TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
-------***-------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT
NAM SAU KHI VIỆT NAM MỞ CỬA THỊ
TRƯỜNG DỊCH VỤ BÁN LẺ
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Kim Ngân
Lớp
: Anh 2
Khóa
: 44
Giáo viên hướng dẫn : TS. Lê Thị Thu Thủy
Hà Nội, tháng 05/2009
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ
chức Thương mại thế giới WTO, thể hiện sự hội nhập mạnh mẽ và toàn diện với thế
giới thông qua các cam kết cụ thể cả trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích khái quát thực trạng các doanh nghiệp bán lẻ trên thị
trường Việt Nam, thực trạng các công cụ quản lý Nhà nước đối với thị trường dịch
vụ bán lẻ, đồng thời làm rõ các cam kết của Việt Nam trong WTO về mở cửa thị
trường dịch vụ phân phối, khóa luận đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ nhằm phù hợp với tình hình phát
triển thị trường và tuân thủ các cam kết WTO.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp bán lẻ, quản lý Nhà nước đối với
doanh nghiệp bán lẻ.
+ Tìm hiểu kinh nghiệm thành công của một số quốc gia trong công tác quản lý
Nhà nước với thị trường dịch vụ bán lẻ
+ Phân tích, đánh giá thực trạng các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam
và tác động của các cam kết WTO đối với thị trường bán lẻ.
+ Phân tích các công cụ quản lý Nhà nước hiện nay đối với các doanh nghiệp trên
thị trường bán lẻ Việt Nam.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với doanh
nghiệp bán lẻ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là công tác quản lý Nhà nước đối với các
doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở việc phân tích các công cụ quản lý
Nhà nước, trong đó tập trung vào công cụ hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động
của các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam.
2
sau đây:
Theo định nghĩa của Philip Kotler:
Bán lẻ là mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu
dùng cuối cùng để họ sử dụng cho cá nhân, không mang tính thương mại1
Bất kỳ một tổ chức nào làm công việc này cũng là một tổ chức bán lẻ, bất kể hàng
hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (bán trực tiếp, qua bưu điện, qua điện
thoại, hay qua máy bán hàng tự động) và ở đâu (trong cửa hàng, trên đường phố hay
tại nhà người tiêu dùng).
Theo khoản 8, điều 3, Nghị định 23/2007/NĐ-CP ban hành ngày 12/2/2007
của Chính phủ Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa
và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực
tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng.
Trong văn bản giải thích của mình đối với Danh sách phân loại sản phẩm
trung tâm CPC, Ban Thống kê của Liên Hợp Quốc đưa ra định nghĩa các dịch vụ
bán lẻ là “bán hàng hóa cho người tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình bao gồm các
dịch vụ kèm theo việc bán các hàng hóa đó (các dịch vụ bán lẻ)”2
Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa: Bán lẻ bao
gồm việc bán hàng hóa cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa
điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan3.
1
Philip Kotler (2007), Marketing căn bản, NXB Lao động – xã hội, trang 314
2
/>
3
/>
3. Cửa hàng chuyên doanh
4
Trương Đình Chiến – GS.PTS Nguyễn Văn Thường (1999), Quản trị hệ thống phân phối sản phẩm, NXB
Thống kê, Trang 50-52.
5
C. Theo mức độ liên kết dọc
1. Không có quan hệ liên kết (Chỉ có chức năng bán lẻ)
2. Liên kết với chức năng bán buôn
3. Liên kết với chức năng sản xuất
D. Theo hình thức pháp lý của tổ chức
1. Cùng một chủ sở hữu
2. Quan hệ thành viên
3. Quan hệ hợp tác
E. Theo phương thức tiếp xúc với khách hàng
1. Cửa hàng bình thường
2. Bán hàng qua thư
3. Bán hàng trực tiếp tại nhà
F. Theo địa điểm
1. Cửa hàng ở thành phố lớn
- Cửa hàng ở trung tâm
- Cửa hàng ở ngoại ô
2. Cửa hàng ở thành phố nhỏ
3. Cửa hàng ở vùng nông thôn
4. Điểm bán hàng cạnh đường
H. Theo mức độ cung cấp dịch vụ cho khách hàng
1. Bán lẻ dịch vụ đầy đủ
ngành dịch vụ thương mại.
Theo cách hiểu của WTO, họ không đưa ra khái niệm, định nghĩa về dịch vụ,
dịch vụ thương mại và thương mại dịch vụ. Thay vì đưa ra các khái niệm này, WTO
dành sự quan tâm cho những quy định về các phương thức cung ứng dịch vụ thương
mại giữa các nước thành viên. Vì dịch vụ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong
thương mại quốc tế, tại vòng đàm phán Urugoay, các nước thành viên GATT đã
đồng ý đưa dịch vụ vào nội dung đàm phán. Và cũng vì dịch vụ là lĩnh vực nhạy
cảm so với hàng hóa hữu hình, cho nên, để điều chỉnh các hoạt động thương mại
dịch vụ, kết thúc vòng đàm phán Urugoay, các nước thành viên đã ký một hiệp định
đa biên dành riêng cho thương mại dịch vụ, đó là Hiệp định chung về thương mại
dịch vụ (Tiếng Anh là General Agreement on Trade Services, viết tắt là GATS). Để
cụ thể hóa hơn nữa các loại hình dịch vụ mà Hiệp định GATS điều chỉnh, WTO đưa
ra danh mục phân loại các dịch vụ theo ngành (Services Sectorial Classification List
– GNS/W/120). Về cơ bản, phân loại dịch vụ của WTO dựa theo CPC (Danh mục
phân loại các sản phẩm chủ yếu - Central Products Classification). WTO phân loại
dịch vụ dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế. Toàn bộ lĩnh vực dịch vụ được chia ra 12
ngành. Mỗi ngành dịch vụ lại được chia ra các phân ngành, trong các phân ngành có
liệt lê các hoạt động dịch vụ cụ thể. Việc phân loại dịch vụ theo WTO rất thích hợp
cho việc xúc tiến đàm phán về mở của thị trường dịch vụ quốc tế. GATS điều chỉnh
dịch vụ bán lẻ là một trong các lĩnh vực của dịch vụ phân phối - bao gồm các dịch
7
vụ đại lý ăn hoa hồng, các dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ cấp
quyền kinh doanh, các dịch vụ phân phối khác.
1.1.2.2. Vị trí của doanh nghiệp bán lẻ trong hệ thống phân phối
Phân phối là quá trình lưu thông hàng hóa từ nhà chế tạo/sản xuất hay nhập
khẩu tới các nhà phân phối trực tiếp/các đại lý bán hàng; hay các công ty thương
mại, các đối tác thu mua tới tay người tiêu dùng/các khách hàng kinh doanh, nhà
hóa
-
Thứ ba, thiết lập các mối liên hệ - tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những
người mua tiềm ẩn.
-
Thứ tư, hoàn thiện hàng hóa – làm cho hàng hóa đáp ứng được yêu cầu của
người mua.
-
Thứ năm, tiến hành thương lượng – những việc thỏa thuận về giá cả và
những điều kiện khác để thực hiện bước tiếp theo là chuyển giao quyền sở
hữu hay quyền sử dụng
-
Thứ sáu, tổ chức lưu thông hàng hóa – vận chuyển và bảo quản, dự trữ hàng
hóa
-
Thứ bảy, đảm bảo kinh phí – tìm kiếm và sử dụng nguồn vốn để bù đắp các
chi phí hoạt động
-
Đặc
- Số dịch vụ tối - Số dịch vụ hạn - Có nhiều dạng - Có rất nhiều
điểm
thiểu: Người tiêu chế: Có người bán dịch vụ: Mức độ dạng
nổi bật
dùng sẵn sàng tự hàng giúp đỡ
giúp đỡ cao hơn từ Dịch vụ
tìm, so sánh và lựa - Giá cả hấp dẫn
phía nhân viên, sóc khách hàng
chọn hàng hóa
- Bán những mặt người tiêu dùng tốt
- Giá cả hấp dẫn
hàng
chủ
chủ
hàng
lưu Cửa hàng chuyên
bán lẻ, cửa hàng cửa hàng tạp hóa, động,
cửa hàng doanh, cửa hàng
thực phẩm, cửa cửa hàng bán qua bách
hóa,
cửa bách hóa tổng
hàng hạ giá, cửa bưu điện
hàng bán qua điện hợp
hàng bán qua bưu
thoại, cửa hàng tạp
điện,
hóa
máy
bán
người mua xăng có thể kết hợp mua rất nhiều mặt hàng tiêu dùng thường ngày như
bánh mì, sữa, thuốc lá, bánh ngọt, cà phê…
- Siêu thị liên hợp, siêu thị bách hóa và các tổ hợp thương mại: kiểu cửa hàng vượt
hơn hẳn siêu thị thông thường về quy mô. Siêu thị liên hợp là dạng siêu thị với
chủng loại hàng được mở rộng do có bán cả thuốc không cần toa và thuốc theo toa.
Siêu thị bách hóa có quy mô diện tích lớn hơn siêu thị thông thường , cố gắng thỏa
mãn đầy đủ các nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm cũng như về hàng hóa
không phải thực phẩm thường dùng. Ở các siêu thị bách hóa chính vì chủng loại mặt
11
hàng rộng nên giá cả thường cao hơn so với giá ở các siêu thị thông thường. Tổ hợp
thương mại vượt cả những siêu thị bách hóa về quy mô và diện tích, bao gồm siêu
thị, cửa hàng hạ giá và kho – cửa hàng bán lẻ. Chủng loại mặt hàng vượt ra ngoài
phạm vi những hàng hóa thông thường, bao gồm cả đồ gỗ, đồ điện gia dụng lớn và
nhỏ, quần áo và rất nhiều các mặt hàng khác. So với mức giá thông thường của các
siêu thị bách hóa, các tổ hợp thương mại áp dụng giá có chiết khấu.
1.1.3.3. Phân loại theo sự quan tâm tương đối về giá cả:
Có thể phân loại các cửa hàng bán lẻ trên cơ sở hình thành giá cả của chúng.
Phần lớn các cửa hàng đều bán hàng theo giá trung bình và mức dịch vụ bình
thường cho người tiêu dùng. Một số cửa hàng bán hàng hóa và dịch vụ chất lượng
cao và theo giá cao hơn. Ta sẽ xem xét các cửa hàng hạ giá, các mô hình sinh ra từ
chúng dưới dạng kho – cửa hàng và cửa hàng giới thiệu sản phẩm bán theo catalog:
- Cửa hàng hạ giá: bán những hàng hóa tiêu chuẩn theo giá thấp hơn bằng cách
giảm định mức lợi nhuận và tăng khối lượng tiêu thụ. Cửa hàng hạ giá thực sự có 5
đặc điểm sau: 1. nó luôn bán hàng theo giá thấp hơn giá thịnh hành ở các cửa hàng
có phụ giá cao và tốc độ quay vòng hàng dự trữ chậm; 2. nó coi trọng hàng hóa có
nhãn hiệu phổ biến trong toàn quốc nên giá thấp hoàn toàn không phải do chất
lượng hàng kém; 3. nó hoạt động theo phương pháp tự phục vụ với những tiện nghi
Người tiêu dùng đôi khi khó chịu vì máy hư, không bổ sung hàng kịp thời và không
thể trả hàng lại được.
- Phục vụ đơn hàng có chiết khấu: hỗ trợ nhóm khách hàng đặc biệt, thường là công
nhân viên của những tổ chức lớn như trường học, bệnh viện, đoàn thể, cơ quan nhà
nước, mua hàng theo giá có chiết khấu của một số người bán lẻ nhất định.
- Bán hàng lưu động: hoạt động theo nguyên tắc đến từng nhà, từng cơ quan hay
theo nguyên tắc bố trí những cuộc hẹn mua bán tại nhà. Ví dụ công ty Avon có một
ý tưởng độc đáo, xây dựng đội ngũ nhân viên nữ vừa là bạn, vừa là cố vấn cho các
bà nội trợ về mỹ phẩm, chào hàng rải khắp thế giới và biến công ty Avon thành
công ty mỹ phẩm lớn nhất thế giới và công ty bán hàng lưu động lớn nhất thế giới.
1.1.3.5. Phân loại theo loại hình sở hữu cửa hàng:
- Mạng lưới công ty: Là một trong những hiện tượng quan trọng và đáng kể nhất
ngành thương nghiệp bán lẻ trong thế kỷ 20. Mạng lưới cửa hàng là hai hay nhiều
doanh nghiệp thương mại chung một quyền sở hữu và kiểm soát, bán những chủng
13
loại hàng tương tự nhau, có chung một bộ phận thu mua và tiêu thụ và cũng có thể
có hình thức kiến trúc như nhau.
- Các hợp tác xã tiêu thụ: Là công ty bán lẻ thuộc quyền của chính người tiêu dùng,
khi dân cư của một cộng đồng nào đó chung tiền mở cửa hàng riêng của mình, cùng
xác định những nguyên tắc hoạt động cho cửa hàng và bầu các thành viên của ban
quản trị.
- Tổ chức của những người có quyền ưu đãi: là sự liên kết theo hợp đồng giữa
những người chủ sở hữu quyền ưu đãi (nhà sản xuất, người bán sỉ hay tổ chức dịch
vụ) và những người được hưởng quyền ưu đãi (những nhà kinh doanh độc lập, mua
quyền sở hữu một hay một số điểm của hệ thống hoạt động trên cơ sở quyền ưu đãi
đó). Điểm khác biệt cơ bản của tổ chức này so với các liên kết theo hợp đồng khác
(mạng lưới tự nguyện, hợp tác xã bán lẻ) là thường bán một mặt hàng độc đáo, dịch
giờ cũng có nguồn gốc từ kinh tế, và ngược lại bất kỳ một hoạt động nào của nhà
nước cũng, hoặc là thúc đẩy, hoặc là kìm hãm sự phát triển kinh tế. Ngày nay sự
cạnh tranh giữa các quốc gia cơ bản là về tiềm lực kinh tế. Tiềm lực kinh tế đã trở
thành thước đo về vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để bảo
vệ và duy trì sức mạnh của mỗi quốc gia. Vấn đề quan trọng là mỗi nhà nước phải
xác định được phạm vi, mức độ, vai trò của mình trong quản lý kinh tế sao cho phù
hợp với bản chất và định hướng chính trị, đồng thời có tri thức và kỹ năng để thực
hiện thành công, có hiệu quả vai trò của mình trong thực tế.
1.2.2. Chức năng của quản lý Nhà nƣớc về kinh tế
Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là hình thức biểu hiện phương hướng
và giai đoạn tác động có chủ đích của nhà nước, là tập hợp những nhiệm vụ khác
nhau mà nhà nước phải tiến hành trong quá trình quản lý kinh tế đất nước
Thực chất chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là nhà nước tạo ra và thực
hiện một cơ chế hay phương thức quản lý nền kinh tế quốc dân, đảm bảo sự phát
triển nhanh và bền vững
Phân tích chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là nhằm hiểu được nhà
nước phải làm những công việc gì để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển.
7
PGS.TS. Nguyễn Cúc (Chủ biên) (2008), Tập bài giảng Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Đại học Kinh tế
quốc dân, trang 31
15
Nhận thức rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là cơ sở khách quan để tổ chức
bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, từ chức năng mà sắp xếp bộ máy và bố trí biên
chế về con người. Mặt khác chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là những nhiệm
vụ tổng quát mà nhà nước phải thực hiện trong từng thời gian nhất định, do yêu cầu
của nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội và do tình hình, điều kiện cụ thể của từng
mục tiêu và những chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong khoảng thời gian
thường là 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn.
Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý của nhà nước và
các chức năng quản lý khác phải căn cứ vào đó để thực hiện.
Chức năng định hướng bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
16
-
Xác định các nhiệm vụ, là xác định những công việc phải làm trong khoảng
thời gian nhất định để tạo ra sự phát triển kinh tế đất nước.
-
Xác định mục tiêu dài hạn của phát triển kinh tế đất nước. Đây là nội dung
quan trọng của chức năng định hướng, vì mục tiêu là khởi đầu của quản lý,
nó chi phối toàn bộ hoạt động quản lý. Xác định mục tiêu đúng còn là cơ sở
để xác lập các nguyên tắc và bộ máy quản lý.
-
Xác định chiến lược phát triển kinh tế:
+ Các đường lối tổng quát, các chủ trương mà nhà nước sẽ thực thi trong một
thời gian đủ dài
+ Các mục tiêu dài hạn cơ bản của đất nước
+ Các giải pháp chủ yếu để thu hút và phân bổ các nguồn lực, các tiềm năng
trong và ngoài nước, nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
cơ sở pháp lý cho các hoạt động và nhà nước thực hiện sự quản lý của mình với các
hoạt động đó.
d. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các chính sách, các công cụ và các đòn bẩy
kinh tế
Chính sách là tổng thể các phương thức, biện pháp, phương tiện nhất định,
được nhà nước sử dụng, nhằm tác động đến cá nhân, nhóm người, xã hội, để đạt tới
các mục tiêu bộ phận, trong quá trình thực hiện các mục tiêu tổng thể phát triển
kinh tế xã hội như:
-
Chính sách tài chính;
-
Chính sách tiền tệ - tín dụng;
-
Chính sách kinh tế đối ngoại…
đ. Tổ chức và điều hành các hệ thống kinh tế trong nước hoạt động
Với chức năng tổ chức sản xuất, nhà nước phải hình thành các đơn vị kinh tế
theo ngành, theo vùng, theo thành phần kinh tế và theo loại hình sản xuất – kinh
doanh, cũng như các trung tâm khoa học, đào tạo và các đơn vị sự nghiệp, phục vụ
cho phát triển kinh tế.
Với chức năng điều hành, nhà nước phối hợp hoạt động giữa các cơ quan,
đơn vị trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo những mối quan hệ cần thiết trong quá
trình thực hiện những mục tiêu kế hoạch của đất nước..
e. Kiểm tra, kiểm soát nền kinh tế
tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
19