LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế QUẢN lý THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NGÃI THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế do Nhà nước tổ chức và thực hiện. Đó là sự chuyển dịch một chiều
thu nhập từ phía doanh nghiệp và dân cư (khu vực tư) vào khu vực công. Phía
sau quá trình chuyển dịch này gồm nhiều vấn đề đặt ra như: tương quan giữa số
thuế thu được trong hiện tại và tương lai; ảnh hưởng của thuế đến hành vi kinh
doanh, đến động thái tiêu dùng xã hội; thuế và tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã
hội...
Do đó, thuế là một lĩnh vực phức tạp, bởi lẽ không chỉ thể hiện ra
những vấn đề kinh tế mà còn chứa đựng nhiều vấn đề xã hội sâu sắc. Thuế
không những đòi hỏi tính khoa học về mặt lý luận, sự chính xác trong luật
định mà còn cần đến nghệ thuật tinh tế trong hành thu.
"Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN", hàng năm số thu về thuế
chiếm khoảng 80% đến 90% tổng thu NSNN. Điều đó đòi hỏi Nhà nước cần
tu chỉnh các Luật thuế, các văn bản pháp lý khác về thuế nhằm hoàn thiện hệ
thống thuế, đưa thuế ngày càng tiếp cận thực tiễn. Để phản ánh và theo kịp
bước chuyển của nền kinh tế thì quản lý thu thuế cần phải thay đổi và phải
được hoàn thiện hơn để đáp ứng tình hình phát triển kinh tế của đất nước cũng
như các cam kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Qua đó khai thác tối đa
những uy lực vốn có của thuế để kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội, phát
triển sản xuất kinh doanh của mọi đơn vị thuộc các thành phần kinh tế và đảm
bảo thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.
Đối với khu vực KTNQD, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng
mở rộng, đều khắp các địa bàn trong từng địa phương và cả nước. Song chế
độ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn còn thực hiện tùy tiện, chưa đúng chế
độ, hiện tượng khai man trốn thuế, lậu thuế còn nhiều từ đó tạo ra sự bất bình




- Mục đích: làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và những giải pháp thiết
thực nhằm tăng cường, hoàn thiện quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận của quản lý thu thuế đối với khu
vực KTNQD.
+ Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi.
+ Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện và
tăng cường quản lý thu thuế NQD tại tỉnh Quảng Ngãi.
- Phạm vi nghiên cứu:
Quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD rất rộng, đa dạng và phức tạp.
Vì vậy, phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý thu thuế khu vực
NQD trong các hoạt động sản xuất kinh doanh - dịch vụ trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư
nhân, Hộ kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ từ năm 1999 - 2001.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết hợp chặt chẽ
giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh
để rút ra những kết luận cần thiết.
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài
Từ những đánh giá về thực trạng, những ưu điểm, khuyết điểm và
nguyên nhân của những tồn tại của công tác quản lý thu thuế đối với khu vực
KTNQD ở tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng
cường và hoàn thiện công tác quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi hiện nay.



của bộ máy nhà nước; chi sự nghiệp giáo dục, y tế;....; đòi hỏi Nhà nước phải
có nguồn tài chính để chi. Nguồn tài chính này có được là do sự đóng góp của
mọi thành viên trong xã hội và sự đóng góp này mang tính bắt buộc. Theo
Ph.Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của
những người công dân cho Nhà nước đó là thuế má" [24, tr. 522]. Trong thời
kỳ Cộng sản nguyên thủy, khi điều kiện lao động của con người còn thô sơ,
con người lao động đủ để duy trì sự sống của mình, chưa có Nhà nước lúc đó
xã hội chưa biết thuế là gì. Với tiến trình phát triển của xã hội loài người, Nhà
nước xuất hiện, thuế cũng từ đó ra đời, tồn tại và phát triển.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, một khi Nhà nước
chỉ làm nhiệm vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước ở chừng mực nhất định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nước
có thêm nhiệm vụ điều hành, quản lý nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nước
ngày càng nhiều hơn. Đến khi Nhà nước đảm nhận thêm công việc chăm lo


6

đời sống, văn hóa, xã hội của cộng đồng thì thuế lại được động viên càng lớn
với nhiều sắc thuế và ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế.
Như vậy, khi vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước ngày càng được mở
rộng, đòi hỏi nguồn tài chính phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tăng lên.
Điều đó, không thể thiếu sự đóng góp của người dân và các tổ chức kinh tế,
đó là thuế.
Theo phân tích trên, thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà
nước và thuế ra đời khi hoạt động lao động sản xuất của xã hội loài người tạo
ra sản phẩm thặng dư. Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự chuyển
dịch giá trị sản phẩm thặng dư từ thành phần kinh tế này sang thành phần kinh
tế khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác rất đa dạng và phức tạp. Cho nên,
đứng trên giác độ toàn xã hội, đòi hỏi phải có hệ thống thuế để điều tiết thỏa

Theo một số nhà nghiên cứu: thuế là hình thức động viên, phân phối và phân
phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo pháp luật của Nhà
nước quy định, nhằm đáp ứng những khoản chi tiêu cần thiết của Nhà nước.
Đó là khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức (chủ yếu là tổ chức kinh tế)
và mọi thành viên trong xã hội; khoản thu này mang tính bắt buộc không hoàn
trả trực tiếp [25, tr. 1].
Gần đây, trong một số công trình nghiên cứu về thuế, các nhà kinh tế
cho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật các
khía cạnh sau đây: nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ
tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân; những mối quan hệ
dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã
hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh
nhà nước; xét theo khía cạnh luật pháp thuế là khoản nộp cho Nhà nước được
pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về thuế kể trên,
có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản


8

chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước
theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục
đích công cộng [30, tr. 11].
- Đặc điểm:
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có
của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển.
Nghiên cứu về thuế người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt
với các công cụ tài chính khác.
+ Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã
hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự:

cộng, Nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để buộc "người ăn
không" phải chuyển giao thu nhập từ khu vực tư sang khu vực công.
Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là
hành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có
biểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa
vụ của người công dân.
Từ đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài
chính khác của NSNN như: lệ phí, công trái hoặc hình thức phạt bằng tiền.
Hình thức phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt tiền chỉ
xảy ra đối với người nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật lệ làm phương hại
đến lợi ích nhà nước hoặc cộng đồng. Hình thức phí, lệ phí, công trái nói
chung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá. Tính bắt buộc của phí và
lệ phí chỉ xảy ra khi người trả phí, lệ phí thụ hưởng trực tiếp những dịch vụ do
Nhà nước cung cấp.
+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính
hoàn trả trực tiếp:
Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện trên các mặt sau:


10

Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính
chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho Nhà
nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thụ hưởng những dịch
vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế cũng
không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng
trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước;
mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất
thiết ngang bằng mức độ chuyển giao. Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít
chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế - xã

hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối
với con người và tài sản.
Tóm lại: những đặc điểm cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản
chất và nội dung bên trong của thuế. Từ những đặc điểm đó, giúp chúng ta
phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều
phương diện khác nhau.
1.1.2. Vai trò của thuế
+ Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhà nước:
Bất kỳ một chế độ Nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải
tạo cho mình một nền tài chính quốc gia vững chắc và lành mạnh, mà trong
đó nguồn tài chính chủ yếu được động viên từ thuế và phí ở nội bộ nền kinh tế
quốc dân.
"Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN". Ở nước ta từ khi có các Luật
thuế ra đời nguồn thu từ thuế ngày càng tăng lên, ngày càng chiếm tỷ trọng
cao trong tổng số thu ngân sách, năm 1990 đạt 86%; năm 1997 đạt 87%; năm
1998 đạt 88%, đến nay khoảng 90% [26, tr. 10]. Vai trò của thuế thực sự được
nâng lên và thể hiện rõ trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế.


12

Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý và điều
tiết của Nhà nước, thuế được áp dụng thống nhất đối với các thành phần kinh
tế, không phân biệt kinh tế nhà nước và KTNQD, nó bao quát và điều tiết các
hoạt động kinh doanh, mọi nguồn thu nhập, mọi tài nguyên thiên nhiên và
mọi hoạt động tiêu dùng trong xã hội.
Chính sách động viên về thuế cần có tác dụng bồi dưỡng nguồn thu
vững chắc, lâu dài cho NSNN. Cơ chế thuế suất không nên quá phức tạp, quá
cao mà cần nghiên cứu và tính toán dựa trên những căn cứ khoa học và sự
phát triển của nền kinh tế sẽ phù hợp hơn với khả năng đóng góp của đối

nhằm tạo lập các cân đối vĩ mô, điều tiết thị trường, đảm bảo sự thống nhất
giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt: khuyến khích
và hạn chế. Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơ cấu các loại thuế
và mối quan hệ giữa chúng cũng như việc xác định thuế suất, chế độ miễn giảm thuế phù hợp với điều kiện thực tế. Khuyến khích đối với những ngành
nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho nền kinh tế quốc dân hoặc
những ngành nghề những hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho đại đa số
quần chúng nhân dân thì áp dụng thuế suất thấp. Hạn chế, thu hẹp những ngành
nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, cho nhu cầu tiêu dùng
của nhân dân hoặc những ngành nghề ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục,
đến sức khỏe của nhân dân thì áp dụng thuế suất cao. Trong nền kinh tế thị
trường, các thành phần kinh tế tự do lựa chọn ngành nghề sản xuất, kinh
doanh, với mục tiêu đầu tư vào những ngành nghề nào mang lại lợi nhuận cao
nhất mà không tính đến hậu quả để lại sau quá trình sản xuất kinh doanh. Nhà
nước dùng công cụ thuế để điều chỉnh và hướng các hoạt động sản xuất kinh
doanh đi vào con đường phát triển có hiệu quả mang lại nhiều lợi ích cho
quốc kế dân sinh.
Trong điều kiện nay, hệ thống thuế của Nhà nước Việt Nam thể hiện
rất rõ quan điểm khuyến khích các ngành nghề sản xuất hơn là các hoạt động
thương mại, dịch vụ. Sản xuất các mặt hàng thiết yếu được khuyến khích hơn


14

sản xuất các mặt hàng và dịch vụ khác. Để khuyến khích các ngành nghề sản
xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu cần thiết khi
trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu
cầu, hay đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng không
thuận lợi cho sức khỏe, sinh hoạt của người dân,... Nhà nước thường áp dụng
thuế ưu đãi để thúc đẩy kinh tế phát triển một cách có hiệu quả, đồng bộ theo

kinh tế và người dân trong động viên điều tiết thuế và công bằng xã hội ngày
càng được nâng cao hơn, bao quát hơn.
Sự thành công trong việc đổi mới chính sách thuế của Nhà nước ta
trong những năm qua là: hệ thống thuế mới được áp dụng chung cho các
ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh
tế cũng như các tầng lớp nhân dân nhằm mục tiêu đảm bảo sự công bằng bình
đẳng trong điều tiết. Sự bình đẳng, công bằng thể hiện thông qua các chính
sách động viên như nhau giữa các thành phần kinh tế, chủ thể sản xuất kinh
doanh và mọi tầng lớp dân cư. Thông qua một hệ thống các sắc thuế, Nhà
nước điều chỉnh mức thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội, người có thu
nhập cao phải đóng thuế cao và ngược lại (thể hiện thông qua hoạt động tiêu
dùng chịu sự điều tiết của các sắc thuế gián thu và thuế thu nhập đối với
những người có thu nhập cao). Tổ chức và cá nhân kinh doanh có lợi nhuận
cao phải đóng góp thuế cao hơn những tổ chức và cá nhân kinh doanh có lợi
nhuận thấp (thể hiện ở sắc thuế TNDN).
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH

1.2.1. Một số vấn đề chung về kinh tế ngoài quốc doanh
- Kinh tế thị trường và sự tồn tại tất yếu của khu vực KTNQD:
Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc nghiên cứu KTNQD nói chung
và thuế đối với KTNQD nói riêng không thể tách rời việc nghiên cứu những
đặc điểm của môi trường mà KTNQD tồn tại và phát triển. Đó chính là nền
kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN. Bởi lẽ, khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung


16

sang cơ chế thị trường chính là nội dung bao trùm nhất của công cuộc đổi mới
được khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, được tiếp tục khẳng

xuất, điều chỉnh mọi hoạt động kinh doanh, khuyến khích sử dụng nguồn vốn
có hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội ngày càng phát triển.
Từ đặc điểm cạnh tranh, thị trường tuy thống nhất nhưng các thành phần
kinh tế hoạt động với khả năng, trình độ và mục tiêu khác nhau. Cơ chế thị
trường tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp có tiềm lực về trí tuệ, tiền vốn,
kỹ thuật, làm ăn có hiệu quả được phép làm giàu một cách chính đáng. Tuy
nhiên, trong cơ chế thị trường luôn tồn tại những khuyết tật vốn có của nó,
nhất là khi tình trạng phát triển tự phát hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Nếu
Nhà nước không đủ sức điều chỉnh thị trường thì với xu thế "mạnh được, yếu
thua" phát triển, thị trường sẽ bị rối loạn, hoạt động trốn lậu thuế, mua bán
chèn ép nhau, thậm chí có cả những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, lừa gạt, triệt
tiêu lẫn nhau để tồn tại và phát triển ngày càng gia tăng theo thời gian. Đối
lập với một số người giành thắng lợi làm giàu một cách nhanh chóng sẽ có
nhiều người thất bại làm ăn thua lỗ, phá sản, gây lãng phí tiền vốn, tăng thất
nghiệp, kinh tế bị kìm hãm, an ninh trật tự xã hội không đảm bảo, các tầng
lớp dân cư ngày càng bị phân hóa cao về thu nhập đời sống,...
Như vậy, từ trong bản thân của cơ chế thị trường đã bao hàm hai mặt
thống nhất: mặt tích cực thúc đẩy kinh tế phát triển, đời sống xã hội được
nâng cao; mặt tiêu cực là kìm hãm sự phát triển kinh tế, phân hóa đời sống xã
hội.
Ở Việt Nam, kinh tế thị trường định hướng XHCN được tiếp tục
khẳng định ở Đại hội Đảng lần thứ IX. Nền kinh tế đó phát triển dựa trên hình
thức sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp giữa
Nhà nước với tư nhân trong và ngoài nước,...trong đó sở hữu nhà nước và sở hữu
tập thể là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay ở
nước ta.


18



+ Có tính tư hữu cao, trình độ phổ biến thấp, cho nên hiểu biết về luật
cũng như ý thức chấp hành pháp luật chưa cao;
+ Vốn ít, số lượng cơ sở nhiều, nằm rải rác, phân tán ở tất cả các địa
phương trong cả nước;
+ Số thu hàng năm chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số thu ngân sách;
+ Thường xuyên biến động về số lượng cơ sở, tùy thuộc vào chính
sách, chế độ của Nhà nước trong từng thời điểm;
Mục tiêu của chủ doanh nghiệp trong khu vực KTNQD chính là lợi
nhuận, do vậy không ít cơ sở luôn tìm mọi cách, mọi sơ hở của cơ quan thuế,
cán bộ thuế, chính sách, chế độ, để luồn lách, trốn thuế.
Các hình thức tồn tại phát triển của khu vực KTNQD rất đa dạng với
số lượng lớn, ý thức trong việc thực hiện luật pháp với mức độ khác nhau, tùy
theo trình độ phát triển ở mỗi quốc gia. Song rõ ràng đây là một lĩnh vực phức
tạp trong quản lý thu thuế.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong những năm gần đây số lượng cơ sở
NQD tăng nhanh, cụ thể: khối doanh nghiệp NQD: năm 1999 có 137 cơ sở, năm
2000 có 190 cơ sở, năm 2001 có 284 cơ sở, đến tháng 4/ 2002 có 316 cơ sở; khối
hộ kinh doanh cá thể: năm có 1999 có 14.301 hộ, năm 2000 có 15.270 hộ,
năm 2001 có 15.131 hộ (hộ thuộc diện quản lý thuế môn bài) [4], [6], [7], [8].
Sự phát triển ở khu vực KTNQD ở nước ta những năm qua đã tạo
thêm nhiều của cải vật chất cho xã hội, giải quyết việc làm cho người lao
động, góp phần không nhỏ vào sự ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế.
- Ưu nhược điểm của kinh tế NQD:
KTNQD có tiềm năng lớn về trí tuệ, kiến thức, tiền vốn, lao động, sản
phẩm, hợp tác, liên doanh, liên kết...
+ Tiềm năng quan trọng nhất của KTNQD là khả năng vô tận về trí
tuệ, sáng kiến cá nhân trong đội ngũ những người lao động, trong nhân dân.




21

đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển
và tăng trưởng mạnh mẽ.
+ KTNQD có tiềm năng lao động to lớn và góp phần đáng kể vào
việc giải quyết việc làm cho xã hội. ở nước ta hàng năm bình quân có khoảng
1,243 triệu người đến tuổi lao động [35, tr. 248], bao gồm: lực lượng thanh niên
đến tuổi lao động, số học sinh tốt nghiệp dạy nghề, trung học, cao đẳng, đại
học hoặc những người lao động thất nghiệp do sắp xếp lại biên chế trong các
cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc do sắp xếp lại sản xuất trong các
ngành kinh tế quốc dân, những người bán thất nghiệp ở nông thôn, thành thị.
Đây là nguồn lao động rất dồi dào mà Nhà nước ta chưa khai thác hết được. Nếu
chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước thì sẽ không thu hút được hết những
người lao động. Thực tế trong những năm qua cho thấy, ở thời điểm cao nhất
kinh tế nhà nước chỉ thu hút khoảng 2 triệu lao động. Trong khi đó riêng kinh
tế NQD trong công nghiệp và dịch vụ năm 1992 đã thu hút trên 1,2 triệu lao
động [30]. Chỉ thông qua KTNQD với mọi hình thức, mọi quy mô, mọi loại
ngành nghề, áp dụng nhiều phương thức tổ chức, sử dụng một cách linh hoạt
mọi loại lao động của xã hội mới có thể tận dụng được các lực lượng dôi thừa.
Kinh nghiệm của các nước Tây Âu, hơn 70% kết quả tăng trưởng của
nền kinh tế là do lao động tạo ra, 30% còn lại là do tiền vốn thiết bị. Đối với
Việt Nam có đội ngũ lao động đông đảo, nếu biết cách phát huy và khai thác
thì đó là một lợi thế chứ không phải là gánh nặng.
Lao động của KTNQD ở Việt Nam còn có tiềm năng quan trọng được
bộc lộ rõ thông qua quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Trong cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, bộ máy nhà nước đã bành trướng quá
mức. Khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ chế quản
lý mới có sự quản lý của Nhà nước, chính khu vực kinh tế nhà nước đã là
nguồn cung cấp nhân lực dồi dào cho KTNQD. Theo tài liệu điều tra của Viện

trong việc tìm đối tác liên doanh.


23

+ Sự đa dạng của KTNQD tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phong phú
đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm. Thực tế
nhiều năm qua ở các nước XHCN và ở Việt Nam đều cho thấy nền kinh tế
chủ yếu dựa trên KTQD thì hàng hóa sẽ nghèo nàn về chủng loại, số lượng. Ở
Liên Xô cũ, sau 70 năm xây dựng CNXH với hàng ngàn doanh nghiệp nhà
nước chỉ có 10 triệu loại sản phẩm. Trong khi đó ở Nhật Bản một nước nhỏ
bé hơn nhiều về dân số và diện tích có tới 1,4 triệu doanh nghiệp với hơn 50
triệu loại sản phẩm.

Ở nhiều nước Đông Nam Á, KTNQD đang được

đánh giá là nguồn lực chủ yếu làm tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực
xuất khẩu, có thể tạo thu nhập quốc dân tính theo đầu người tăng lên rất
nhanh.
Đường lối phát triển kinh tế - xã hội dựa vào KTNQD về cơ bản là
một chiến lược hướng vào thị trường. KTNQD có thể quyết định và điều
chỉnh nhanh chóng sản xuất cái gì, đầu tư vào đâu để có lợi nhuận nhiều nhất.
ở các nước đang phát triển, KTNQD trở thành động lực kích thích kinh tế
phát triển tốt hơn so với sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào quá trình kinh
tế và dựa vào kinh tế nhà nước là chủ yếu.
Việt Nam, tuy KTNQD mới được công nhận và phục hồi nhưng trong
những năm qua đã xác định được chỗ đứng xứng đáng, có vai trò quan trọng
trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Sự đóng góp của KTNQD không chỉ dừng lại ở mặt làm tăng tổng sản
phẩm trong nước, thêm nhiều hàng hóa với nhiều mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý

mục tiêu, yêu cầu cơ bản là:
• Mục tiêu của hệ thống thuế:
+ Về mục tiêu tài chính:
Có thể khẳng định mục tiêu này của cải cách thuế đợt I là rất thành
công. Từ ngày thành lập đến nay ngành thuế đã không ngừng phấn đấu vươn
lên, khắc phục mọi khó khăn để liên tục hoàn thành vượt mức nhiệm vụ kế


25

hoạch thu thuế dược giao. Số thu năm sau tăng nhiều hơn năm trước, số thuế
thu trong năm 1999 bằng khoảng 9,7 lần số thuế thu năm 1990. Trước đây
thuế chỉ đảm bảo 50% - 60% tổng số thu NSNN, đến nay đã chiếm trên 90%,
nhờ vậy đã đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng của
NSNN, không phải phát hành cho chi tiêu hành chính nữa, đồng thời giảm bội
chi NSNN và dành được một phần tích lũy đáng kể cho phát triển kinh tế, góp
phần đẩy lùi lạm phát từ 3 con số trong những năm cuối thập kỷ 80, xuống
còn 4% trong năm 1999, tạo cơ sở ổn định và từng bước cải thiện đời sống
nhân dân, nhất là những người hưởng lương hành chính - sự nghiệp, hưu trí,
hưởng phụ cấp xã hội,.... Về cơ bản chính sách thuế thường xuyên được xem
xét, sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với sự biến động phức tạp về tình hình
kinh tế - xã hội của đất nước. Những biện pháp về cải tiến, tổ chức thực hiện
cũng đã góp phần đáng kể vào thành tích trên, đặc biệt là việc thường xuyên
củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy đào tạo, rèn luyện cán bộ thuế theo 10 điều
kỷ luật của ngành. Tuy vậy, kết quả thu được còn chưa phản ánh đúng tình
hình phát triển kinh tế. Cả nước còn có đến 60% - 70% cơ sở kinh doanh
được nộp thuế theo hình thức khoán, hiệp thương, chủ yếu theo cảm tính,
chưa đảm bảo kết quả thu thuế sát với hoạt động của từng cơ sở, vừa lạm thu,
vừa thất thu, đặc biệt là ở khu vực KTNQD. Số nợ đọng dây dưa kéo dài đến
hàng trăm tỷ đồng cũng là nguyên nhân gây thất thoát lớn cho NSNN. Tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status