Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
--------o0o-------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Sinh viên thực hiện
: Thành Hiền Lƣơng
Lớp
: Anh 3
Khóa
: 45
Giáo viên hướng dẫn
: TS. Nguyễn Minh Hằng
HÀ NỘI – 5/2010
1. Mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản ...................................................... 23
2. Mô hình quản lý CTCP của Đức ............................................................... 24
3. Mô hình quản lý CTCP ở Mỹ .................................................................... 26
4. Bình luận các mô hình quản lý CTCP trên thế giới và mối liên hệ của
chúng tới mô hình quản lý CTCP ở Việt Nam. ............................................. 28
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY .......................................... 30
I. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cổ đông ............................................... 30
1. Cổ đông sáng lập ....................................................................................... 32
2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về các quyền của cổ đông nói chung .... 36
2.1. Quyền dự họp ĐHĐCĐ ........................................................................ 37
2.2. Quyền biểu quyết ................................................................................. 37
2.3. Quyền bổ, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT và kiểm soát viên 39
2.4. Quyền tiếp cận thông tin ...................................................................... 41
2.5. Quyền khởi kiện của cổ đông ............................................................... 42
3. Thực trạng bảo vệ các cổ đông thiểu số .................................................... 44
4. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ của các cổ đông................. 48
II. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ ............................ 50
1. Về loại hình và thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ .................................. 50
2. Về việc triệu tập họp ĐHĐCĐ ................................................................... 51
3. Về chương trình và nội dung họp ĐHĐCĐ: ............................................. 52
4. Về điều kiện tiến hành họp ........................................................................ 53
5. Về việc thông qua quyết định của ĐHĐCĐ ............................................... 54
III. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về HĐQT ............................................. 55
1. Những thành công .................................................................................... 74
2. Những khó khăn ....................................................................................... 74
II. Những yêu cầu về việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý CTCP .. 75
III. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý CTCP ở
Việt Nam........................................................................................................... 76
1. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về cổ đông ......................... 76
1.1. Về quyền thành lập CTCP một cổ đông ................................................ 76
1.2. Về quyền dự họp ĐHĐCĐ .................................................................... 77
1.3. Về quyền ưu đãi biểu quyết .................................................................. 78
1.4. Về quyền tiếp cận thông tin .................................................................. 78
1.5. Về quyền khởi kiện của cổ đông ........................................................... 79
1.6. Về cơ cấu cổ đông trong CTCP ............................................................ 80
1.7. Về việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số ............................... 80
2. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ......... 82
3. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về HĐQT ........................... 83
4. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về GĐ/TGĐ ....................... 83
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
5. Gải pháp hoàn thiện các quy định về việc minh bạch hóa các thỏa thuận
giữa các cổ đông với nhau và giữa cổ đông với công ty ................................ 83
6. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về BKS .............................. 84
7. Giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý CTCP qua tham khảo mô hình
quản lý CTCP của Nhật Bản ......................................................................... 84
8. Một số giải pháp khác ............................................................................... 86
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
: CIEM
7. Đảng Cộng sản Việt Nam
: ĐCSVN
8. Đại hội đồng cổ đông
: ĐHĐCĐ
9. Hội đồng quản trị
: HĐQT
10. Giám đốc/Tổng giám đốc
: GĐ/TGĐ
11. Ban Kiểm soát
: BKS
12. Kiểm soát viên
: KSV
13. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
: GCNĐKKD
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Công ty cổ phần (CTCP) là một loại hình doanh nghiệp có nhiều ưu việt và vai
trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế ở các nước trên thế giới
nói chung và ở Việt Nam nói riêng nhất là khi nước ta đang hội nhập ngày càng sâu
rộng với quốc tế.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc quản lý CTCP còn là một vấn đề khá mới mẻ nếu
so với hàng trăm năm phát triển của nó ở các nước Châu Âu. Là nước đi sau, mặc
dù có lợi thế lớn trong việc học tập kinh nghiệm của các nước đi trước nhưng việc
quản lý CTCP ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, chưa thể bứt ra khỏi
những ảnh hưởng nặng nề của cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây. Chẳng hạn
như những khó khăn, bất cập xuất phát từ việc ban lãnh đạo công ty can thiệp vào
quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông; một số cổ đông lớn (chủ yếu là
cổ đông nhà nước) nắm giữ quyền khống chế công ty, xâm hại vào quyền lợi của đa
số cổ đông thiểu số; Ban Kiểm soát mang tính hình thức, không phát huy được chức
năng giám sát, v.v. Có thể nói, những thực trạng nêu trên đã ảnh hưởng rất lớn tới
sự lành mạnh hóa việc quản lý CTCP ở nước ta trong thời gian qua, do đó, đòi hỏi
phải có sự quan tâm, nghiên cứu thấu đáo việc quản lý CTCP về mặt lý luận cũng
như thực tiễn đồng thời đưa ra các biện pháp về mặt pháp lý để giải quyết những
thực trạng đó.
2. Mục đích của đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục đích cụ thể như sau:
Thứ nhất, chỉ ra thực trạng pháp luật về quản lý CTCP tại Việt Nam, phân tích
bình luận những quy định của pháp luật về quản lý CTCP và đánh giá tác động, ảnh
hưởng của chúng trong thực tiễn quản lý CTCP.
Thứ hai, trên cơ sở phân tích thực trạng, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật về quản lý CTCP.
về quản trị CTCP do Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung – Trưởng Ban cứu Chính sách
Kinh tế Vĩ mô, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thực
hiện vào cuối năm 2007 được trình bày trong cuốn sách “Công ty vốn, quản lý và
tranh chấp”2 kết hợp với thông tin thu thập được qua các cuộc hội thảo tổng kết thực
tiễn thi hành LDN vào các năm 2008-2009 liên quan đến quản lý CTCP. Các
1
OECD (2004), OECD Principles of Corporate Governance
Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty Vốn, Quản lý và Tranh chấp, Nxb Tri Thức, Hà
Nội.
2
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
2
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
phương pháp nghiên cứu trên sẽ giúp khóa luận làm sáng tỏ những luận cứ khoa
học trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và tăng tính thuyết phục cho các đề xuất
giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý CTCP.
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, hình vẽ, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục, nội dung của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chƣơng I: Cơ sở lý luận về quản lý Công ty cổ phần
Chƣơng II: Thực trạng quản lý công ty cổ phần theo quy định của pháp luật
Việt Nam hiện nay.
Chƣơng III: Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý
công ty cổ phần.
này, tiền ùn ùn đổ về New York và tính hữu hạn đó trở thành phổ biến bởi vì bang
nào không dùng đến nó thì không thu hút được vốn. Từ sự phát triển kinh tế của
Mỹ, các nước Châu Âu thấy cần phải đuổi theo; vì vậy, họ đã giảm bớt sự kiểm soát
đối với các công ty. Tại Anh, Luật CTCP được ban hành vào năm 1844, theo đó các
CTCP muốn được thành lập không phải xin phép mà chỉ cần đăng ký. Quy định này
đã tạo động lực mạnh mẽ cho các CTCP ở Anh phát triển, góp phần đáng kể đưa
nước Anh trong thời kỳ đó trở thành bá chủ về hàng hải và là một cường quốc trên
thế giới.
Trải qua hàng trăm năm phát triển, cho đến nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa,
hình thức CTCP đã có sức bật mới với sự xuất hiện của các loại hình CTCP “đa
quốc gia”, “xuyên quốc gia” có tầm hoạt động rộng lớn và khả năng cạnh tranh cao.
Ở Việt Nam, so với các nước trên thế giới, loại hình CTCP ra đời muộn và chậm
phát triển hơn. Cột mốc đánh dấu sự ra đời của CTCP ở Việt Nam là vào ngày
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
4
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
21/12/1990 khi Quốc hội khóa VIII thông qua hai đạo luật quan trọng là: Luật công
ty và Luật doanh nghiệp tư nhân. Việc ban hành hai đạo luật này đã đặt cơ sở pháp
lý cho việc hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt
Nam như: CTCP, CTTNHH, DNTN. Tuy nhiên, sau gần mười năm thực hiện, nhiều
nội dung của hai đạo luật trên đã tỏ ra bất cập, không đáp ứng được nhu cầu điều
chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp nên rất cần phải sửa đổi bổ sung
cho phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới.
Đáp ứng nhu cầu đó, trên cơ sở hợp nhất có sửa đổi, bổ sung Luật Công ty và
Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh Nghiệp Việt Nam (LDNVN) năm 1999 đã
thừa nhận nền kinh tế thị trường có điều tiết, thể hiện sự thay đổi sâu sắc trong tư
duy lãnh đạo kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.
2. Khái niệm và đặc điểm của CTCP
2.1. Khái niệm
CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay cho nên để
tìm hiểu khái niệm CTCP trước tiên cần tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của một
doanh nghiệp nói chung.
Theo khoản 1 Điều 4 LDN 2005, Doanh nghiệp được định nghĩa là “tổ chức
kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh”. Như vậy, một doanh nghiệp nói chung có những đặc điểm pháp lý cơ bản
sau đây:
Thứ nhất, là tổ chức kinh tế, có tư cách chủ thể pháp lý độc lập;
Thứ hai, được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh doanh) theo thủ tục
do pháp luật quy định;
Thứ ba, có nghề nghiệp kinh doanh.
Do CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp theo LDN 2005 nên ngoài
mang các đặc điểm nói chung của một doanh nghiệp thì trên cơ sở các dấu hiệu đặc
trưng về số lượng thành viên, cơ cấu góp vốn, trách nhiệm pháp lý của cổ đông, tư
cách pháp nhân của công ty, việc chuyển nhượng vốn và phát hành chứng khoán,
CTCP theo điều 77 LDN 2005 còn được định nghĩa như sau:
“CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
-
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
-
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không
hạn chế số lượng tối đa;
ty đối vốn nên có sự liên kết của nhiều thành viên tham gia góp vốn vào CTCP.
Thứ hai, về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu,
người mua cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận có được hàng năm từ cổ phần gọi là
cổ tức. Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu, mỗi cổ
đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu. Đăc điểm này cũng thể hiện đặc trưng cơ
bản của CTCP là loại hình công ty đối vốn, nghĩa là khi thành lập và trong suốt quá
trình hoạt động, các thành viên công ty hoàn toàn không quan tâm đến nhân thân
người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ. Bởi vì đối với loại hình
công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết
định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết
định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty mà người đó nắm giữ.
Thứ ba, về huy động vốn: Trong quá trình hoạt động của mình, CTCP được
quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo qui định của
pháp luật về phát hành chứng khoán. Luật Công ty năm 1990, LDN năm 1999 và
LDN năm 2005 đều qui định rõ: đối với CTTNHH khi muốn tăng vốn điều lệ của
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
7
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
mình thì chỉ được thực hiện bằng cách hoặc tăng thêm phần vốn góp của các thành
viên, hoặc kết nạp thêm thành viên mới. Trong khi đó khả năng huy động vốn để
tăng thêm vốn điều lệ của CTCP là rất lớn, bất cứ lúc nào khi hội đủ các điều kiện
theo luật định thì CTCP cũng có quyền phát hành cổ phiếu mới để kêu gọi vốn đầu
tư từ các cổ đông mới. Với tính chất này, CTCP là một hình thức tổ chức đặc biệt,
năng động có thể sử dụng để huy động vốn thông qua các giao dịch trên thị trường
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
góp vốn có thể là người lao động. Mặc dù công ty chịu trách nhiệm hữu hạn nhưng
để bảo đảm an toàn cho xã hội và hoạt động của công ty có hiệu quả nhà nước phải
có nhiều ràng buộc chặt chẽ về tổ chức, hoạt động của loại hình công ty này.
3. Những ưu thế của CTCP
So với các loại hình doanh nghiệp khác ở nước ta hiện nay thì CTCP có nhiều
ưu thế hơn. Những ưu thế này xuất phát từ chính đặc điểm của CTCP và được thể
hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, CTCP là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập: Tức là sự tồn tại của
công ty không phụ thuộc vào một người chủ sở hữu hay một số cổ đông nào. Với tư
cách chủ thể là pháp nhân độc lập, CTCP có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy
định, và thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật, CTCP có thể trở
thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án. Trong
quá trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng chính tài sản
của mình. Khi mua sắm các tài sản mới thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty còn
các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần trong công ty mà không có bất kỳ quyền sở
hữu nào đối với tài sản của công ty.
Thứ hai, Các cổ đông trong CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn: Khi một tổ chức
hay cá nhân mua cổ phiếu của CTCP tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo
những phương thức nhất định vào công ty và phần vốn đó trở thành tài sản thuộc sở
hữu công ty, đồng thời cổ đông sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ
việc góp vốn. Với tư cách là một pháp nhân độc lập, các quyền và nghĩa vụ của
CTCP hoàn toàn tách biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông. Vốn thuộc sở
hữu của CTCP chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số
vốn đã đầu tư vào CTCP nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa vụ
của công ty được hạn chế trong phạm vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu. Xét trên
phương diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản
của CTCP nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của CTCP; CTCP chịu
trách nhiệm bằng chính tài sản của mình. Cả CTCP lẫn chủ nợ của công ty đều
mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ
đông. Các cổ phiếu do CTCP phát hành là “hàng hóa” nên các cổ đông khi sở hữu
cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ
giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui
khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người khác thì họ
thực hiện rất dễ dàng. Đó là lý do giải thích vì sao có rất nhiều người muốn đầu tư
vào CTCP chứ không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác. Đây cũng
là một trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường
chứng khoán.
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
10
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thứ tư, CTCP có cơ cấu vốn và tài chính linh hoạt, có thể huy động được vốn
theo yêu cầu kinh doanh: CTCP không thể được thành lập và không thể hoạt động
nếu không có vốn. Vốn quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ
cũng như quan hệ với các đối tác bên ngoài. Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty
được xem là cội nguồn của quyền lực. Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn,
quyền lực trong CTCP sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty.
Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của CTCP là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài
chính của công ty. Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong CTCP là yếu tố
năng động nhất. Các quy luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông
hàng hóa là sự lưu thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn. Sự phát triển
của CTCP tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế. Sự vận
động của vốn trong CTCP vừa chịu sự chi phối khách quan của các qui luật kinh tế,
vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người. Điều này đặt ra một đòi hỏi là
CTCP có tư cách pháp nhân độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản hoặc
thậm chí cái chết nào có thể xảy ra đối với các cổ đông thì CTCP vẫn tiếp tục tồn tại
và phát triển mà hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì cả. Đây chính là một ưu điểm bảo
đảm cho việc kinh doanh của CTCP diễn ra một cách liên tục và ổn định. Mặt khác,
pháp luật công ty của một số nước đều không hạn chế về thời gian tồn tại của CTCP
trừ những trường hợp như: công ty phá sản hoặc các cổ đông cùng thỏa thuận chấm
dứt hoạt động hay vì một lý do nào khác mà điều lệ công ty quy định. Chính sự ổn
định trong kinh doanh và thời gian hoạt động lâu dài đã khiến CTCP được ưa
chuộng hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Thứ sáu, CTCP có cơ chế quản lý tập trung cao và minh bạch: Với tư cách là
một pháp nhân độc lập, ở CTCP có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý
công ty. Trong CTCP, việc quản lý các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công
ty được giao cho ban giám đốc mà không trải đều cho tất cả các cổ đông. Sự tách
biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn được thể hiện ở chỗ Luật Công ty hiện
đại của một số nước còn qui định cho phép giám đốc quản lý công ty có thể không
phải là cổ đông của công ty. Giám đốc có thể là người đại diện theo pháp luật của
công ty và là người điều hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Rõ
ràng việc quy định như vậy một mặt thu hút được những người quản lý chuyên
nghiệp được CTCP thuê làm công tác quản lý, mặt khác việc tách biệt vai trò chủ sở
hữu với chức năng quản lý đã tạo cho CTCP có được sự quản lý tập trung cao thông
qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất phù hợp với điều kiện quản lý trong
các doanh nghiệp có quy mô lớn.
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
12
Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Quốc, tr.7.
2
Phạm Ngọc Côn (2002), Một số ý kiến nhằm hoàn thiện việc quản lý ở doanh nghiệp sau cổ phần hóa, Tạp
chí Kinh tế và Phát triển, số 3/2002, tr.49.
Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT
13