LUẬN văn THẠC sĩ LUẬT học HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT về QUYỀN KHIẾU nại, tố cáo của CÔNG dân TRONG điều KIỆN xây DỰNG NHÀ nước PHÁP QUYỀN ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại tố cáo là hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội. Bởi
lẽ, trong xã hội nói chung, và trong quá trình quản lý nhà nước nói riêng
không thể tránh khỏi tình trạng những vi phạm pháp luật xâm phạm đến lợi
ích Nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân hay tổ chức, xã
hội. Từ xưa tới nay, trong bất kì nhà nước nào, dù phát triển theo xu hướng
chính trị nào đi chăng nữa, thì các giai cấp thống trị, các nhà cầm quyền đều
muốn chế độ của mình được trường tồn. Do đó, các nhà cầm quyền ở mức độ
này hay mức độ khác, đều quan tâm và cho phép người dân được kêu oan đến
cơ quan nhà nước để được xem xét và giải quyết, nhằm làm dịu lòng dân và
ổn định xã hội. Mặt khác, thông qua việc người dân khiếu nại, tố cáo và việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các hiện
tượng tiêu cực và vi phạm pháp luật trong xã hội được kịp thời phát hiện và
xử lý, góp phần giữ vững trật tự, kỉ cương xã hội.
Ở nước ta, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước Việt nam dân
chủ cộng hoà ra đời cho đến nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác giải
quyết khiếu nại tố cáo của của công dân và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của các
cấp, các ngành trong hoạt động quản lý Nhà nước. Tuy nhiên, từ khi nước ta bước vào
thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều cơ chế, chính sách, pháp luật và các điều kiện kinh
tế - xã hội được đổi mới, tình hình khiếu nại tố cáo cũng đang có chiều hướng gia tăng
cả về số lượng, qui mô và mức độ, đặt ra những vấn đề hết sức bức xúc, phức tạp.
Thậm chí còn xuất hiện nhiều "điểm nóng" gây ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh,
chính trị, trật tự và ổn định xã hội ở một số địa phương trong cả nước . Đây là những
vấn đề nhạy cảm, đòi hỏi phải giải quyết một cách thận trọng, chặt chẽ và toàn diện.
Mặc dù đã có luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành, song đến nay,
luật khiếu nại, tố cáo mới thực hiện được hơn hai năm, đã bộc lộ những bất cập giữa lý


luận và thực tiễn. Luật chưa phản ánh được sự đa dạng của khiếu nại, tố cáo. Như

nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
7- Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm phần mục lục, mở đầu, 3 chương, 7 tiết, kết luận và danh mục
tài liệu tham khảo.


Chương 1
QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ PHÁP
LUẬT TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA
CÔNG DÂN
1.1. Khái niệm khiếu nại, tố cáo và quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân .
1.1.1. Khái niệm khiếu nại, tố cáo:
Nhà nước ra đời trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, thông
qua việc sử dụng Nhà nước, giai cấp thống trị đã điều hoà được những mâu thuẫn giai
cấp trong xã hội, bảo vệ được quyền lợi của giai cấp mình. Tuy nhiên bất kì Nhà nước
nào muốn tồn tại và phát triển đều phải an dân và ổn định xã hội. Bởi, nếu không có
dân thì cũng không có Nhà nước. Do vậy, trong hoạt động của mình, mọi Nhà nước
đều có những qui định trong luật việc bảo vệ công dân của mình. Về phía người dân,
dù người có hiểu biết cao đến hiểu biết thấp đều nhận thức rằng: dưới sự bảo hộ của
Nhà nước thì mọi quyền lợi của mình mới được bảo đảm, được bảo vệ. Song, do bản
chất của mỗi kiểu Nhà nước khác nhau nên mức độ bảo hộ cũng có khác nhau. Mặt
khác, bản thân Nhà nước cũng luôn mong muốn bộ máy do mình lập ra, trong đó có
đội ngũ quan chức Nhà nước phải tuân thủ sự điều khiển, quản lý của Nhà nước,
không muốn bất kì ai, tổ chức nào trong bộ máy nhà nước lại phá vỡ những qui định
(pháp luật) mà Nhà nước đã đặt ra. Thế nhưng, trong thực tiễn, từ nhiều lý do khác
nhau, chẳng hạn, từ sự chi phối của lợi ích, của tình cảm hay từ sự yếu kém trong quản
lý mà một bộ phận nào đó đã vô tình hoặc cố ý làm sai, thậm chí vi phạm nghiêm
trọng những quy định của Nhà nước, của pháp luật làm thiệt hại đến lợi ích của nhà
nước , quyền lợi hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội. Những sai lầm, vi phạm đó

Dưới góc độ pháp lý, luật khiếu nại, tố cáo được Quốc hội nước ta thông qua
ngày 2/12/1998 , tại Điều 2 Luật đã giải thích các khái niệm:


" 1- Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do luật này qui định đề nghị tổ chức có thẩm quyền xem xét lại quyết định
hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỉ luật cán bộ, công chức khi có căn
cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích của
mình.
2- Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do luật này qui định báo cho cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức" (Khoản 2 Điều 2 Luật khiếu
nại, tố cáo).
...10- Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành
chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước
được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể
trong hoạt động quản lý hành chính.
11- Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ theo
qui định của pháp luật..."
Từ khái niệm trên chúng ta có thể thấy rằng, giữa khiếu nại và tố cáo có điểm
chung là đều phát sinh khi có vi phạm pháp luật (hoặc bị người khiếu nại, tố cáo cho là
vi phạm pháp luật) của cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân và họ đề nghị cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử lý việc làm đó để khôi phục hoặc bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, của tập thể; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, giữa
khiếu nại và tố cáo có những điểm khác nhau cơ bản sau đây :
- Về chủ thể:
Chủ thể của khiếu nại bao gồm công dân, cơ quan, tổ chức,trong khi chủ
thể của tố cáo chỉ là công dân. Xuất phát từ tính chất của tố cáo là yêu cầu xử lý người


- Về tính chất:
Khiếu nại thường mang tính nội bộ, lấy mục tiêu sửa nhanh là chính. Vì
vậy, phương pháp giải quyết thường mềm dẻo, linh hoạt nhằm giúp cho đối tượng
nhân rõ sai sót để khắc phục, sửa chữa kịp thời, nhanh chóng. Những sai sót trong
khiếu nại thường nhỏ, đơn giản hơn trong tố cáo, dễ khắc phục hơn so với trong tố
cáo. Tính chất tố cáo thường nguy hiểm, phức tạp hơn, mức độ sai phạm nặng hơn,
ảnh hưởng đến danh dự và phẩm chất của người bị tố cáo, do đó, người bị tố cáo bao
giờ cũng hay lẫn tránh tránh nhiệm, có nhiều thủ đoạn để đối phó nhằm che giấu
khuyết điểm và hành vi vi phạm pháp luật .
Do có những điểm khác nhau cơ bản nêu trên nên luật quy định việc khiếu
nại, tố cáo và xử lý khiếu nại, tố cáo cũng khác nhau: từ quyền và nghĩa vụ của người
khiếu nại, tố cáo, người giải quyết, đến trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo đều
có những khác nhau căn bản. Trên thực tế, nhiều khi nếu chỉ căn cứ vào hình thức đơn
thư nhận được thì khó có thể xác định thuộc khiếu nại hay tố cáo. Bởi lẽ, trong đơn thư
của mình, đương sự có khi đề cập cả khiếu nại và tố cáo, nêu lên cả hai mặt cùng một
lúc. Nhiều trường hợp do tố cáo mà phát sinh khiếu nại, lấy khiếu nại để yêu cầu giải
quyết việc tố cáo hoặc ngược lại. Nhưng với những tiêu chí phân tích ở trên, thì cơ
quan, tổ chức, người có trách nhiệm có thể xác định được đó là khiếu nại hay tố cáo,
từ đó có biện pháp xử lý kịp thời, đạt hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo cho quyền
khiếu nại tố cáo của công dân được thực hiện tốt nhất. Nhận thức được sự khác nhau
trên giúp chúng ta có những luận cứ khoa học và giải pháp hữu hiệu trong việc bổ
sung, hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân ở nước ta hiện nay.
1.1.2. Khái niệm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân :
Hành vi khiếu nại, tố cáo là hiện tượng khách quan trong xã hội , và nó
chỉ trở thành quyền một khi được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật . Vì thế,
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân bao giờ cũng mang bản chất giai cấp. Ở mỗi chế
độ xã hội khác nhau, mỗi nhà nước khác nhau thì quy định nội dung pháp luật về
quyền khiếu nại, tố cáo cũng khác nhau.



Tuy nhiên nếu nghiên cứu dưới góc độ "thuật cai trị" như đã nói ở trên, thì bất
kỳ một nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tìm "kế an dân" và ổn định xã
hội. Do vậy, bằng cách này hay cách khác, dù ít, dù nhiều các nhà nước trong lịch sử
cũng như hiện tại đều có những quy định pháp luật về việc bảo vệ công dân của mình
trước những hành vi vi phạm pháp luật với mục đích là "yên dân" để duy trì sự thống
trị và phục vụ lợi ích của giai cấp mình.
1.1.2.1. Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong các triều đại phong kiến
Việt Nam:
Nghiên cứu lịch sử Việt Nam cho thấy trong những thời kỳ hưng thịnh của
nhà nước phong kiến, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn biết "dựa vào dân" và
thực hiện nhiều kế sách để "an dân". Nguyễn Trãi đã từng viết: "Việc nhân nghĩa cốt
để yên dân" [1, tr.90]. Bởi Ông đã nhận thấy: "Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là
dân". Với thuật cai trị lấy dân làm gốc, ông cha chúng ta đã tính kế, tạo điều kiện cho
mọi người dân đều có thể trình bày các nguyện vọng nỗi oan ức của mình đến nhà vua
thông qua việc thỉnh cầu và cáo giác các hành vi bạo ngược của quan lại, cường hào.
Sử cũ còn ghi, vua Lý Công Uẩn ( Lý Thái Tổ) lên ngôi (1909 - 1028) đã ra
lệnh xây cung Long Đức làm nơi xử kiện. Vua xuống chiếu: "Từ nay ai có việc tranh
kiện, cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết" [18, tr.179]. Vua Lý Thái Tông (1029 1054) thường tổ chức các chuyến kinh lý về các vùng thôn dã để xem xét việc dân,
việc quan. Hay để biết việc dân "đời vua Lý Anh Tông (1138 -1175) vào năm Mậu
Dần (1158) vua cho đặt một cái bàn gỗ ở giữa sân rồng để nhận đơn khiếu kiện của
dân"[5, tr.344]. Dưới triều vua Trần Nhân Tông (1271 - 1293) cho phép dân thường
được tâu bày những điều oan ức trực tiếp với nhà vua khi nhà vua xa giá kinh lý... Sau
này, năm 1747, chúa Trịnh Doanh cũng cho "đặt chuông mõ ở cửa phủ đường để
người tài tiến cử và người bị ức hiếp đến khiếu nại "[3, tr.23], và năm 1751, Trịnh
Doanh còn cho dân được viết thư dán kín, ghi rõ họ tên, địa chỉ và nỗi oan khuất của
mình gửi thẳng lên phủ Chúa. Đời chúa Nguyễn Ánh cũng áp dụng biện pháp này vào
năm 1788. Năm 1803, vua Gia Long cho đặt một số trạm ở các trấn lị để các quan đại



không được kêu kiện nữa. Nhưng có những việc thì pháp luật nhà Lý không giới hạn
thời gian khiếu kiện, như việc tố cáo bộ máy quan lại tham nhũng, thu sai thuế, ăn
chặn thuế [18, tr.173].
Về thời hạn giải quyết khiếu tố, thời Nhà Lê sơ có quy định: " phân việc kiện
tụngvề ruộng đật, trộm cướp đều hạn 3 tháng; kiện tụng về mưu giết 4 tháng; kiện tụng
về hộ khấu, hôn thú là 2 tháng, đều lấy ngày bắt được bị cáo làm ngày đầu tiên..."[25,
tr.13].
Về tổ chức cơ quan làm nhiệm vụ giải quyết khiếu tố của dân, trên cơ sở phân
loại việc khiếu tố, pháp luật quy định trách nhiệm cho từng cấp giải quyết. Như đã nêu
ở phần trên, hầu như các xã quan, lộ quan, huyện quan đều trực tiếp xét xử khiếu kiện
của dân; còn ở các kinh (hay trấn) do quan thừa ty, trấn ty, trấn thủ giải quyết. "Nếu
còn chưa phục tình thì mới phúc thẩm ở Ngự sử đài, nếu có tình lý thiệt hại, chưa được
giải bày rõ ràng mới cho làm đầy đủ tờ khai, cung kết phúc kêu ở chánh đường..." [25,
tr.270-274]
Nhìn chung, để thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, một số
triều đại phong kiến Việt Nam đã ban hành nhiều loại văn bản luật qui định việc gửi
đơn thư và trách nhiệm của quan lại trong việc xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của
nhân dân. Đáng kể nhất là Bộ Hình thư đời Lý (1042), Bộ Quốc triều Hình thư và
Quốc triều Hình luật (1341) đời Trần; Bộ luật Hồng Đức (1483) và Khám tụng điều lệ
(1777) thời Lê; Bộ luật Gia Long thời Nguyễn (1815)... trong đó có nhiều điều khoản
qui định về các quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Ngoài
ra các vua còn ban các văn bản đơn lẻ như Lệnh, Lệ, Dụ, Chỉ... để qui định cụ thể, chi
tiết việc giải quyết khiếu kiện của người dân.
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, triều đại nào mà người cầm quyền biết
thông cảm với nỗi khổ của dân, biết lắng nghe và hỏi ý kiến của dân, biết tôn trọng và
giải quyết những nguyện vọng, khiếu nại của dân thì thời đó đất nước thanh bình và
thịnh vượng, "vua tôi đồng lòng, cả nước hợp sức..." tạo nên một sức mạnh vô địch
vượt mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù.



dân" [14, tr.593].
Tư tưởng công dân, ý thức công dân hài hoà trong nhân cách công dân của Hồ
Chủ Tịch và luôn là mẫu mực trong đời sống. Điều này được biểu hiện trong suốt cuộc
đời hoạt động của Người. Đặc biệt là từ những ngày đầu cách mạng Tháng Tám năm
1945 và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù bận trăm công nghìn việc,
nhưng mỗi khi nhân được đơn thư khiếu tố của nhân dân, Hồ Chủ Tịch xem xét rất kỹ
rồi chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu giải quyết và báo cáo kết quả cho
người biết. Thể hiên sự sát xao, tránh nhiệm với công việc đến cùng; dù là công việc
nhỏ nhưng liên quan đến lợi ích của dân, Bác cũng đều rất thận trọng và chu đáo. Bác
rất chú ý đến giữ gìn kỷ cương phép nước, tăng cường hiệu lực trong quản lý nhà nước
, Bác thường nhắc nhở chúng ta: "không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ
nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên". Quan điểm của Bác xuất phát từ quan điểm lấy
dân làm gốc, dân là chủ, cán bộ là đầy tớ của dân. Với Bác, dân bao giờ cũng là trung
tâm, là xuất phát điểm của mọi suy nghĩ và hoạt động. Quyền khiếu nại, tố cáo trong
tư tưởng Hồ Chí Minh là biểu hiện cụ thể của quyền con người, quyền công dân trong
điều kiện Việt Nam. Đó là truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam được kết tinh
trong tư tưởng của Người, cùng với Chủ nghĩa Mác - Lê nin - nguồn sáng trí tuệ của
nhân loại đã thấm sâu trong tâm trí Hồ Chủ Tịch để trở thành kim chỉ nam cho hành
động cách mạng của Đảng ta.
Ngày nay, tư tưởng đó lại càng quan trọng trong hoạt động thực tiễn và xây
dựng các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm phát huy năng lực sáng
tạo của đông đảo nhân dân vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân và vì dân. Đảng và Nhà nước ta trong qua trình hoạt động của mình đã không
ngừng mở rộng dân chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để tạo điều kiện cho nhân dân tham
gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Nghị quyết hội nghị Trung ương
lần thứ 8 (Khoá VIII) nhấn mạnh: "Đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của công
dân. Soát xét bổ sung và thể chế hoá các chính sách, trước hết đối với chính sách lĩnh


vực mà dân khiếu kiện nhiều như những tranh chấp về nhà đất..." [ 9, tr.30]. Đặc biệt

quan, cán bộ công chức nào cũng cần quán triệt, tôn trọng, khuyến khích và tạo điều
kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật; mặt
khác nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; đe doạ
trả thù người khiếu nại, tố cáo; cố tình không giải quyết hoặc giải quyết khiếu nại, tố
cáo trái pháp luật. Đồng thời cũng nghiêm trị những ai cố tình khiếu nại, tố cáo sai sự
thật, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để xuyên tạc, vu khống, vu cáo làm hại người
khác, không tôn trọng pháp luật và làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan nhà
nước .
Xét về bản chất pháp lý , quyền khiếu nại, tố cáo tự nó không có nội dung và
xuất xứ cụ thể, thường phát sinh do vi phạm các quyền khác, và do đó, nó mang trong
lòng những nội dung của các quyền khác. Khiếu nại để đòi khôi phục quyền lợi bị
người khác xâm phạm; còn tố cáo là để tố giác những hành vi trái pháp luật khi lợi ích
của Nhà nước, của tập thể hoặc của công dân bị xâm phạm hay đe doạ xâm phạm,
trong khi chính quyền này đã được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận, Như vậy, từ những
việc làm trái pháp luật, vi phạm quyền và lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức, đã
được pháp luật thừa nhận và bảo vệ sẽ làm nảy sinh quyền khiếu nại, tố cáo nói chung,
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng.
Xét về mặt ý nghĩa, quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản
của công dân được Hiến pháp ghi nhận, phản ánh bản chất của Nhà nước và của chế
độ Xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân đối với Nhà nước và xã
hội. Những quyền đó là cơ sở pháp lý cần thiết để công dân thực hiện việc giám sát
hoạt động của các cơ quan nhà nước , góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước; loại
trừ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu nhân dân của cán bộ,
công chức nhà nước; thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo không những bảo vệ được
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nước mà còn góp phần sửa chữa các
sai phạm, khuyết điểm trong hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, kiện
toàn chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước; phát hiện và xử lý kip


thời các vi phạm pháp luật từ phía cơ quan, nhân viên nhà nước, làm cho bộ máy nhà

luận văn chỉ xem xét và hoàn thiện các qui định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
người khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, trình tự, thủ tục tiến
hành khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, về xử lý vi phạm pháp luật về
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định
67/1999/NĐ-CP. Do vậy, hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân chính là đi rà soát, đánh giá thực trạng các qui định pháp luật đó, tìm ra những
điểm bất cập, không hợp lý để đưa ra những phương hướng và giải pháp hoàn thiện
nhằm tạo ra một hệ thống các qui định pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân phù hợp và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, đồng thời mang tính dự báo
nhất định, đảm bảo thực thi và có hiệu lực, hiệu quả hơn.
Sau đây là một số nội dung cơ bản của pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo
của công dân trong Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định 67/1999/ NĐ-CP của Chính
phủ:
- Về khiếu nại, Luật khiếu nại, tố cáo qui định người khiếu nại gồm hai đối
tượng: công dân và cơ quan hay tổ chức , cán bộ hoặc công chức đều có quyền khiếu
nại. Công dân là chủ thể chính của quyền khiếu nại ,công dân theo Hiến pháp 1992 là
người có quốc tịch Việt Nam (kể cả người phạm tội hình sự bị hạn chế quyền công dân
như quyền tự do đi lại, quyền bầu cử... họ vẫn là những công dân Việt Nam và vẫn có
quyền khiếu nại). Khi thực hiện quyền khiếu nại, Luật qui định công dân phải có các
điều kiện đảm bảo, có năng lực hành vi. Trường hợp công dân có nhu cầu khiếu nại
mà không có năng lực hành vi thì Luật qui định được khiếu nại thông qua người đại
diện hợp pháp.
Pháp luật qui định chỉ có ba cơ quan gồm : Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội
đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gồm Uỷ ban mặt trận và các tổ chức
thành viên ), cơ quan báo chí khi nhận được khiếu nại có trách nhiệm nghiên cứu và
kịp thời chuyển khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, và đôn đốc,
theo dõi việc giải quyết, đồng thời báo cho người khiếu nại biết việc chuyển đơn đó.


Trong trường hợp người khiếu nại gửi khiếu nại của mình đến nhiều cơ quan thì cơ

vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, cơ quan, tổ chức. Ở đây vấn đề tố cáo không nhất thiết phải gắn liền với
lợi ích của người tố cáo.
Đối với người tố cáo, Điều 57 Luật khiếu nại, tố cáo qui định người tố cáo có
các quyền sau đây: quyền được gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền ; có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước giữ bí mật về tên, địa
chỉ, bút tích của mình và có quyền yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước đảm bảo an toàn cho họ, tránh sự trù dập, đe
doạ, trả thù. Đi đôi với quyền tố cáo, Luật qui định người tố cáo có nghĩa vụ: phải
trình bày trung thực về nội dung tố cáo; nêu rõ họ tên, địa chỉ của mình; chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
- Về thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo, pháp luật qui
định như sau :
+ Đối với khiếu nại thì quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ
quan nào bị khiếu nại thì thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết lần đầu. Nếu
giải quyết lần đầu không thoả đáng, vẫn bị khiếu nại thì cơ quan cấp trên trực tiếp là
cơ quan có thẩm quyền giải quyết (hoặc kiện ra Toà án hành chính thì theo thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính), cứ như vậy cho đến khi có quyết định giải quyết cuối
cùng thì chấm dứt khiếu nại. Những khiếu nại có nội dung liên quan đến hai cơ quan
quản lý thì cơ quan nào được giao nhiệm vụ quản lý chính có thẩm quyền giải quyết.
+ Đối với tố cáo, thẩm quyền giải quyết tố cáo được giao cho thủ trưởng cơ
quan có nội dung bị tố cáo trực tiếp giải quyết nếu việc tố cáo không liên quan đến
thủ trưởng cơ quan đó. Trường hợp thủ trưởng cơ quan có liên quan đến nội dung tố
cáo thì thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết .


Tổ chức thanh tra nhà nước là cơ quan giúp thủ trưởng cùng cấp quản lý nhà
nước về khiếu nại, tố cáo. Các tổ chức thanh tra nhà nước có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại, tố cáo khi được thủ trưởng cùng cấp uỷ quyền, và đương nhiên có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh trong nội bộ ngành cũng như các cơ quan

nội dung: họ tên, địa chỉ người khiếu nại, tố cáo ; nội dung vụ việc khiếu nại, tố cáo :
Họ tên, địa chỉ, chức vụ người khiếu nại, tố cáo ; yêu cầu của người khiếu nại, tố cáo .
Kèm theo đơn, người khiếu nại, tố cáo phải gửi kèm theo hồ sơ , tài liệu và cung cấp
các chứng cứ về vụ việc bị khiếu nại, tố cáo .
Nhận được tài liệu, chứng cứ này, cơ quan nhà nước phải ghi biên nhận cho
người khiếu nại, tố cáo. Nếu khiếu nại, tố cáo trực tiếp bằng lời nói với cơ quan có
thẩm quyền thì cán bộ tiếp nhận phải ghi lại nội dung như đối với khiếu nại, tố cáo
bằng đơn. Kể cả khiếu nại, tố cáo bằng đơn hay bằng lời trực tiếp đều phải có chữ ký
của người khiếu nại , tố cáo vào đơn hoặc văn bản ghi lại nội dung khiếu nại, tố cáo.
Đối với tố cáo, cán bộ tiếp nhận tố cáo phải có trách nhiệm giữ bí mật họ tên, địa chỉ,
bút tích của người tố cáo ( Điều 57 Luật khiếu nại, tố cáo ).
Trong 10 ngày, kể từ ngày tiếp nhận khiếu nại, tố cáo , nếu vụ việc thuộc thẩm
quyền giải quyết của mình, thì người giải quyết khiếu nại, tố cáo phải ra quyết định
thụ lý giải quyết. Nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền của cơ quan ( không thụ lý) thì
phải nêu rõ lý do. Cả hai trường hợp thụ lý hoặc không thụ lý, cơ quan tiếp nhận khiếu
nại, tố cáo đều phải thông báo bằng băn bản cho người khiếu nại biết (nếu là khiếu
nại ), hoặc cơ quan đó phải có trách nhiệm chuyển cho cơ quan , tổ chức có thẩm
quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo biết nếu họ yêu cầu (đối với tố cáo ).
Giai đoạn thứ hai: Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Sau khi thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ra quyết định
thụ lý giải quyết thì giao cho cán bộ thanh tra thẩm tra, xác minh vụ việc và kiến nghị
giải quyết .



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status