LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế TIẾP tục đổi mới QUẢN lý NGÂN SÁCH GIÁO dục đào tạo ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác giáo dục đào tạo (GD-ĐT). Cùng với khoa học và công nghệ, GD-ĐT đã được Đại hội
VIII của Đảng xác định là quốc sách hàng đầu, coi đầu tư cho giáo dục là đầu
tư cho phát triển. Trong những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và ngân
sách nhà nước còn nhiều khó khăn, Nhà nước vẫn dành một tỷ lệ ngân sách
đáng kể để đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Với nguồn ngân sách đó, GD-ĐT
đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế
cần phải khắc phục. Để phát huy hơn nữa hiệu quả sử dụng ngân sách, khắc
phục những hạn chế còn tồn tại, một trong những vấn đề quan trọng cần phải
làm sáng tỏ thêm cả về lý luận lẫn thực tế đó là đổi mới quản lý ngân sách
giáo dục- đào tạo. Xuất phát từ thực tế trên đây, đề tài "Tiếp tục đổi mới
quản lý ngân sách giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay" được lựa chọn
làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành quản lý kinh tế và hy vọng
rằng sẽ đóng góp một phần nhỏ đáp ứng đòi hỏi thực tiễn đang đặt ra hiện
nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu về đổi mới công tác lập kế hoạch
và cơ chế quản lý ngân sách giáo dục và đào tạo giai đoạn 1990 - 1995 như
"Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách hệ thống giáo dục quốc dân"
của TS Trần Thu Hà (năm 1993); đề tài "Xây dựng qui trình lập kế hoạch và
cơ chế điều hành ngân sách giáo dục - đào tạo", đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ của Bộ Tài chính (năm 1996)... Các công trình trên đề cập đến nhiều
khía cạnh về quản lý, điều hành ngân sách giáo dục - đào tạo ở tầm vĩ mô,
nặng về tổng kết thực hiện các năm trước, chưa chú trọng nghiên cứu một
cách cơ bản, hệ thống cơ chế quản lý ngân sách GD-ĐT và ít chú trọng đến



3

Cơ sở lý luận để nghiên cứu luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử và các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm đường lối chính sách tài chính, chính sách giáo dục
nước ta.
Cùng với phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng
các phương pháp nghiên cứu là kết hợp nghiên cứu lý thuyết với quan sát
đánh giá thực tiễn, đồng thời sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, hệ
thống hóa, phân tích, so sánh từ đó đề ra các giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới
quản lý ngân sách GD-ĐT ở nước ta hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương, 9 tiết


4

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
NGÀNH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO

1.1. SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC

1.1.1. Vai trò, vị trí của sự nghiệp giáo dục - đào tạo
Giáo dục bao gồm tất cả các loại hình học tập từ mầm non, giáo dục
phổ thông, bổ túc văn hóa nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành
người lao động có giác ngộ chính trị, có phẩm chất đạo đức, có sức khỏe đồng
thời có trình độ văn hóa phổ thông, làm cơ sở cho quá trình đào tạo tiếp theo.

hóa trên cơ sở đầu tư phát triển mạnh nguồn lực con người. Sự đầu tư được
hiểu trên cả ba mặt: chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức sống và phát triển sự
nghiệp GD-ĐT. Trong đó đầu tư cho sự nghiệp GD-ĐT là đầu tư có hiệu quả
nhất.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở đất nước ta đặt ra mục tiêu
là đến năm 2020 về cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp. Nhân tố quyết
định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH là nguồn lực con người Việt Nam
được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được
nâng cao. Vì vậy, muốn đảm bảo tăng trưởng về kinh tế, giải quyết các vấn đề
xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị trước hết phải
chăm lo phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao động có
những phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong
giai đoạn mới. Để làm được điều này ngành GD-ĐT phải nhanh chóng đổi
mới, phấn đấu đưa nền giáo dục nước nhà đạt trình độ tiên tiến so với các
nước trong khu vực trong vòng một, hai thập kỷ tới.
1.1.2. Mối quan hệ giữa giáo dục - đào tạo với sự phát triển kinh tế xã hội


6

Giáo dục - đào tạo đã và đang trở thành một lực lượng sản xuất trực
tiếp, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nhận thức đúng đắn vai trò của GD-ĐT đã làm thay đổi thái độ của nhiều
quốc gia đối với vấn đề phát triển giáo dục. Nhiều quốc gia đã nhìn thấy nguy
cơ tụt hậu của quốc gia mình, có một phần nguyên nhân từ sự yếu kém về
GD-ĐT. Vì vậy, xu hướng tăng cường phát triển GD-ĐT, coi nó như một đòn
bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đã trở thành một xu hướng có tính
chất toàn cầu trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2.1. Giáo dục - đào tạo là động lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, lao động là yếu

Vai trò động lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội của GD-ĐT còn
được thể hiện ở việc giáo dục nâng cao dân trí làm nền tảng cho sự phát triển
của đất nước. Dân trí được biểu hiện ở trữ lượng và trình độ học vấn của dân
tộc. Giáo dục nâng cao dân trí có nghĩa giáo dục phải nâng cao được qui mô
và chất lượng về phẩm chất đạo đức, trình độ khoa học công nghệ, thể chất và
thẩm mỹ. Trình độ dân trí được coi là sức mạnh của công cuộc phát triển kinh
tế xã hội của đất nước trước mắt và lâu dài.
Khi đánh giá mặt bằng dân trí của quốc gia người ta phải chú ý cả
phương diện định tính và định lượng của dân trí. Mặt định tính của dân trí
được thể hiện ở chất lượng học vấn mà người dân đã đạt được (học vấn đó có
phù hợp với trình độ tri thức chung của thế giới hay không). Mặt định lượng
của dân trí được xác định qua các chỉ số như:


Tỷ lệ người biết chữ so với tổng số dân



Tỷ lệ thanh niên, nhi đồng dưới 23 tuổi được đi học



Bình quân số năm học trung bình của một người dân



Tỷ lệ trẻ 5 tuổi học mẫu giáo trước lúc vào tiểu học




học - công nghệ, cạnh tranh về nguồn nhân lực có trình độ cao, mà khoa học công nghệ và trình độ nhân lực lại phụ thuộc vào sự phát triển của GD-ĐT. Vì
vậy, GD-ĐT là nền tảng của sự phát triển, đầu tư cho GD-ĐT là đầu tư vào
lĩnh vực phát triển bền vững và hiệu quả nhất.
1.1.2.2. Kinh tế xã hội đảm bảo điều kiện cho phát triển giáo dục đào tạo
Bất cứ nền giáo dục nào cũng không thể tồn tại và phát triển được nếu
thiếu điều kiện đảm bảo về kinh tế. Nếu giáo dục được coi là động lực cho sự
phát triển kinh tế - xã hội thì kinh tế - xã hội là nền tảng đảm bảo điều kiện
cho phát triển giáo dục. Điều này thể hiện ở một số phương diện sau:


9

- Kinh tế - xã hội đảm bảo cho sự phát triển GD-ĐT thông qua việc
đầu tư.
Muốn duy trì được hoạt động bình thường và phát triển GD-ĐT, nhất
thiết phải đầu tư. Nguồn đầu tư lớn nhất và có tính chất thường xuyên, ổn
định là ngân sách nhà nước. Đầu tư càng lớn thì giáo dục càng có điều kiện
phát triển, tuy vậy sự đầu tư còn phụ thuộc vào khả năng của nền kinh tế đất
nước cũng như chủ trương, chính sách của Nhà nước và sự quan tâm của xã
hội đối với giáo dục. Ngược lại, nếu đầu tư ít, dẫn đến giáo dục sẽ chậm phát
triển. Giáo dục chậm phát triển thì khó đạt được các mục tiêu dân trí, nhân
lực, nhân tài, từ đó ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế.
- Kinh tế - xã hội định hướng và tạo môi trường xã hội cho sự phát
triển giáo dục.
Một trong những qui luật cần lưu ý trong phát triển GD-ĐT là GD-ĐT
chịu sự chế ước của xã hội. Nội dung qui luật này thể hiện ở sự qui định của
kinh tế xã hội đối với giáo dục. Điều này có nghĩa: sự phát triển kinh tế - xã
hội qui định sự phát triển giáo dục, giáo dục mặc dù có sự vận động độc lập
của một tiểu hệ thống, nhưng phải định hướng theo sự định hướng của hệ
thống lớn là kinh tế - xã hội.

1993 đã ra Nghị quyết về "Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo" với
bốn quan điểm:
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách, là động lực thúc đẩy, là điều kiện
cơ bản đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo
vệ đất nước, phải coi đầu tư cho giáo dục là hướng chính của đầu tư phát triển
- Mục tiêu giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng
nghề nghiệp... Mở rộng qui mô đào tạo, đồng thời chú trọng nâng cao chất
lượng hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức.


11

- Giáo dục - đào tạo gắn với yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp
với xu thế tiến bộ của thời đại.
- Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội trong
giáo dục.
Trong báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ
VIII đã chỉ rõ: "Cùng với Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Coi trọng cả ba mặt: mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu
quả " [38, tr. 107]. Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng
định "đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Để thực hiện thành
công sự nghiệp CNH, HĐH phải "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm
yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững". Đảng Cộng sản Việt
Nam đã chọn GD-ĐT, khoa học - công nghệ (KH-CN) làm khâu đột phát
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đây là một chủ trương hoàn toàn
đúng đắn, chính vì vậy Đảng ta đã có riêng Nghị quyết Trung ương 2 (khóa
VIII) về GD-ĐT và KH-CN. Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đã nhất
quán với tư tưởng và mục tiêu đã nêu ở Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII)

Quan điểm GD-ĐT là quốc sách hàng đầu đã được Đảng và Nhà nước
ta khẳng định từ nhiều năm qua. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX
tiếp tục khẳng định GD-ĐT là quốc sách hàng đầu, phát triển GD-ĐT là một
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững. Nghị quyết Đại hội IX cũng đã chỉ ra phương hướng phát
triển GD-ĐT trong những năm tới là:
- Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương
pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện
"chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa"


13

- Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh
viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề. Thực hiện
phương châm "học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất,
nhà trường gắn liền với đời sống xã hội".
- Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng hình thức chính
qui và không chính qui, thực hiện "giáo dục cho mọi người", "cả nước trở
thành một xã hội học tập".
Trong những năm tới quan điểm này cần phải được quán triệt sâu sắc
hơn, phải coi là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chỉ đạo, quản lý hoạt động
giáo dục - đào tạo đồng thời phải làm cho mọi người dân, mọi cấp, mọi ngành
nhận thức rõ và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, nhiệm vụ trung tâm trên
con đường CNH, HĐH đất nước.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO

1.2.1. Các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục - đào tạo
Tài chính ra đời gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước và

nhu cầu chung của Nhà nước, của xã hội và cá nhân.
* Chức năng giám đốc là thuộc tính khách quan vốn có của tài chính,
bắt nguồn từ bản chất của tài chính. Chức năng giám đốc của tài chính bao
gồm nhiều khía cạnh, trong đó chủ yếu là quá trình kiểm tra, kiểm soát các
hoạt động tài chính nhằm làm tốt toàn bộ quá trình phân phối GNP.
Để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình, Nhà nước cần nắm
được một lượng của cải vật chất nhất định được hình thành chủ yếu từ các
nguồn thu mà các tổ chức dân cư có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước theo qui
định của pháp luật. Từ các nguồn thu đó mà quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của
Nhà nước được hình thành và nó được gọi là quỹ ngân sách - đó là cơ sở vật
chất đảm bảo cho Nhà nước tồn tại và hoạt động. "Ngân sách nhà nước là
toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo
thực hiện các chức năng của Nhà nước".


15

Đối với GD-ĐT, tài chính có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của hệ thống, nó vừa là phương tiện để hệ thống GD-ĐT duy trì và phát
triển các hoạt động của mình, vừa là công cụ để nhà nước và các cơ sở GD-ĐT
thực hiện các chính sách, các mục tiêu đã định.
Nước ta đang trong quá trình đổi mới theo hướng xây dựng nền kinh
tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đối với GD-ĐT vai trò của nguồn tài
chính tập trung của nhà nước (ngân sách nhà nước) có ý nghĩa quyết định và
chủ đạo. Tính chất này thể hiện ở các mặt sau đây:
- Ngân sách nhà nước (NSNN) là nguồn tài chính chủ yếu đảm bảo
hoạt động cho các cơ sở giáo dục và đào tạo, nhằm duy trì và phát triển hệ
thống giáo dục đào tạo theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

đây ở các nước phát triển và đang phát triển. Bản chất của XHHGD là đa
dạng hóa các loại hình đào tạo, là sự huy động đóng góp của mọi người, mọi
tầng lớp, tổ chức và xã hội tham gia vào giáo dục dưới sự điều tiết và giám sát
của nhà nước. Hình thức XHHGD chính là công cụ để tăng cơ hội tiếp cận
với giáo dục cho mọi người, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước phải đầu tư
vào giáo dục và thúc đẩy tiến trình tiến tới một xã hội học tập.
Trong những năm qua, chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo có
xu hướng tăng lên, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển ngành
giáo dục đào tạo. Chính vì vậy cần phải tích cực huy động các nguồn lực tài
chính ngoài NSNN. Vai trò của nguồn ngoài NSNN đầu tư cho giáo dục đào
tạo thể hiện trên các mặt sau đây:
- Tăng nguồn đầu tư cho sự nghiệp GD-ĐT để nâng cấp cơ sở vật
chất, cải thiện đời sống cán bộ giáo viên nhằm từng bước nâng cao chất lượng
giáo dục đào tạo
- Khai thác các tiềm năng, sự đóng góp của các thành phần kinh tế,
của cộng đồng xã hội, trong khi nguồn NSNN còn hạn hẹp
- Tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đào tạo chủ động hơn trong
việc huy động và sử dụng có hiệu quả sự đóng góp của cộng đồng xã hội


17

Các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục - đào
tạo bao gồm:
- Tiền học phí, lệ phí tuyển sinh, tiền đóng góp xây dựng trường sở
của học sinh và gia đình người học. Đây là nguồn thu tương đối ổn định theo
chế độ chính sách qui định của nhà nước. Cùng với nguồn NSNN, học phí và
các khoản lệ phí có thể xác định được căn cứ vào số lượng người học và mức
thu theo qui định có phân biệt đối với từng đối tượng, vùng miền và bậc học.
Nguồn thu này có thể kế hoạch hóa được trong dự toán thu chi ngân sách

theo nhất là khâu chấp hành ngân sách. Dự toán ngân sách phải đảm bảo thực
hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểm chính sách tài chính quốc gia như: trật
tự cơ cấu các nguồn thu, thứ tự, cơ cấu và nội dung chi tiêu đồng thời phải
tuân thủ các yêu cầu của Luật Ngân sách nhà nước.
* Chấp hành dự toán NSNN là khâu tiếp theo sau khâu lập ngân sách.
Đó là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế- tài chính nhằm biến
các chỉ tiêu thu chi ghi trong kế hoạch NSNN trở thành hiện thực. Thông qua
chấp hành NSNN mà tiến hành kiểm tra việc thực hiện các chính sách chế độ,
tiêu chuẩn, định mức kinh tế- tài chính của Nhà nước.
* Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của một chu trình ngân
sách. Đó là việc tổng kết lại quá trình thực hiện dự toán ngân sách sau năm
ngân sách kết thúc nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm
ngân sách. Công tác quyết toán ngân sách thực hiện tốt sẽ có ý nghĩa hết sức
thiết thực trong việc đánh giá quá trình chấp hành ngân sách sau 1 năm, rút ra
những bài học bổ ích cho công tác lập ngân sách và chấp hành ngân sách cho
những chu trình tiếp theo.
Quản lý ngân sách GD-ĐT có những đặc điểm chính sau đây:
- Hầu hết các đơn vị thuộc ngành GD-ĐT được coi là các đơn vị hành
chính sự nghiệp. Đó là các đơn vị được trang trải mọi khoản chi phí để thực
hiện nhiệm vụ chính trị của mình từ nguồn NSNN theo nguyên tắc không
bồi hoàn một cách trực tiếp. Quản lý ngân sách GD-ĐT chủ yếu là quản lý


19

các nguồn kinh phí từ NSNN cấp hàng năm (các nguồn thu khác chỉ chiếm tỷ
lệ nhỏ).
- Kế hoạch NSNN giao hàng năm cho ngành GD-ĐT được tính theo
năm tài chính (năm dương lịch), nhưng khi tính toán để xây dựng dự toán ngân
sách, phân bổ, điều hành ngân sách lại phải tính đến năm học.

+ Chi cho các trường bồi dưỡng cán bộ.
+ Chi cho các trường dân tộc nội trú Trung ương.
+ Chi đào tạo lưu học sinh nước ngoài ở Việt Nam.
+ Chi đào tạo lưu học sinh Việt Nam ở nước ngoài.
+ Chi đào tạo sau đại học.
+ Chi đào tạo lại.
+ Chi cho các công việc chung của ngành: (Học sinh thi quốc tế, hội
nghị, hội thảo ngành; nộp niên liễm...)
* Chi đầu tư và chi chương trình mục tiêu:
+ Đầu tư cho các trường Đại học, Cao đẳng.
+ Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học, mua sắm trang thiết
bị dạy và học.
+ Đầu tư nhằm thực hiện các chương trình quốc gia (như: chống mù
chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; hỗ trợ giáo dục miền núi; tăng cường cơ sở
vật chất trường học và bồi dưỡng giáo viên...)
1.2.2.2. Nội dung chi NSNN cho giáo dục - đào tạo ở địa phương
* Chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo (bao gồm bốn
nhóm chi là: chi cho con người, chi hành chính quản lý, chi giảng dạy học tập,
chi mua sắm sửa chữa).
+ Chi cho các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và
công nhân kỹ thuật, trường dạy nghề.
+ Chi đào tạo đại học tại chức, đào tạo sơ cấp ngắn hạn.
+ Chi cho trung tâm lao động hướng nghiệp dạy nghề.


21

+ Chi cho trung tâm giáo dục thường xuyên, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh.
+ Chi các trường dân tộc nội trú do tỉnh trực tiếp quản lý.
+ Chi cho các trường phổ thông (Tiểu học, THCS, THPT) và BTVH.

- Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, ngành giáo dục - đào
tạo đòi hỏi phải có sự đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất trường học: trang bị
máy móc thí nghiệm, dụng cụ thực hành, đồ dùng giảng dạy và học tập hiện
đại phục vụ cho việc đổi mới chương trình, nội dung giáo dục - đào tạo...
Điều này cũng đòi hỏi mức độ đầu tư ngân sách của Nhà nước tăng hơn
những năm trước đây, do đó công tác quản lý ngân sách GD-ĐT cần phải
được tăng cường và đổi mới để quản lý NSNN một cách có hiệu quả.
- Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, ngành giáo dục đào tạo đã và đang thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục - đào tạo. Một
nội dung quan trọng của xã hội hóa giáo dục là huy động sự đóng góp của nhân
dân nhằm tăng cường cơ sở vật chất nhà trường, trợ giúp những học sinh nghèo
vượt khó, chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước trong việc xây dựng, phát triển
giáo dục. Để sử dụng một cách có hiệu quả hơn nữa nguồn kinh phí đầu tư cho
giáo dục - đào tạo, thì tiếp tục đổi mới quản lý ngân sách là tất yếu khách quan.
1.3. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NGÂN SÁCH GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO Ở
MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC

Đầu tư cho giáo dục- đào tạo là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho tương
lai, đó là quan điểm của hầu hết các nước trên thế giới. Trong nền kinh tế thị
trường, nguồn kinh phí đầu tư cho giáo dục - đào tạo không phải chỉ từ khu vực
Nhà nước mà còn từ các khu vực khác (doanh nghiệp, tư nhân, khu vực liên
doanh với nước ngoài...). Do vậy, lập kế hoạch cấp phát và quản lý ngân sách
cho GD-ĐT dựa trên các nguồn kinh phí đầu tư của toàn xã hội, tỷ lệ đầu tư
cho GD-ĐT ở các nước phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, khả năng NSNN, trình
độ dân trí, yêu cầu cải cách giáo dục... Bảng dưới đây cho thấy mức độ đầu tư
cho GD-ĐT ở một số nước trên thế giới qua số liệu công bố của UNDP:


23

Bảng 1.2: Đầu tư cho GD-ĐT ở một số quốc gia

Trung Quốc 1.220

923,6

750

2,3

21,2

17

Hàn Quốc

46,1

398,8

8.600

3,7

14,7

320

Thái Lan

60,3


32.350

3,6

147,2

1.165

Mỹ

274

7.903

29.240

5,4

426,7

1.557

Anh

58,6

1.264,3

21.410


21,2

1.150

Nga

147,4

331

2.260

3,5

11,6

78,5

Các nước

1998

Nguồn: Human Development Report 2000(UNDP).
Ở nước ta, cùng thời gian trên theo thống kê của Bộ Tài chính thì tỷ lệ
chi cho giáo dục - đào tạo từ ngân sách nhà nước so GNP như sau: năm 1996
là 3,2%, năm 1997 là 3,4%, năm 1998 là 3,46%, năm 1999 là 3,21%, năm
2000 là 3,24%. Như vậy so với một số nước trong khu vực như Trung Quốc,
Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia thì tỷ lệ chi NSNN cho giáo dục trong GNP
của nước ta đạt mức trung bình, Nhưng do GNP của nước ta còn ở mức quá
thấp nên tổng chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo về số tuyệt đối còn hết sức

Việc quản lý ngân sách giáo dục được thực hiện bằng một cơ quan
giám sát và kiểm tra của Chính phủ với các công cụ pháp lý khá đầy đủ là các
đạo luật. Ngày 1/12/1980, Quốc hội Hàn quốc đã thông qua đạo luật là Luật
thuế giáo dục, theo luật định thì phải tiến hành thu thuế để đảm bảo cung cấp
cho nhu cầu của kinh phí giáo dục- đào tạo. Cùng với việc cải cách giáo dục,
cải cách bộ máy hành chính, ngân sách giáo dục - đào tạo được quản lý theo
một đầu mối thống nhất là Cơ quan quản lý giáo dục trực thuộc Chính phủ.
- PHILIPPIN


25

Hàng năm Bộ tài chính đưa ra khung (Số kiểm tra) cùng các hướng
dẫn xây dựng kế hoạch chi ngân sách giáo dục - đào tạo. Các quá trình ngân
sách được tiến hành rất công phu, xác định đầy đủ cơ cấu nguồn tài chính cho
GD-ĐT. Cấp phát kinh phí được tiến hành theo từng quý, đồng thời có cơ
quan kiểm toán độc lập có trách nhiệm kiểm tra và thẩm định các báo cáo chi
tiêu nguồn NSNN cho giáo dục - đào tạo. Về cơ bản qui trình quản lý ngân
sách giáo dục - đào tạo giống Việt Nam.
- SINGAPORE
Bắt đầu từ cuối thập kỷ 60, Singapore bước vào thời kỳ cất cánh.
Trong hơn 20 năm, để hiện đại hóa nền kinh tế quốc gia, Singapore đã ra sức
phát triển giáo dục mang bản sắc dân tộc. Chính phủ coi trọng phổ cập giáo dục
nâng cao trình độ dân trí, ở các cấp tiểu học không thu học phí, ở cấp trung học
tuy có thu học phí nhưng mức thu rất thấp. Coi trọng giáo dục kỹ thuật nghề
nghiệp.
Chính phủ lập Quỹ phát triển tài năng nhằm khuyến khích các xí
nghiệp và các ngành nghề tiến hành đào tạo bồi dưỡng công nhân viên kỹ
thuật còn yếu kém thuộc xí nghiệp ngành nghề mình quản lý. Chính phủ cũng
phối hợp với các công ty xuyên quốc gia định kỳ mở những trung tâm huấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status