Đề án “Trong xu thế hội nhập của thị trường hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam (doanh nghiệp của bạn) phải làm những gì để nâng cao chất lượng hàng hoá và bắt kịp thị trường” - Pdf 68


ĐỀ ÁN

Trong xu thế hội nhập của thị trường
hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam
(doanh nghiệp của bạn) phải làm
những gì để nâng cao chất lượng hàng
hoá và bắt kịp thị trường
LỜI MỞ ĐẦU

Nhiều năm đã đi qua sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bản đồ địa lý
kinh tế, chính trị thế giới đã được phân bố lại. Sự thành công hay thất bại của
từng quốc gia đã được thời gian khẳng định như giá trị chung của quá trình phát
triển nhân loại. Một trong những nước thành công trong công cuộc xây dựng và
phát triển kinh tế xã hội phải kể đến Nhậ
t Bản và các nước NICs, Châu á... tất
nhiên không thể dựa vào một vài khía cạnh kinh tế xã hội để định giá sự phát
triển, song nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thế giới, đặc biệt
là các nhà hoạch định chính sách đều khẳng định được mấu chốt ở chỗ các nước
đều phát triển nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế. Quá trình khu
vực hoá và toàn cầu hoá trong quan hệ kinh tế quốc t
ế không còn là xu hướng
mà đã trở thành quy luật khách quan. Tuy nhiên để thúc đẩy nhanh chóng quá
trình hội nhập phụ thuộc ít nhiều vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước
trong đó việc hoạch định chính sách đúng đắn và các biện pháp thực hiện có vai
trò đặc biệt quan trọng.
Việt Nam là một nước đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá,
phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, thúc đẩy xuấ

ới nước nào áp dụng chiến lược
thay thế nhập khẩu cũng chỉ phát huy tác dụng trong thời gian ngắn và trong một
phạm vi nhất định là quy mô thị trường nhỏ dung lượng thương mại không lớn.
Trong khi đó, công nghiệp hoá là một quá trình đa ngành công nghiệp tác động
vào nền kinh tế xã hội một cách toàn diện, liên tục với trình độ công nghệ ngày
càng cao. Quá trình đó làm thay toàn diện nền kinh tế đa đất nước từ một n
ước
có nền nông nghiệp lạc hậu lên một nước có nền công nghiệp hiện đại, phát
triển. Điều đó có nghĩa là quá trình CNH đòi hỏi một khoảng thời gian dài để
xây dựng một nền kinh tế có tiềm lực mạnh về mọi mặt. Đây cũng được xác
định là nhiêm vụ trung tâm trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia.
Trong lịch sử phát triển CNH, các quốc gia đều bắ
t đầu xây dựng từ một
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp phát triển còn hết sức sơ khai trở
thành một nước xuất khẩu lương thực, công nghiệp hiện đại với công nghệ cao.
Nhưng quá trình đó ở các nước khác nhau thời gian hoàn thành là không giống
nhau : Anh cần khoảng 120 năm, Mỹ cần khoảng 80 năm, nhóm các nước NICs
chỉ cần khoảng 30 năm... Như vậy một xu hướ
ng chung là những nước tiến hành
CNH cần thời gian hoàn thành càng ngắn nhưng lại đạt được những kết quả rất
cao. Sở dĩ có xu hướng trên là do quá trình CNH ở các nước khác nhau tiến hành
vào các thời kỳ khác nhau, tại các thời kỳ đó trình độ phát triển của khoa học
công nghệ cũng không giống nhau mà cụ thể là càng ngày càng phát triển, càng
hiện đại. Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá ở các thời kỳ khác nhau được tiến
hành theo các trình tự khác nhau từ th
ứ tự đến nhảy vọt hoặc kết hợp cả hai và
sự can thiệp của Chính phủ vào quá trình đó cũng khác nhau. Đây là sự khác
biệt cơ bản của quá trình công nghiệp hoá ở Châu Á và các nước phương Tây.
Đối với các nước NICs và ASEAN thì sự can thiệp của Chính phủ có thể coi là
một nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của quá trình CNH. Điều

thông hàng hoá. Bảo hộ hàng sản xuất trong nước, chống lại sự cạnh tranh của
hàng ngoại là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược thay thế nhập khẩu. Chiến lược
này được áp dụng rộng rãi từ cuối thậ
p kỷ 50 đến gần cận nhất là các nước NICs
và ASEAN.
Về cơ bản chiến lược này được áp dụng trong giai đoạn đầu với khoảng
thời gian ngắn nhằm tạo tiền đề chuyển hướng chiến lược hướng về xuất khẩu.
Cụ thể là đối với Hàn Quốc việc thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên tạo điều kiện
tăng dần dung lượng thị trường nội địa nhất là đẩy mạnh các ngành công nghiệp
nhẹ có khả năng sử dụng nhiều sức lao động nhưng cần ít vốn như các ngành :
dệt, may mặc, chế biến...
Trong khi đó, Đài Loan sử dụng chiến l
ược phát triển ông nghiệp gắn với
chiến lược phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng nội địa và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn này Đài
Loan cũng đã thấy được khuyết điểm của chiến lược mà họ đang sử dụng đó là
thị trường trong nước có quy mô nhỏ sức mua không lớn lên tăng trưởng chậm
l
ại .
Kế hoạch 5 năm 1966 - 1970 của Malaixia thể hiện rõ đường lối phát triển
kinh tế là thực thi chiến lược thay thế nhập khẩu để khẳng của Malaixia trong
buôn bán cũng như trong phân công lao động quốc tế. Thời kỳ này Malaxyia
chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp đặc biệt là sản xuất nông
nghiệp nhằm cơ giới hoá việc gieo trồng các loại cây mà Malayxia đã phải nhập
khẩ
u. Có thể thấy rằng trong kế hoạch 5 năm 1966-1970 Malayxia tiến hành
chiến lược thay thế nhập khẩu nhưng lại không lấy cây lúa làm trọng tâm mà lại
phát triển cây công nghiệp dài ngày để thu sản phẩm xuất khẩu. Do đó, kết quả
của việc thực hiện chiến lược này Malayxia không những đảm bảo cơ bản về
nhu cầu lương thực mà còn tiết kiệm được ngoại tệ làm tiền

Thực vậ
y, khi thực hiện một đường lối, vạch ra một phương hướng phát
triển thì không thể không tính đến thị trường ảnh hưởng của nó. Xuất phát từ nội
dung của chiến lược thay thế nhập khẩu là sản xuất những mặt hàng đáp ứng
nhu cầu tối thiểu của đất nước tức là lấy thị trường trong nước làm trọng tâm để
buôn bán và lưu thông hàng hoá thì chí ít về quy mô thị tr
ường đó trước hết phải
rộng rãi. Đối với một nước thị trường nội địa được coi là phù hợp với chiến lược
này là một đất nước có quy mô dân số đông, sức tiêu thụ lớn. Khi quy mô dân số
đông và khả năng tiêu dùng lớn thì tương quan giữa sản xuất và tiêu dùng mới
cân đối tức là sản xuất mở rộng cũng tiêu thụ hết. Do đó, với những n
ước có quy
mô dân số nhỏ bé thì dung lượng thị trường nhỏ, chỉ cần sản xuất dưới mức tối
ưu cũng đã đáp ứng đủ nhu cầu. Điều đó đồng nghĩa với không có động lực để
mở rộng sản xuất hay tối ưu hoá các yếu tố nguồn lực.Thực tế điều này xảy ra ở
những nước có quy mô nhỏ bé nh
ư Hàn Quốc.
Như vậy với những nước có phạm vi, quy mô thị trường nhỏ thì việc áp
dụng chiến lược hướng nội là không phù hợp. Đây có thể coi là một yêu cầu để
thực hiện chiến lược nhưng cũng có thể coi là một hạn chế của chiến lược.
Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là khi quy mô thị trường lớn thì áp
dụng chiến lược hướng nội là thành công mà ngay khi đi
ều kiện đó được đáp
ứng thì những hạn chế khác của chiến lược như làm giảm khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp trong nước lại tăng lên. Sở dĩ nảy sinh ra vấn đề này là
xuất phát từ sự can thiệp của Chính phủ.
Khi mà động cơ có tác động mạnh mẽ nhất để các doanh nghiệp sản xuất
cạnh tranh với nhau là lợi nhuận thì yếu tố này đã bị triệt tiêu khi có sự can thiệp
của Chính phủ. Bởi vì, khi Chính phủ bảo hộ bằng hạn ngạch hay thuế quan tức
là Chính phủ đã chịu phần thua lỗ thực sự mà các doanh nghiệp hoạt động

tự vận động. Cho nên, biện pháp bảo hộ chỉ là biện pháp tạm thời và cần phải
được giảm dần khi các ngành sản xu
ất trong nước phát triển hơn.
Hạn chế thứ hai của chiến lược hướng nội đó là những tệ nạn phát sinh từ
việc thực hiện không nghiêm túc của các đối tượng chịu thuế và các cơ quan
thuế vụ. Điều này dẫn đến tình trạng trốn lậu thuế, hối lộ đội ngũ cán bộ thuế
quan gây ra thất thu cho ngân sách nhà nước, làm mất lòng tin của nhân dân.
Đây không còn là vấn đề vi phạm luật đơn thuầ
n mà ngày nay đặc biệt đối với
nước ta nó trở thành một quốc nạn.
Bên cạnh việc trốn lậu thuế là việc xin xỏ, hối lộ các quan chức phụ trách
phân phối hạn ngạch nhập khẩu. Việc đánh giá sự thành công của các doanh
nghiệp sẽ không còn chính xác nếu nhìn vào đó mà đánh giá thực lực của doanh
nghiệp cũng như khả năng quản lý của lãnh đạo mà sự thành công đó có thể
nhờ
vào tài khéo léo, biết thương lượng có hiệu quả với các nhà chức trách phụ
trách thuế quan hay hạn ngạch. Điều này không khuyến khích các tư nhân giỏi
phát huy năng lực của mình.
Một hạn chế nữa của chiến lược thay thế nhập khẩu là hạn chế xu hướng
công nghiệp hoá của đất nước. Chiến lược này bắt nguồn từ công nghiệp hàng
tiêu dùng sau đó tiếp tục tạo th
ị trường cho các ngành sản xuất sản phẩm trung
gian. Thường thị trường trung gian nhỏ hơn thị trường hàng tiêu dùng nên đầu tư
vào lĩnh vực này lại gặp những khó khăn nhất định. Do vậy, lại trông chờ vào
bảo hộ điều này làm tăng giá đầu vào đối với những ngành sản xuất hàng tiêu
dùng. Để đảm bảo lợi nhuận của các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
vẫn tiếp t
ục phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu làm cho các ngành công
nghiệp sản xuất nguyên vật liệu trong nước không có khả năng phát triển hạn
chế sự hình thành cơ cấu công nghiệp đa dạng của đất nước.

khẩu đã nhanh chóng bộc lộ những hạn chế đặt ra một đòi hỏi tất yếu cho các n-
ước
đang áp dụng nó phải đổi hướng chiến lược. Điều đó là phù hợp với xu hư-
ớng phát triển của nền kinh tế, phù hợp với quy luật khách quan đó là cái cũ phải
được thay thế bằng một cái mới tiến bộ hơn, là chiến lược hướng về xuất khẩu.
Với chiến lược này các nớc khắc phục được những điều kiện không phù hợp c
ủa
mình với chiến lược thay thế nhập khẩu đó là một thị trường trong nước nhỏ
hẹp, một nền kinh tế mất cân đối và nợ chồng chất nước ngoài. Đồng thời chiến
lược này cho phép tất cả mọi nước tiêu dùng một lượng hàng hoá dịch vụ nhiều
hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn sản xuất trong nước dựa vào lợi thế so
sánh.
Điều ấy có nghĩa là tôi có thể tiêu dùng một mức nhiều hơn khả năng tôi
sản xuất nếu tôi trao đổi với anh và ngược lại anh cũng được lợi khi anh trao đổi
với tôi. Xét một cách khái quát hơn chiến lược hướng về xuất khẩu tác động
vào phát triển nền kinh tế ở những mặt sau.
-Tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng động hơ
n. Sự phát
triển của ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu tác động đến các ngành cung
cấp đầu vào tạo ra một mối liên hệ ngược có hệ thống thúc đẩy những ngành
phát triển. Không những thế, khi có tích luỹ từ việc xuất khẩu sản phẩm tìm mối
liên hệ xuôi giữa sản phẩm thô và ngành công nghiệp chế biến phát triển. Sự
phát triển của tất cả các ngành này làm tăng thu nhập cho người lao động, tạo ra
mối liên hệ gián tiếp cho sự phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và dịch vụ.
Như vậy, chiến lược hướng ngoại kéo các ngành trong nền kinh tế lại gần nhau
và buộc chúng phải có quan hệ với nhau.
- Nếu như chiến lược thay thế nhập khẩu lấ
y thị trường trong nước làm
trọng tâm cho phát triển thì chiến lược hướng vào xuất khẩu lại lấy thị trường
quốc tế làm trung tâm cho mọi sự phát triển. Trong chiến lược hướng nội các

Thông qua hoạt động ngoại thương các quốc gia phát hiện ra những lợi
thế của mình và phát huy trên thị trường quốc tế. Hội nhập kinh tế tạo điều kiện
cho các quốc gia tận dụng đợc lợi thế so sánh, mà muốn tận dụng được thì phải
thông qua buôn bán ngoại thương. Quan hệ giữa hội nhập quốc tế và hoạt động
ngoại thương là quan hệ hữu cơ với nhau. Khi hội nhập càng mạnh mẽ thì ngoại
thương cần được tự do hoá, xoá bỏ độc quyền. Do đó, hoạt động ngoại thương
được quan tâm vào bậc nhất ở tấ
t cả mọi quốc gia. Bản thân hoạt động ngoại
thương có những tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Kết quả của hoạt động ngoại thương được đánh giá qua cán cân thanh
toán xuất nhập khẩu biểu hiện sự tăng hoặc giảm thu nhập ngoại tệ của đất nớc.
Ở nước ta, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế là một chủ trương của đạ
i
hội VIII mà đảng ta đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế
đối ngoại. Kết hợp chặt chễ hoạt động ngoại giao của nhà nước hoạt động đối
ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại của nhân dân. Hoàn thiện cơ chế quản lý
thống nhất các hoạt động đối ngoại, tạo thành sức mạnh tổng hợp trên lĩ
nh vực
này.
Nói tóm lại, do yêu cầu khách quan của đất nước phải phù hợp với thực
tiễn và thời đại nên hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại
thương nói riêng có những thay đổi đáng kể thể hiện ở những mặt sau :
- Nước ta mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới trên tinh thần Viêt
Nam muốn làm bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng
đồng quốc tế,
phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
- Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương lẫn nhau tôn
trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
- Những ngành thay đổi trong hoạt động kinh tế đối ngoại dẫn tới những
chuyển biến quan trọng trên toàn bộ hoạt động kinh tế của đất nước ta nhiều lĩnh

hướng mở cửa rất hấp dẫn thúc đẩ
y hoạt động xuất khẩu thay đổi một cách toàn
diện trên các mặt nhu : quy mô mở rộng và tốc độ tăng trưởng nhanh, cơ cấu
nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu cũng đợc mở rộng theo chiều sâu cơ cấu thị
trường xuất khẩu được mở rộng đặc biệt là hàng xuất khẩu Việt Nam đã xâm
nhập vào một số thị trường khó tính nhất trên thế giới là Mỹ và EU .
Bước vào thế kỷ mới Việt Nam vẫn phát triển trên tinh thần phát huy nội
lực là chính nhưng phải tận dụng các nguồn ngoại lực. Kết hợp nội lực với ngoại
lực thành sức mạnh tổng hợp tiến công mạnh mễ vào CNH- HĐH. Qua đó ta
thấy hoạt động xuất nhập khẩu trong thời gian tới không những không bị xem
nhẹ mà còn được quan tâm tạo điều kiện phát triển từ những chính sách ưu đãi.
Đặc biệt là từ nay đến 2006 Việt Nam phải dần dần hoàn thành giảm dần tiến tới
xoá bỏ hạn ngạch và thuế quan theo hiệp định hiệu lực chung (CEPT) để tham
gian trên tinh thần phát huy nội lực là chính nhth thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) để tham gian trên tinh thần phát huy nội lực là thuế quan có hiệu lực
chung (CEPT) để tham gian trên.
Sự phát triển nhanh chóng của hoạt động xuất khẩu trong mười năm qua
có thể xem là một thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới. Điều đó thể hiện qua
tốc độ tăng trưởng, quy mô xuất khẩu, cơ cấu nhóm, mặt hàng xuất khẩu, cơ cấu
thị trường xuất khẩu và cơ cấu chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu.
N
ăm 1989 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 4.511,8 triệu rúp-USD trong đó
xuất khẩu 1946 triệu, đến năm 2000 con số này đã lên tới 23,16 tỷ USD trong đó
xuất khẩu chiếm 11.540 triệu USD. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân
hàng năm của thời kỳ 91-95 là 28%.
Trong 6 năm qua, toàn đảng toàn dân ra sức thực hiện Nghị quết Đại hội
VIII nên đã đạt được những thành tựu sau : xuất khẩu nông nghi
ệp (gạo, hàng
thuỷ sản và các sản phẩm cây công nghiệp) chiếm gần 40% tổng kim ngạch xuất
khẩu cả nước. Xuất khẩu sản phẩm cây công nghiệp tăng nhanh, giá trị xuất

lên tới 80-90 tỷ USD. Thái Lan đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ từ những năm
1987, hiện lên tới 55-60 tỷ USD. Philipin là nước kém hơn nhưng cũng đạt kim
ngạch xuất khẩu 10 tỷ USD vào năm 1992 và hiện nay xấp xỉ 25 tỷ USD. Nếu
tính kim ngạch xuất khẩu/đầu người, năm 1996 Malaixia đã đạt 3700 USD, Thái
Lan đạt 930 USD và Philipin đạt 285 USD trong khi đó Việ
t Nam mới đạt 96
USD. Năm 2000 Indolexia đạt 267 USD, Philipin 344 USD, Thái Lan 943 USD,
Malaixia 3750 USD, Hàn Quốc 3961 USD, Xingapo 4167 USD, VIệt Nam 150
USD/đầu người.
Thực tế cho thấy, nguy cơ này xa hơn là hiện thực nếu như chúng ta
không có giải pháp để tạo ra những chuyển biến cơ bản cho hoạt động xuất nhập
khẩu nói chung và cho xuất khẩu nói riêng. Như trên đã phân tích một trong
những nguyên nhân chủ quan quan trọng gây ra hiện tượng tốc độ xuất khẩu
ngày một chậm d
ần là do cơ cấu mặt hàng ít có sự thay đổi căn bản.
Trong thời gian qua, việc chuyển dịch cơ cấu diện ra chủ yếu nhờ tăng
nhanh kim ngạch xuất khẩu của bốn nhóm hàng : dệt may, giầy dép, sản phẩm
gỗ tinh chế và điện tử (bao gồm cả linh kiện máy tính ). Trong số này chỉ có sản
phẩm gỗ tinh chế là đạt hàm lượng nội địa cao các nhóm hàng còn lại chủ yế
u
dựa vao phương pháp gia công hàm ưlợng nội địa tương đối thấp.
Song một điều không thể phủ nhận khi nhìn lại trong thời gia qua cơ cấu
nhóm, mặt hàng xuất khẩu vẫn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ
trọng hàng đã qua chế biến, nhất là chế biến sâu. Nếu nh năm 1991, hàng
nguyên liệu thô chiếm trên 92%thì nay chỉ còn 60% kim ngạch xuất khẩu. Hàng
chế bi
ến trong đó có hàng chế tạo năm 1991 chỉ chiếm khoảng 8% thì đến năm
2000 đã tăng lên 40%. Nhóm hàng nông lâm thuỷ-hải sản năm 91 chiếm 53%
đến nay xuống còn 36,5%, nhóm hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm
91 chiếm 47%, năm 2000 đã lên tới 63,5% tổng kim ngạch xuất khẩu.

vượt kế hoạch năm 10.6%, điện tử đạt 132 triệu USD tăng 9%, máy vi tính đạt
518 triệu USD tăng 38.6% so với cùng kỳ n
ăm trước.
Theo ông Lê Đức Gia-Phó vụ Trưởng Vụ tổ chức Bộ thương mại ba
nhóm hàng nêu trên có tầm quan trọng như ba chân kiềng của hoạt động xuất
khẩu nớc ta. Ông nhận định : “hàng năm do nhiều yếu tố khác nhau có thể nhóm
hàng này tăng nhóm hàng kia giảm nhưng nếu biết phát huy để bù trừ cho nhau
thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng trưởng bền vững”.
Nếu như trên phân tích cho rằng một trong những nguyên nhân quan
trọng của hiện tượng tốc độ tăng trưởng giảm dần là do cơ cấu hàng xuất khẩu
chưa có những thay đổi trên tất cả các mặt hàng mà chủ yếu nhờ tăng nhanh
kimh ngạch củ
a bốn nhóm hàng cơ bản : dệt may, giầy dép, sản phẩm gỗ tinh
chế và điện tử thì vấn đề thị trường xuất khẩu là lời giải cho câu hỏi vì sao cơ
cấu hàng xuất khẩu có sự thay đổi tích cực mà tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn
tiềm ẩn nguy cơ tăng trưởng chậm.
Hiện nay, nước ta đã có quan hệ thương mại với hơn 60 nước và có tho

thuận đối xử tối hậu quốc (MFN) với 68 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Sự tan rã của khối SEV dẫn tới những thay đổi lớn trong cơ cấu thị trường
xuất khẩu của nước ta thể hiện : Liên Xô (cũ) và Đông Âu, Việt Nam chỉ còn
chiếm gần 2% kim ngạch xuất khẩu đạt 230 triệu USD. Do đó, Châu Á trở thành
thị trường xuất khẩu chính ở nước ta. Tỷ tr
ọng kim ngạch xuất khẩu cho thị
trường này tăng từ 26,73% vào năm 1989 lên 43,29% vào năm 1990 và năm
1991 tăng lên tới 76,73% và luôn duy trì trong khoảng 72-74% từ đó đến nay.
Trong đó Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn ( Nhật Bản chiếm 15,8%; các
nước ASEAN chiếm 21,3%). Nhìn chung, cơ cấu thi trường xuất khẩu đã có
những chuyển hướng tích cực. Ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do các thị
trường trong khu vực đang trên đà khôi phục, sức mua t


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status