Báo cáo kết quả khảo sát khu hệ chim vườn quốc gia u minh thượng - Pdf 39

DỰ ÁN BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN KIÊN GIANG

BÁO CÁO KẾT QUẢ KHẢO SÁT KHU HỆ CHIM
VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG

ThS. Trần Văn Thắng
Tháng 7- 2013


MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình

Lời cám ơn.................................................................................................................. 3
1. Giới thiệu ............................................................................................................. 5
2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu ....................................................................... 5
3. Mô tả khu vực và các sinh cảnh nghiên cứu ........................................................ 6
3.1. Rừng tràm ............................................................................................................................. 6
3.2. Trảng Sậy.............................................................................................................................. 7
3.3. Trảng trống ........................................................................................................................... 8

4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 8
4.1. Phương pháp chung .............................................................................................................. 8
4.2. Đếm số loài theo thời gian .................................................................................................... 9
4.3. Đếm điểm ............................................................................................................................. 9
4.4. Những nghiên cứu dành cho đối tượng chuyên biệt ............................................................. 9
4.5. Thời gian thực hiện ............................................................................................................. 10
4.6. Những người tham gia thực hiện ........................................................................................ 10

NT - Gần bị đe dọa (Near-Threatened)
HST - Hệ sinh thái
EN - Nguy cấp (Endangered)
VU - Sắp nguy cấp (Vulnerable)
UBND tỉnh - Ủy Ban Nhân Dân tỉnh
VQG - Vườn Quốc gia
VQGUMT - Vườn Quốc Gia U Minh Thượng

4


1. Giới thiệu
Báo cáo này trình bày kết quả khảo sát khu hệ chim ở Vườn Quốc gia U
Minh Thượng. Báo cáo này do dự án GIZ khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang thực
hiện.
2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Vườn Quốc Gia U Minh Thượng (VQGUMT) thuộc khu dự trữ sinh quyển
Kiên Giang có diện tích 21,107 ha gồm vùng lõi 8,038 ha, vùng đệm 13,069 ha.
Khu vực này là một trong những vùng đất ngập nước quan trọng nhất ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long. Ở Việt Nam, trong hệ sinh thái (HST) rừng tràm ngập phèn
chỉ còn duy nhất hệ thực vật rừng của VQGUMT có những đặc điểm của rừng cực
đỉnh nguyên sinh, đó là các ưu hợp của rừng hỗn giao và rừng tràm trên đất than
bùn với diện tích trên 3.000 ha. HST rừng tràm trên đất than bùn trở thành một
HST có tầm quan trọng đặc biệt, là nơi nuôi dưỡng, trú ngụ của nhiều loài động vật
hoang dã, quý hiếm, đặc trưng và nguy cấp.
VQGUMT là nơi rất đa dạng về các thảm thực vật tự nhiên và bán tự nhiên.
Dạng thảm thực vật tự nhiên chủ yếu Tràm và các quần xã thực vật phát triển trên
đất than bùn và trên đất khoáng. Ở các khu vực đã bị cháy hết lớp than bùn sau trận
cháy rừng năm 2002 và những lần trước đây đã hình thành HST ngập nước tự
nhiên quanh năm được che phủ bởi các loài thực vật ưu thế như Sậy Phragmites

Ba sinh cảnh chính của vùng lõi VQG được tập trung khảo sát là rừng Tràm,
trảng Sậy và trảng Trống để có được một danh sách hoàn chỉnh về số loài chim, sự
hiện diện của chúng trên mỗi sinh cảnh và các quần thể chim nước trú đêm, sinh
sản tại sân chim trong VQG. Theo Lê Phát Quới (2009), diện tích trảng Năng hiện
nay ở VQGUMT là không đáng kể nên không được đề cập trong đợt khảo sát này.
3.1. Rừng tràm
 Rừng tràm trên đất than bùn
Đây là khu rừng Tràm còn lại sau trận cháy năm 2002 với diện tích 1,595.04
ha. Hầu hết Tràm có mật độ trung bình và có độ tàn che khoảng 70%. Đường kính
ngang ngực (D1.3) trung bình 18 cm. Chiều cao trung bình (Hvn) 17 m. Rừng tràm
trên than bùn là loại thảm thực vật đặc thù của vùng ngập nước than bùn U Minh.
Tràm (Melaleuca cajuputi) là cây chiếm ưu thế. Một vài loại cây khác cũng xuất
hiện nhưng kém phong phú hơn như là Mốp (Alstonia spathulata), Bùi (Ilex
cymosa), Dấu dầu ba lá (Euodia lepta), và Trâm (Syzygium cumini). Loại rừng này
được đặc trưng bởi sự phong phú của dớn. Có hai loài dớn thông dụng nhất: Dây
choại (Stenochlaena palustris) và Dớn (Nephrolepis falcata).

Hình 01: HST rừng tràm không bị cháy năm 2002
6


Tại sinh cảnh này cây Tràm bị đổ ngả nhiều do ảnh hưởng của hoạt động giữ
nước để phòng cháy chữa cháy rừng kéo dài trong nhiều năm (2004-2009).
 Rừng tràm tái sinh trên đất than bùn
Rừng tràm tái sinh trên đất than bùn sau trận cháy rừng năm 2002 có diện
tích 2.248,4 ha. Tràm có mật độ tương đối dày, trung bình 22.000 cây/ha. Đường
kính ngang ngực (D1.3) trung bình 6,5 cm. Chiều cao trung bình (Hvn) 7 m. Tại
những khu vực than bùn còn mỏng, tràm có chiều cao thấp hơn (3,5 - 4m), tán phát
triển. Dưới tán rừng tràm tái sinh, các loài thảm tươi đang phát triển.


loại trảng trống nói trên thì trảng trống che phủ bởi Bèo cái chiếm diện tích lớn
nhất do tính chất phát tán bằng khả năng trôi nổi và phát triển nhanh của loài này.
Bèo cái phát triển thành các mảng dày đặc nổi trên mặt nước bao phủ hầu như
100% diện tích bề mặt nước tại các khu vực trống có Tràm hay Sậy đan xen.

Hình 03 : Sinh cảnh trảng Trống
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp chung
Hai phương pháp thực địa được áp dụng, do tính chất đơn giản và phù hợp với điều
kiện hiện trường là phương pháp Đếm số loài theo thời gian (Timed Species-Counts) và
phương pháp Đếm điểm (Point Counts). Một số quan sát khác cũng đã được áp dụng để
đếm chim nước tại nơi trú đêm, sinh sản.
Trong mỗi sinh cảnh khảo sát, một số địa điểm ô mẫu nhất định được lựa chọn. Khi
điều kiện cho phép, các địa điểm này được đặt sao cho mang tính đại diện nhất cho sinh
cảnh khảo sát. Tuy nhiên điều này không phải luôn thực hiện được do những hạn chế trên
thực địa. Mỗi sinh cảnh được khảo sát được thực hiện hoàn tất trong khoảng thời gian
nhất định. Quan sát chim trên mỗi sinh cảnh được thực hiện trong khoảng thời gian từ
8


0600-1000 sáng và 1300-1830 chiều. Các điểm khảo sát trong đợt khảo sát này được thực
hiện tại những điểm khảo sát đã được thực hiện trong năm 2011.
Tài liệu định danh dựa trên sách hướng dẫn định loại chim Đông Nam Á “A Field
Guide to The Birds of South-East Asia”, Craig Robson (2011) và sách “Giới thiệu một số
loài Chim Việt Nam”, Lê Mạnh Hùng (2012).
4.2. Đếm số loài theo thời gian
Phương pháp Đếm số loài theo thời gian Timed Species-counts (TSC) được áp dụng
cho các dạng sinh cảnh mở và cây bụi (Pomeroy & Tengecho 1986). Để thực hiện khảo
sát trong một ô mẫu, người đếm di chuyển chậm trong khu vực ô mẫu trong khoảng thời
gian đúng 60 phút để ghi nhận tất cả các loài chim. Trong mười phút đầu, ghi nhận một

trung tâm vùng lõi VQG. Nhóm Hạc, chủ yếu là loài Già đẫy Java Leptoptilos javanicus
được đếm khi có hoạt động bay lượn nhờ làn không khí nóng bắt đầu từ giữa trưa (trong
khoảng thời gian từ 1000-1200). Số cá thể quan sát thấy được trong cùng một thời điểm
đếm được coi như là số cá thể hiện diện của quần thể.
Đếm chim nước tại nơi trú đêm: Nơi trú đêm của các loài chim nước được trực tiếp
3 lần tại sân chim. Hoạt động đếm thực hiện trong khoảng thời gian từ 1600-1830 giờ là
thời điểm chim nước quay về sân chim trú đêm sau một ngày kiếm ăn ở nơi khác. Để ghi
nhận quần thể các loài chim nước tại các sân chim chúng tôi tiến hành khảo sát vị trí các
sân chim. Tiếp theo là lựa chọn địa điểm đếm làm sao tại vị chí đếm ghi nhận được nhiều
nhất các loài chim nước bay về sân chim. Do hạn chế về nhân lực nên trong đợt khảo sát
này chỉ tiến hành đếm các loài chim nước bay về sân chim từ 2 hướng bay chính tại tháp
quan sát chim tạm cao 10 m dành cho khách tham quan. Các cá thể được định danh đến
mức loài và tổng số cá thể chim được ghi nhận lại. Việc định danh các cá thể chim loài
Cò Ngàng lớn Ardea alba và Cò ngàng nhỏ Egretta intermedia được ghi chung là một
nhóm. Số liệu cao nhất trong các ngày đếm được ghi nhận là số lượng quần thể các loài
chim nước tại sân chim.
Để ghi nhận được tầm quan trọng của VQGUMT trong bảo tồn các loài chim nước,
số liệu đếm chim nước tại nơi trú đêm, sinh sản được so sánh với số liệu tương ứng của
những vùng khác trong vùng châu thổ sông Cửu Long, số liệu đếm cao nhất của các ngày
sẽ được so sánh với số liệu ghi nhận tối đa do BirdLife thực hiện (Buckton et al, 2000).
4.5. Thời gian thực hiện
Thời gian thực hiện khảo sát này bắt đầu từ tháng 22/5 đến ngày 22/7/2013.
Trong đó;
- Khảo sát ngoài hiện trường: từ ngày 27/5 đến ngày 14/6/2013.
-

Nội nghiệp: từ ngày 15/6 đến ngày 22/7/2013.

4.6. Những người tham gia thực hiện
1. ThS. Trần Văn Thắng, Vườn Quốc gia U Minh Thượng

coromandelianus, (Hình 05). Năm loài chim gồm: Cốc Ấn Độ Phalacrocorax fuscicollis,
Nhát hoa Rostratula benghalensis, Rẽ giun Gallinago gallinago, Cu ngói Streptopelia
tranquebarica, do Safford ghi nhận năm 1996 - 1997 và loài Sáo sậu đầu trắng Sturnus
burmannicus do Buckton et al ghi nhận năm 1999 cũng được ghi nhận trong đợt khảo sát
này mà không được ghi nhận trong các đợt khảo sát và giám sát khu hệ chim trước đây.
Tuy nhiên, loài Cốc đế Phalacrocorax carbo được ghi nhận trong đợt khảo sát năm 2011
nhưng không được ghi nhận trong đợt khảo sát này.

Hình 05: Le khoang cổ Nettapus coromandelianus
Trong ba dạng sinh cảnh khảo sát theo phương pháp hệ thống, trảng Trống có độ
phong phú về thành phần loài chim cao nhất, tiếp theo là trảng Sậy, trong khi rừng Tràm
có độ phong phú chim thấp nhất (Bảng 01 và Hình 02).
12


Bảng 01: Thành phần loài tại các dạng sinh cảnh
Sinh cảnh

rừng
Tràm

trảng Sậy
(loài)

(loài)

Thành phần loài

Sân



4

16

0

1

8

8

17

5

9

Số loài bị đe dọa trên toàn cầu

Số loài chim chỉ tìm thấy phân bố trong rừng Tràm là cao hơn hẳn so với những
loài chỉ tìm thấy phân bố trên các sinh cảnh khác. Rừng Tràm có độ phong phú thành
phần loài thấp nhất trong khi số loài chuyên biệt cao nhất có lẽ được quy định do thành
phần của thảm thực vật nơi đây. Trảng Sậy và sân chim không sử dụng cùng phương
pháp khảo sát nên không thể áp dụng so sánh trực tiếp. Chi tiết xem danh sách các loài
chim ghi nhận tại các sinh cảnh. (Phụ lục 2, Phụ lục 3, Phụ lục 4, Phụ lục 5 và Phụ lục 6).
Trong tổng số 159 loài chim được ghi nhận trong suốt quá trình điều tra, 121 loài
được ghi nhận tại sinh cảnh trảng Trống, chiếm 75.47%. Những loài chim được ghi nhận
ở trảng Trống, có 72 loài “chim nước” theo cách phân loại của Công ước Ramsar, tuy


1999-2003

2011

2013

1999-2003

2011

2013

1999-2003

2011

2013

1999-2003

2011

2013

Số loài
thực sự
ghi nhận

62

ghi nhận
tại sinh
cảnh này

24

22

21

6

5

5

6

12

16

2

0

0

6



bacchus, Cò bợ Java Ardeola speciosa, Cò ruồi Bubulcus ibis, Cò ngàng lớn Ardea alba,
Cò ngàng nhỏ Mesophoyx intermedia, Cò trắng Egretta garzetta, Vạc Nycticorax
nycticorax, Cò hương Dupetor flavicollis, Cò lạo Ấn Độ Mycteria leucocephala, Cò nhạn
Anastomus oscitans, Quắm đen Plegadis falcinellus và Cò quắm đầu đen Threskiornis
melanocephalus. Thực chất sân chim kênh 13 là một phức hợp bao gồm nhiều địa điểm
chim trú đêm và sinh sản khác nhau nằm rải rác theo các khu Tràm.
Vào thời điểm cuối tháng Năm, chúng tôi quan sát thấy trong các loài kể trên có ít
nhất 14 loài có hoạt động sinh sản tại sân chim (trừ Quắm đầu đen Threskiornis
melanocephalus và Cò lạo Ấn Độ Mycteria leucocephala). Tổng hợp kết quả của những
lần khảo sát trước đây cùng với đợt khảo sát này cho thấy tháng Tư - Năm là thời điểm
các quần thể chim trong các sân đạt mức đỉnh. Các loài chim nước tập chung tại sân chim
bắt đầu cho một mùa sinh sản mới. Số lượng chim nước đếm được tại sân chim là 19,164
cá thể, con số này còn thấp hơn nhiều so với con số thực do chỉ dựa trên kết quả đếm khi
thấy chim bắt đầu tập trung bay về sân chim, còn số lượng cá thể chim nước hiện có tại
sân chim là không đếm được. Mật độ quần thể của các loài chim nước trong sân chim cao
nhất là Cốc đen Phalacrocorax niger (6,861 cá thể, chiếm 34.12%), tiếp theo là Cò trắng
Egretta garzetta (5,946 cá thể, chiếm 29.57%) và thấp nhất là Cò quắm đầu đen (12 cá
thể, chiếm 0.06 %). (Bảng 03, Hình 07).
Bảng 03: Quần thể chim nước tại sân chim

5,946

38

2,674

28/5/2013

71


73

116

184

1,612

3,215

45

3,419

Quần thể
đỉnh

85

318

6,861

313

73

116


Cò ngàng lớn/Cò ngàng nhỏ

34

Cò lạo Ấn độ

Cò ruồi

269

Vạc

Diệc lửa

6,861

Cò hương

Cốc đen

282

Cò bợ/cò bợ Java

Cổ rắn

85

Ngày
Tháng

8

16,099

488

436

12

20,109


Hình 07: Thành phần các loài chim chính tại Sân chim
So sánh số lượng chim nước tại sân chim trong VQG với kết quả đếm trước đây,
vào thời điểm tháng Năm năm 2013 số lượng chim nước chỉ thấp hơn năm 2004 và cao
hơn cùng thời điểm năm 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2009 và 2011. Đặc biệt, số lượng
chim nước tại sân chim đếm được trong đợt khảo sát này cao hơn số liệu chim nước đếm
được năm 2009 là 4,768 cá thể, tương đương 33.12% và cao hơn năm 2011 là 1,570 cá
thể, tương đương 8.92%. (Bảng 04, Hình 08).
Bảng 04: Quần thể chim nước tại sân chim ghi nhận qua các năm

16


Diệc xám

Cò bợ/Cò bợ Java

Cò ruồi


2

5,094

1,215

37

12

21

469

1,355

1,193

38

47

-

23

586

17


5-02

196

27

4

15

193

68

458

42

49

-

31

16

32

1,131


5-00

Thời điểm

5-01

4

Tổng

Diệc lửa

3

2

Vạc

Cốc đen

4

5-99

Cổ rắn

32

Cốc đế


472

32

23,402

5-09

127

1,342

374

168

742

665

1,124

5,852

327

2,959

12


2,631

37

512

259

21

17,594

5-13

85

318

6,861

313

73

116

385

1,612

cấp đánh giá “VU”, 7 loài thuộc cấp đánh giá “NT”. Bảy loài nằm trong Sách đỏ Việt
Nam (2007), 6 loài ở mức “Vu”, 01 loài ở mức “En”. Mười một loài nằm trong phụ lục
CITES-IIB. Năm loài có số lượng cá thể trong quần thể vượt quá ngưỡng 1% so với quần
thể của chúng trong vùng Đông Nam Á và trên Thế giới. Quần thể vùng Đông Nam Á và
thế giới dựa trên con số ước tính của Wetlands International (2000).
Bảng 05: Những loài chim quan trọng trong bảo tồn
Tình trạng bảo tồn
Stt

Tên khoa học

Tên Việt Nam

Tên tiếng Anh

Ước lượng
quần thể
khu vực

Quẩn
thể
đỉnh
tại
VQG
UMT
(2013)

Danh
lục
IUCN


Cò lạo Ấn độ

Painted Stork

Cò nhạn

Asian Openbill

Già đẫy Java

Lesser Adjutant

VU

4

Threskiornis
melanocephalus

Quắm đầu đen

Black-headed Ibis

NT

5

Plegadis
falcinellus


Purple Heron

10.000100.000

313

0.313.13

8

Ardea alba

Cò ngàng lớn

Great Egret

25,000

537

2.10

9

Egretta intermedia

Cò ngàng nhỏ

Intermediate Egret


Oriental Darter

1
2
3

10
11
12

NT

NT

18

42
Vu

12

Vu

Vu

318


Pandion haliaetus

Pied Harrier

IIB

22

Ichthyophaga
ichthyaetus
Circus
aeruginosus
Circus cyaneus
Circus
melanoleucos
Accipiter badius

Ưng xám

IIB

23

Aquila clanga

Đại bàng đen

24

Limosa limosa

Choắt mỏ

IIB
IIB
NT

Vu

IIB
IIB
IIB

VU

En

IIB

NT

Asian Golden
Weaver

NT

Cò lạo Ấn Độ Mycteria leucocephala -Painted Stork
Tình trạng bảo tồn: NT (IUCN, 2012), Vu (SĐVN, 2007)
Theo những kết quả khảo sát trước loài này
được ghi nhận sự hiện diện tại VQG từ tháng
Mười đến tháng Tư hàng năm. Tuy nhiên,
trong đợt khảo sát này chỉ ghi 02 cá thể tại
sinh cảnh trảng trống (ô số 9)

Photo: Trần Văn Thắng, 2013

Quắm đầu đen Threskiornis melanocephalus - Black-headed Ibis
Tình trạng bảo tồn: NT (IUCN, 2012), Vu (SĐVN, 2007)
Loài này đến VQG U Minh Thượng sinh
sản. Đợt khảo sát này ghi nhận 21 cá thể tại
sân chim, thấp hơn so với quần thể ghi
nhận năm 2001, 2002 và 2004.

Photo: Phạm Quốc Dân, 2000
Quắm đen Plegadis falcinellus - Glossy Ibis
Tình trạng bảo tồn: Không
20


Kích thước quần thể: Số lượng lớn
Loài này đến VQGUMT sinh sản. Kết quả
đếm chim tại sân chim ghi nhận 436 cá thể
bằng 1.74 - 2.9% quần thể Đông Nam Á.
Số lượng cá thể Quắm đen được ghi nhận
trong đợt khảo sát này thấp hơn so với kết
quả của những lần khảo sát trước đây
(Quần thể đỉnh là 1.368 cá thể ghi nhận
tháng 04/1999). Loài này chủ yếu kiếm ăn
ngoài vùng đệm VQG và những vùng lân
cận nên bị săn bắt mạnh.

Photo: Trần Văn Thắng, 2013

Diệc lửa Ardea purpurea - Purple Heron

lần khảo sát này. Cho đến thời điểm hiện nay
đây là số lượng cá thể lớn nhất của loài này
được ghi nhận tại VQG. (chương trình giám
sát chim 1999 - 2003 ghi nhận 01 cá thể,
4/2004 ghi nhận 4 cá thể, 6/2009 ghi nhận 3
cá thể, 4/2011 ghi nhận 9 cá thể).

Cốc đen Phalacrocorax niger - Little Cormorant
Tình trạng bảo tồn: không
Quần thể có số lượng lớn
Đây là loài định cư sinh sản. Số lượng cá
thể đếm được của quần thể tại Sân chim
vào ngày 27/5/2013 là 6,861 cá thể bằng
22.87% quần thể Đông Nam Á.

Pho to: Trần Văn Thắng, 2013
Cổ rắn Anhinga melanogaster - Oriental Darter
Tình trạng bảo tồn: NT (IUCN, 2012), Vu (SĐVN, 2007)
Loài định cư sinh sản tại VQGUMT. Mùa
sinh sản bắt đầu từ tháng Tư đến tháng
Mười hàng năm. Trước trận cháy rừng
năm 2002 chỉ quan sát thấy một cá thể, từ
sau trận cháy rừng năm quần thể loài này
tăng lên rất nhiều. Ngày 28/5/203 ghi
nhận 318 cá thể. Đây là quần thể lớn nhất
được ghi nhận từ trước đến nay (năm
2009 ghi nhận 02 cá thể, năm 2001 ghi
nhận 4 cá thể, năm 2004 ghi nhận 268 cá
22


Loài này được ghi nhận một lần duy nhất tại sinh cảnh trảng Sậy vào ngày
28/5/2013 với 4 cá thể quan sát được. Đây là số lượng cá thể lớn nhất được quan sát từ
trước đến nay.

23


6.4. Những đe dọa đến khu hệ chim và những kiến nghị bảo tồn
VQGUMT là một trong những vùng quan trọng nhất đối với bảo tồn đa dạng sinh
học ở đồng bằng sông Cửu Long. Vùng lõi VQG hiện đã được bảo vệ nghiêm ngặt theo
quy chế quản lý rừng đặc dụng, nhưng vùng đệm và những vùng lân cận cũng cần được
bảo vệ. Tuy nhiên, vào mùa sinh sản tại sân chim vẫn cò hiện tượng người dân địa
phương vào lấy trứng chim và bắt chim non làm cho chúng hoảng sợ và bỏ đi nơi khác.
Trong thời gian điều tra đã ghi nhận những loài chim nước ngủ đêm, sinh sản tại sân chim
và một số loài chim rừng thường sử dụng các khu vực canh tác ngoài vùng đệm và khu
vực nuôi thủy bên ngoài để kiếm ăn. Sự phụ thuộc vào diện tích canh tác, nuôi trồng thủy
sản của các loài chim nước dẫn đến những ảnh hưởng đối với người dân địa phương. Hệ
quả là người dân sử dụng lưới, bẫy, bả thuốc bảo vệ thực vật để tiêu diệt chim. Đây là
nguyên nhân quan trọng làm giảm quần thể của các loài chim nước tại sân chim.
Một chương trình nâng cao nhận thức của các bên liên quan về các giá trị đa dạng
sinh học và kinh tế xã hội, xây dựng tinh thần trách nhiệm của cộng đồng dân cư địa
phương trong việc bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo vệ các loài chim nói riêng.
Ban quản lý VQG tăng cường phối hợp với các bên liên quan ngăn chặn việc người dân
sử dụng lưới bẫy chim. Lồng ghép việc bảo vệ môi trường trong quy hoạch nuôi trồng
thủy sản trong tương lai.
Trảng trống được xem là có độ phong phú về thành phần chim cao nhất trong vùng
lõi lại chịu tác động của các hoạt động khôi phục rừng Tràm và sự phát triển lan tràn của
cỏ dại. Những diện tích này được xem như là vùng đất không có giá trị và do đó được
quy hoạch để trồng lại Tràm dẫn đến mất đi đa dạng sinh học trong khu vực. Bên cạnh đó
một số loài cỏ dại, đặc biệt là loài Bèo cái Pistia stratiotes, Lục bình Eichhornia crassipes

Đa dạng về thành phần loài chim tại VQG U Minh Thượng có thể là phản ánh của
đa dạng các dạng sinh cảnh, từ sinh cảnh rừng Tràm chưa thành thục cho đến sinh cảnh
trảng Trống và sinh cảnh trảng Cỏ. So sánh trực tiếp giữa các dạng sinh cảnh cho thấy
trảng Trống có độ phong phú nhất về thành phần loài chim. Mặc dù rừng Tràm không có
thành phần loài chim phong phú nhất trong VQG, nhưng dạng sinh cảnh này cũng đóng
vai trò rất quan trọng do là nơi cư trú của một lượng lớn của các loài chim rừng và chim
phụ thuộc vào rừng. Hơn một phần ba trong số 68 loài chim trong rừng Tràm là những
loài chỉ ghi nhận duy nhất tại dạng sinh cảnh này. Bên cạnh đó, với các loài chim có giá
trị quan trọng trong bảo tồn như Già đãy Java, Diều cá đầu xám và Hạc cổ trắng có mặt
trong rừng Tràm, đã nói lên vai trò quan trọng của dạng sinh cảnh này trong vùng châu
thổ sông Cửu Long.
Sau khi thay đổi phương án quản lý nước năm 2010, hệ sinh thái rừng Tràm đã
được phục hồi, các loài chim nước tập chung trở lại. Số lượng các loài chim nước trú
đêm, sinh sản tại sân chim tăng 33,12% so với năm 2009. Tuy nhiên, đợt khảo sát này
được thực hiện trong thời gian ngắn nên các loài chim rừng chưa có đủ cơ sở dữ liệu để
so sánh và đánh giá.
8. Đề nghị
1. Lựa chọn thêm 01 cán bộ phòng Nghiên cứu khoa học và Môi trường của
VQG (trong lần khảo sát này đã tập huấn cho 01 cán bộ nhận dạng và kỹ năng đếm
chim nước tại sân chim) để triển khai đào tạo kỹ thuật về giám sát, kỹ năng nhận
dạng, định danh các loài chim qua quan sát và nghe tiếng kêu tại VQG.
2. Điều tra, khảo sát, đánh giá sự phục hồi của thảm thực vật rừng, xác định
ảnh hưởng của chế độ ngập nước đến sinh trưởng cây rừng và đa dạng sinh học
thực vật rừng tràm nói chung và khu hệ chim nói riêng.
3. Triển khai chương trình giám sát khu hệ chim để có đầy đủ cơ sở dữ liệu
đánh giá, phân tích nhằm xem xét hiện trạng, những tác động để đề xuất các
25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status