TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
-------***-------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA THỊ TRƯỜNG
PHÂN PHỐI BÁN LẺ Ở VIỆT NAM KỂ TỪ SAU
1/1/2009
Sinh viên thực hiện
: Lê Thị Chiêm
Lớp
: Nhật 7
Khóa
: 45G
Giáo viên hướng dẫn
: ThS. Bùi Liên Hà
Hà Nội, tháng 05 năm 2010
4.2) Kênh phân phối bán lẻ hiện đại................................................. 20
5) Sự cần thiết phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam ...................... 22
CHƢƠNG II: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA THỊ TRƢỜNG
BÁN LẺ Ở VIỆT NAM KỂ TỪ SAU 1/1/2009 ................................ 23
I) Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực phân phối và
bán lẻ ....................................................................................................... 23
II) Thị trƣờng bán lẻ ở Việt Nam kể từ sau 1/1/2009 ........................... 25
1) Mức độ hấp dẫn và mức độ tăng trưởng ......................................... 25
1.1)Mức độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam ....................... 25
2) Mức độ tăng trưởng ......................................................................... 30
2.1) Mức độ tăng trưởng .................................................................. 30
2.2) Nguyên nhân mức tăng trưởng giảm ......................................... 31
2.1) Sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường nội
địa .................................................................................................... 33
2.2) Nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ gia nhập thị trường bán lẻ Việt
Nam trong thời gian tới .................................................................... 37
3) Các doanh nghiệp bán lẻ nội địa ..................................................... 38
3.1) Chiến lược mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ mạng lưới bán
lẻ ..................................................................................................... 38
3.2) Chiến lược cửa hàng tiện ích .................................................... 41
3.3) Hướng tới thị trường nông thôn ................................................ 43
4) Mặt bằng kinh doanh ...................................................................... 45
5) Xu hướng tiêu dùng ......................................................................... 47
III) Đánh giá những tác động của việc mở cửa cho doanh nghiệp có
100% vốn nƣớc ngoài tham gia thị trƣờng bán lẻ Việt Nam ............... 51
1) Tác động tích cực ............................................................................. 51
1.1) Đối với người tiêu dùng ........................................................... 51
1.2) Các doanh nghiệp bán lẻ nội địa ............................................... 55
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong ngành dịch vụ phân phối ................ 5
Bảng 2: Mười thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất Thế giới 2008 ...................... 9
Bảng 3: Mười thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất Thế giới 2009 ..................... 26
Biểu đồ 1: Mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng bán lẻ
và tốc độ tăng giá tiêu dùng từ năm 1993 tới 2008 ..................................... 31
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BTA
: Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ
CP
: Cổ phần
GRDI
: Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (Global Retail
Development Index)
KCN
: Khu công nghiệp
miễn là không vi phạm những quy chế và cam kết đã ký, đủ sức cạnh tranh với hàng
hóa cùng loại và hàng hóa thay thế. Tuy nhiên, cơ hội được mở rộng thị trường
cũng đồng nghĩa với việc các nhà phân phối nước ngoài có thể vào thị trường nước
ta dễ dàng hơn. Là một nước có dân số trên 85 triệu người, Việt Nam được đánh giá
là thị trường đầy tiềm năng đối với ngành bán lẻ. Đặc biệt kể từ 1/1/2009, nước ta
đã hoàn toàn mở cửa các nhà phân phối bán lẻ nước ngoài tham gia hoàn toàn tự do.
Thị trường bán lẻ đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, có sự
tham gia của mọi thành phần kinh tế. Vì vậy, mở cửa thị trường bán lẻ cho các nhà
đầu tư 100% vốn nước ngoài sẽ thay đổi diện mạo của thị trường nội địa như thế
nào là một vấn đề đáng quan tâm. Chính sách mở cửa sẽ có ảnh hưởng gì tới các
doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước? Ai được? Ai mất? Các doanh nghiệp
của nước ta có đủ sức chống chọi với cơn sóng này?
1
Nhận thấy đây là một đề tài cấp thiết mang tính thời sự hiện nay, người viết
mạnh dạn chọn đề tài “Những đặc điểm chính của thị trường phân phối bán lẻ
Việt Nam kể từ 1/1/2009” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2) Mục tiêu nghiên cứu
Để giúp người đọc có cái nhìn tổng thể và sâu sắc về những biến đổi của thị
trường bán lẻ Việt Nam kể từ sau khi hoàn toàn mở cửa đối với các doanh nghiệp
bán lẻ nước ngoài, khóa luận tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Đánh giá thực trạng phát triển lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam .
- Nghiên cứu thực trạng mở cửa thị trường bán lẻ tại Việt Nam, đặc biệt kể từ
1/1/2009; Từ đó đưa ra các đặc điểm chính gồm những điều đã làm được và những
tồn tại.
- Đưa ra những giải pháp nhằm phát triển thị trường bán lẻ tại Việt Nam trong
bối cảnh mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ nội địa
trước sự tấn công của các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia.
THIỆU THỊ TRƢỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM
I)Khái niệm, đặc điểm và chức năng
1)Khái niệm bán lẻ, thị trƣờng bán lẻ
1.1) Khái niệm bán lẻ
Hiện nay trên thế giới tồn tại khá nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ, trong đó
có thể kể đến một vài định nghĩa được thừa nhận và sử dụng khá rộng rãi như sau:
Trong cuốn “ Quản trị Marketing”, Philip Kotler đã định nghĩa: “Bán lẻ là
mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối
cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không mang tính thương mại”1
Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia đưa ra định nghĩa: Bán lẻ bao gồm việc
bán hàng hóa cho cá nhân hoặc hộ gia đình để tiêu dùng, tại một địa điểm cố định,
hoặc không tại một địa điểm cố định qua các dịch vụ liên quan.
Theo khoản 8, Điều 13 Nghị định 23/2007/NĐ- Chính phủ ngày 12/2/2007
quy định chị tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động
liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam: Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng
cuối cùng.
Còn trong giáo trình Marketing lý thuyết của Đại học Ngoại Thương lại đưa ra
khái niệm: Hoạt động bán lẻ bao gồm tất cả các hoạt động phân phối hàng hóa hoặc
dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cá
nhân, phi thương mại.
Như vậy, ta có thể hiểu nói chung bán lẻ là hoạt động kinh doanh trong đó nhà
bán lẻ mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, hoặc nhà bán sỉ rồi
1
Philip Kotler (2003), “Quản trị Marketing” NXB Thống Kê, tr.314
4
chuyển tới người tiêu dùng. Nhà bán lẻ là mắt xích cung cấp trong chuỗi giá trị. Vai
trò của nbán lẻ là cực kỳ quan trọng bởi chính ngay tại điểm bán lẻ, người tiêu dùng
có cơ hội chọn mua sản phẩm và thương hiệu mà mình ưa chuộng. người bán lẻ là
người am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, thị hiếu của người tiêu dùng, có
thể thực hiện một số hoạt động có tác động lên quyết định mua hàng của người tiêu
dùng; đồng thời người bán lẻ cũng chính là người nắm bắt được sát thực những thay
đổi trong xu hướng tiêu dùng của khách hàng.
3) Đặc điểm của bán lẻ
Hoạt động bán lẻ mang 1 số đặc điểm cơ bản sau:
Một là hàng hóa được mua để tiêu dùng chứ không phải để kinh doanh hay
cho bất kỳ mục đích thương mại nào. Người mua hàng đồng thời là người tiêu dùng
cung cấp. Hàng hóa sau khi được trao đổi mua bán sẽ không còn cơ hội quay trở lại
thị trường. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của bán lẻ, nói lên bản chất của bán lẻ.
Hai là người bán thường cung cấp hàng hóa đa dạng chủng loại, mẫu mã:
Phần lớn các nơi bán lẻ cung cấp nhiều loại hàng hóa khác nhau có thể với những
mức giá từ thấp tới cao, vừa đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, vừa tăng
cường hiệu quả kinh doanh trong từng kỳ. Thậm chí trong các cửa hàng chuyên
doanh, tùy theo chủng loại sản phẩm nhà sản xuất còn đa dạng hóa thành nhiều mặt
hàng có kích cỡ chất lượng màu sắc, kiểu dáng… khác nhau để khách hàng được
đáp ứng nhu cầu tốt nhất, hài lòng nhất. Vì vậy, khách hàng có thể đi một địa điểm
mà mua được đầy đủ hàng hóa mình cần.
Ba là khách hàng chủ động và độc lập trong quyết định mua hàng: Dù người
bán lẻ có ít nhiều tác động tới hành vi mua hàng của khách hàng thì họ vẫn có khả
năng tài chính, có động cơ mua hàng cụ thể và có quyết định mua tương đối độc
lập. Vì vậy, để duy trì sự tăng trưởng bền vững, trong quá trình tiếp xúc, người bán
hàng phải nhạy cảm với nhu cầu và xây dựng mối quan hệ lâu dài với họ.
Bốn là nhiều hình thức và cạnh tranh rất mạnh mẽ: thị trường bán lẻ là nơi
cung cấp những hàng hóa tiêu dùng cần thiết thậm chí là thiết yếu cho toàn bộ
người tiêu dùng ở mọi nơi của cả quốc gia nên nhu cầu rất cao và vững, ổn định. Vì
chính là người trực tiếp thực hiện công việc tạo dựng và duy trì mối quan hệ giữa
nhà sản xuất với người tiêu dùng.
7
Thứ ba, hoàn thiện hàng hóa, kích thích tiêu dùng: nhà bán lẻ có thể làm cho
hàng hóa đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người mua, sắp xếp hàng hóa hợp thẩm mỹ
thu hút, định hướng tương đối thị hiếu của người tiêu dùng. Tại các cửa hàng bán lẻ
như siêu thị, số lượng mặt hàng có thể lên tới hàng chục nghìn loại từ hàng trăm các
nhà sản xuất khác nhau. giúp người tiêu dùng được lựa chọn một danh mục sản
phẩm đa dạng về kiểu dáng, chất lượng, giá cả. Bên cạnh đó, dù các nhà bán lẻ có
thể nhận hàng hóa đã hoàn thiện từ nhà sản xuất hay nhà bán buôn nhưng do đặc thù
ngành bán lẻ, họ vẫn tiến hành sơ chế, đóng gói, bảo quản để đưa sản phẩm tới tay
người tiêu dùng trong điều kiện tốt nhất và hình thức phù hợp nhất.
Thứ tư, lưu trữ sẵn hàng hóa: Nhà bán lẻ có thể lưu trữ hàng hóa, làm cho
hàng hóa lúc nào cũng sẵn có mỗi khi người tiêu dùng đến. Người bán lẻ thông
thường không chỉ dự trữ một vài mặt hàng với số lượng lớn, ngược lại có xu hướng
trữ nhiều mặt hàng với khối lượng nhỏ trong một thời gian. Nhờ vậy, khách hàng
luôn được đáp ứng kịp thời hễ có nhu cầu. Ngoài ra, một số hoạt động sản xuất có
tính tiêu thụ, còn tiêu dùng lại diễn ra quay năm. Hưởng lợi từ chức năng của nhà
bán lẻ, khách hàng không phải cất giữ nhiều sản phẩm trong nhà mà chỉ cần mua đủ
hàng sử dụng lúc đó.
Thứ năm, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ: Với đời sống ngày càng đi lên, công
nghệ thông tin phát triển tạo điều kiện cho nhà bán lẻ cung cấp các dịch vụ cho
người tiêu dùng dễ dàng hơn khi mua và sử dụng sản phẩm bằng các biện pháp như
cho người mua trả chậm, trả góp, mời sử dụng thử, tư vấn và sẵn sàng cung cấp
thêm thông tin về sản phẩm. Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng các loại thẻ tín
dụng thông thường, nhiều nhà bán lẻ còn sẵn sàng phát hành thẻ tín dụng của riêng
mình, cung cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định để có thể mua hàng
với năm 2007
1
Việt Nam
57
34
67
99
88
3
2
Ấn Độ
29
39
78
93
82
67
-1
5
Ai Cập
22
34
90
64
66
9
6
Ma-rốc
26
36
52
45
58
60
-2
9
Brazil
23
60
60
54
60
11
10
Thổ Nhĩ Kỳ
3% thị phần [24]
Cùng với một số dân đông thứ 13 thế giới, có thể nói Việt Nam có tiềm năng
khá lớn đối với ngành bán lẻ. Đồng thời, hiện hệ thống bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam
đã phát triển tương đối mạnh về số lượng và quy mô, với sự hiện diện của hàng nghìn
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hàng chục nghìn
doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH , hàng chục nghìn hợp tác xã cùng hàng triệu
hộ kinh doanh lớn nhỏ, đã phần nào thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng,
tác động tích cực tới quá trình chuyển đổi nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
2) Chủ thể tham gia vào lĩnh vực phân phối bán lẻ
Trong thời gian qua đã có sự tham gia đáng kể của các chủ thể sản xuất và
kinh doanh vào hệ thống phân phối bán lẻ. Với mục tiêu tăng trưởng bình quân
GDP thời kỳ 2001-2010 là 7-7.5%/năm thì quy mô về tổng mức lưu chuyển hàng
hóa bán lẻ và dịch vụ của thị trường trong nước vào năm 2010 dự kiến sẽ vượt mức
10000 tỷ đồng. Chắc chắn với một thị trường bán lẻ tiềm năng như nước ta, trong
thời gian tới sẽ có sự gia tăng lớn các chủ thể kinh tế vào hệ thống phân phối hàng
hóa của Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Nếu như trước đây nền thương mại chủ yếu là do nhà nước độc quyền thì giờ
đây đã chuyển sang một nền kinh tế tư nhân, sự xuất hiện các nhà đầu tư có vốn
nước ngoài và quá trình CP hóa các doanh nghiệp nhà nước đã làm cho ngành
thương mại biến đổi sâu sắc. Xét trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh
thu dịch vụ tiêu dùng theo nền kinh tế: tỷ trọng kinh tế nước ngoài liên tục giảm
xuống và hiện còn chiếm tỷ lệ thấp (năm 2007 là 10,2%). Kinh tế ngoài nhà nước
chiếm tỷ trọng cao (năm 2007 là 85,9%). Trong đó, kinh tế tập thể chiếm tỷ trọng
10
không đáng kể (0,7%). Kinh tế cá thể chủ yếu là chợ và các cửa hàng nhỏ lẻ vẫn
còn chiếm tỷ trọng khá lớn (56,1%)[6] , đây chính là thị phần sẽ có nhiều thay đổi
trong thời gian tới bởi cả nền kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
hàng bán trái cây cao cấp, các quấy trái cây và hàng khô, quầy guốc dép và dụng cụ
gia đình, quầy hoa tươi, quầy cá, thịt gà, quầy thịt heo, gà, bò, giò, chả, quầy gà vịt
sống...
Chợ Đồng Xuân: Nằm cạnh ga đầu cầu Long Biên, lại ở ngay sát sông Hồng,
chợ Ðồng Xuân là điểm thuận lợi để hàng hoá bốn phương dồn về đây cũng như từ
đây toả đi các nơi. Ở chợ Đồng Xuân hầu như có đủ tất cả các mặt hàng phục vụ đời
sống và sản xuất đồng thời nó là chợ bán buôn lớn nhất miền Bắc. Ngày nay chợ
Ðồng Xuân được xây dựng lại với qui mô lớn hơn gồm 3 tầng khang trang, rộng rãi
nhưng vẫn giữ lại một phần kiến trúc mặt tiền của chợ cũ.
*)Các doanh nghiệp phân phối bán lẻ trong nước, bao gồm cả các doanh
nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài nhà nước:
Đây đa phần là các công ty, tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực phân phối,
có trình độ chuyên nghiệp và mạng lưới phân phối bán lẻ rộng khắp trên nhiều tỉnh,
thành phố trên cả nước. Có thể kể ra một vài doanh nghiệp tiêu biểu:
Liên hiệp HTX Thương mại và Dịch vụ TP.HCM (Sài Gòn Co.op): được
thành lập từ năm 1988, đến nay Saigon Co.op đã có khoảng 40 siêu thị tại TP. HCM
và các tỉnh lân cận với thị thương hiệu quen thuộc Co.op Mart. Mạng lưới Co.op dự
kiến sẽ được đưa lên con số 50 siêu thị trong năm nay và 100 siêu thị vào năm
2015[19] nhằm cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài khi Việt Nam mở cửa
hoàn toàn thị trường bán lẻ. Năm 2008, Saigon Co.op đạt tổng doanh thu là 6.350 tỉ
đồng, trong đó doanh thu từ chuỗi siêu thị Co.op Mart là 6,167 tỉ đồng, chiếm
97,1% tổng doanh số của Saigon Co.op. Trong năm 2009, tổng doanh số của Saigon
Co.op là hơn 8.571 tỉ đồng, tăng 34,9%, trong đó hoạt động thương mại bán lẻ
thuộc hệ thống siêu thị Co.opMart đạt 8.307 tỉ đồng (chiếm 96,9%). Trong năm nay
2010, Saigon Co.op đặt mục tiêu đạt tổng doanh thu là 11.500 tỉ đồng, tăng trên
34% so với năm trước, trong đó tổng doanh số chuỗi Co.opMart là 11.200 tỉ đồng,
tăng gần 35%[8].
Tổng công ty thương mại Sài Gòn (Satra): với một hệ thống chợ trung tâm và
hơn 284.000 m2 cửa hàng, siêu thị, trung tâm mua bán, trung tâm thương mại ở
người tiêu dùng. Công ty có gần 30 đơn vị trực thuộc gồm các công ty thành viên,
trung tâm phân phối và kho vận trên toàn quốc. Với định hướng chiến lược đúng
đắn, Phú Thái đã đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 40%.
Tập đoàn dệt may Việt Nam với hệ thống siêu thị Vinatex mart: là hệ thống
siêu thị trải rộng trên cả nước. Hệ thống siêu thị Vinatex Mart có nhiệm vụ chính là
13