệp
của tỉnh. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, kinh tế
phát triển chưa bền vững. Trong đó, công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động sử
công nghiệp là khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của ngành công nghiệp trong
nền kinh tế.
Trên cơ sở những nội dung khái quát về ngành công nghiệp, chương cũng sẽ đề
cập đến đặc điểm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển
công nghiệp.
* Đầu tư phát triển công nghiệp là một trong những hoạt động đầu tư phát triển
khi xét trên quan điểm phân công lao động xã hội chính là đầu tư theo ngành. Vì thế, đầu
tư phát triển công nghiệp mang đầy đủ nội dung và tính chất của hoạt động đầu tư phát
triển. Thực chất của đầu tư phát triển công nghiệp là khoản đầu tư phát triển để tái sản
xuất mở rộng ngành công nghiệp nhằm góp phần tăng cường cơ sở vật chất và phát triển
công nghiệp, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
* Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp: Hoạt động đầu tư phát
triển công nghiệp có đầy đủ các đặc điểm của đầu tư phát triển nói chung. Nhưng do đặc
trưng của ngành công nghiệp, nên đầu tư phát triển công nghiệp có những đặc điểm nổi
bật sau:
- Quy mô vốn lớn, vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn.
- Quá trình thực hiện đầu tư kéo dài, thời gian thu hồi vốn chậm.
- Các tài sản cố định trong công nghiệp hao mòn vô hình ngày càng lớn.
* Nội dung của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp:
- Đầu tư phát triển công nghiệp theo hình thức tổ chức công nghiệp: Đầu tư phát
triển các khu công nghiệp, đầu tư phát triển các cụm công nghiệp và làng nghề.
- Đầu tư phát triển công nghiệp theo nội dung gồm: Đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng kỹ thuật và xây lắp, mua sắm máy móc trong ngành công nghiệp; Đầu tư nghiên cứu
và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ (R&D); Đầu tư phát triển nguồn nhân
lực; Đầu tư cho hoạt động khác như đầu tư cho công tác khuyến công, đầu tư cho hoạt
động xúc tiến đầu tư, quảng cáo, xây dựng thương hiệu…
- Đầu tư phát triển công nghiệp theo nhóm ngành:
Đầu tư phát triển công nghiệp theo nhóm ngành công nghiệp là hoạt động đầu tư
+ Tài sản cố định huy động: qua tính toán cho thấy cùng với sự gia tăng của
TSCĐ huy động của tỉnh có sự đóng góp rất lớn của ngành công nghiệp. Trong giai đoạn
này giá trị TSCĐ huy động của ngành công nghiệp chiếm đến 64,6% giá trị huy động
TSCĐ toàn tỉnh. Năm 2007 TSCĐ huy động của ngành công nghiệp là 953,6 tỷ đồng.
Đến năm 2012 TSCĐ huy động của ngành công nghiệp là 1.813,5 tỷ đồng tăng gấp 1,9
lần năm 2007, trong đó công nghiệp khai thác là 105 tỷ đồng chiếm 5,8% và tăng gấp 5
lần năm 2007; công nghiệp chế biến là 1.705,3 tỷ đồng chiếm 94% và gấp 1,83 lần năm
2007; công nghiệp điện nước là 3,2 tỷ đồng chiếm 0,2% và gấp 3,2 lần năm 2007.
+ Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm: năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là
khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất phục vụ của các TSCĐ đã được huy động vào sử
dụng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ. Vốn đầu tư phát triển
công nghiệp Hà Nam không ngừng tăng nhanh qua các năm, cùng với TSCĐ huy động
cũng tăng nhanh kết quả là năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm của ngành công nghiệp
Hà Nam cũng tăng. Nhiều mặt hàng công nghiệp quan trọng, có giá trị sản xuất cao đã
không ngừng được cải thiện về chất lượng mà còn được nâng cao công suất sản xuất.
+ Nguồn nhân lực tỉnh ngày càng được nâng cao: giai đoạn 2007 – 2012 tỉnh đã
dành một nguồn vốn đáng kể để tiến hành đầu tư phát triển nguồn nhân lực, kết quả mang
lại cho tỉnh đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện hơn so với thời
kỳ trước rất nhiều.
- Hiệu quả hoạt động ĐTPT công nghiệp.
+ Hiệu quả kinh tế:
Mức tăng giá trị sản xuất so với vốn đầu tư thực hiện trong k ỳ.
Mức tăng tổng sản phẩm so với vốn đầu tư thực hiện trong kỳ.
Mức tăng tổng sản phẩm so với TSCĐ huy động trong kỳ.
Hệ số huy động TSCĐ
Tỷ suất vốn đầu tư cho một đơn vị tổng sản phẩm gia tăng - Hệ số ICOR.
Như vậy, có thể đánh giá chung là hiệu quả kinh tế của hoạt động đầu tư phát
triển công nghiệp ở tỉnh Hà Nam là chỉ đạt mức trung bình và hiệu quả không ổn định,
động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng xung quanh.
- Những tồn tại, hạn chế:
Một là, huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp chưa đáp ứng được yêu
cầu về quy mô cũng như cơ cấu.
Hai là, mất cân đối trong việc đầu tư theo cơ cấu nội bộ ngành.
Ba là, công tác xúc tiến đầu tư vào công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam, nhất là
đầu tư vào các KCN chưa tích cực chủ động.
Bốn là, nguồn nhân lực dồi dào, nhưng phần lớn chưa qua đào tạo và chưa đáp
ứng được yêu cầu của sự phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Năm là, về cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp.
Sáu là, về hoạt động đầu tư cho khoa học công nghệ phục vụ công nghiệp còn
nhiều hạn chế.
Bảy là, hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp chưa thực sự gắn với bảo vệ môi
trường, phát triển bền vững, thân thiện với môi trường.
Tám là, công tác quy hoạch CN - TTCN còn nhiều bất cập.
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP TỈNH HÀ NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
Dựa trên các kết quả nghiên cứu về thực trạng tình hình đầu tư phát triển và quan điểm,
định hướng mục tiêu phát triển của ngành công nghiệp tỉnh, tác giả đã đưa ra các giải pháp
nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời
tới:
* Giải pháp về huy động vốn đầu tư:
Công tác thu hút đầu tư từ nhiều nguồn vốn khác nhau, muốn vậy cần phải thực
hiện các giải pháp sau:
Trước hết vận dụng linh hoạt nhất các cơ chế, chính sách huy động vốn của mọi
thành phần vào đầu tư, đặc biệt là thu hút đầu tư hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công
nghiệp phục vụ cho phát triển công nghiệp.
Áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng thông qua sự can thiệp của Nhà
nước vào thị trường bằng công cụ lãi suất và tín dụng.
tạo bằng cách mời các chuyên gia có kinh nghiệm và trình độ hay liên kết với các cơ sở
đào tạo để mở các lớp đào tạo ngắn hạn để đào tạo cho nguồn lao động đã thu hút của
doanh nghiệp mình.
* Giải pháp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đáp ứng đất đai xây dựng của
các cơ sở sản xuất công nghiệp.
- Về hạ tầng KCN, CCN: khắc phục được một phần tình trạng yếu kém về hạ
tầng KCN, CCN trong đó tập trung giải quyết theo những hướng sau:
Giải phóng mặt bằng sẵn cho từ 30 – 50% diện tích đất quy hoạch cho KCN,
CCN để sẵn sàng giao cho dự án.
Nhanh chóng đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng cơ sở cho phần diện tích đã
được giải phóng mặt bằng.
Xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN, CCN trong đó
có các hạng mục quan trọng nhất là: đường giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, hệ
thống cây xanh, nhà ở và dịch vụ công cộng cho người lao động.
Khuyến khích địa phương xây dựng hạ tầng cụm làng nghề bằng các nguồn nội
lực với sự hỗ trợ thêm của Nhà nước.
- Về hạ tầng kỹ thuật xã hội:
Đầu tư xây dựng đảo giao thông nút giao đầu cầu Hồng Phú (km 118 + 350 –
QL21) địa phận phường Lê Hồng Phong – thành phố Phủ Lý.
Hoàn thành xây dựng đường giao thông nông thôn và kiên cố hoá kênh mương
với sự hỗ trợ xi măng xây dựng theo chỉ đạo của UBND tỉnh.
Quy hoạch vị trí đầu nối các cửa hàng xăng dầu vào hệ thống đường quốc lộ,
tỉnh lộ, huyện lộ địa bàn tỉnh Hà Nam.
Tiến hành triển khai đầu tư xây dựng tuyến đường liên tỉnh nối Hà Nam – Nam
Định – Ninh Bình thành tuyến đường quốc lộ.
Hoàn thành xây dựng tuyến đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; nâng cấp tuyến
lộ 1A, 21A, 21B, 38; xây tuyến đường và cầu vượt sông Hồng nối cao tốc Bắc Nam với
cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; phấn đấu đến năm 2020 đưa ga Phủ Lý thành ga trung
nguồn vốn, tăng cường đổi mới thiết bị công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật trong sản xuất nhằm giảm nhẹ nặng nhọc cho người lao động và nâng cao năng suất
chất lượng cho sản phẩm.
- Quy hoạch phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp:
Xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, CCN giai đoạn 2011 – 2015 tầm nhìn
đến năm 2020 phải dựa theo hướng sau:
Tập trung các doanh nghiệp công nghiệp vào các KCN, CCN tránh dàn trải gây
khó khăn trong quản lý cũng như không thuận lợi trong sản xuất kinh doanh.
Phải đảm bảo vệ sinh môi trường và đảm bảo xử lý ô nhiễm do việc bố trí các
trung tâm công nghiệp tách khỏi khu vực dân cư.
Phải đảm bảo tính hiệu quả trong phát triển công nghiệp do tận dụng được hạ tầng
cơ sở và các tiện ích dịch vụ công cộng, giảm chi phí xây dựng ban đầu, đưa nhanh các
công trình đầu tư vào hoạt động.
Thuận lợi cho việc tập trung các loại hình công nghiệp. Các ngành công nghiệp
sạch tập trung về một chỗ, các ngành công nghiệp gây ô nhiễm được quy về một chỗ để
đảm bảo vệ sinh môi trường và thuận lợi trong sản xuất.
Phải nhằm thu hút được nhiều nguồn vốn từ các nhà đầu tư để phát triển sản xuất,
tăng giá trị hàng công nghiệp, phát triển có hiệu quả và bền vững, góp phần tăng trưởng
nền kinh tế đất nước.
Phải tạo động lực cho quá trình tiếp nhận và ứng dụng có hiệu quả những công
nghệ hiện đại vào sản xuất.
Quy hoạch phải nhằm tạo động lực cho quá trình cơ cấu lại kinh tế của tỉnh theo
hướng CNH, HĐH.
Phải tạo tiền đề đẩy mạnh quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá nông thôn. Sử
dụng lao động tại chỗ và giảm áp lực đối với khu vực nội thành đang ngày càng gia tăng.
Tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, nhất là khu vực nông thôn.
KCN, CCN phải thuận lợi về giao thông, vận tải, hạ tầng kỹ thuật ( cung cấp điện,
cấp và thoát nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ khác…) đảm bảo các doanh
Ngoài các giải pháp chính ở trên, tỉnh cũng nên chú trọng quan tâm đến các giải
pháp khác như: giải pháp để cải thiện môi trường đầu tư, cải thiện thủ tục hành chính;
giải pháp liên quan đến hoạt động khuyến công và xúc tiến đầu tư; các giải pháp nhằm
phát triển các khu, cụm công nghiệp, TTCN và các làng nghề để hoạt động đầu tư phát
triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam ngày càng phát triển một cách ổn định và bền
vững hơn trong tương lai.