BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
=========o0o=========
ĐÀO ANH TUẤN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế (Khoa học quản lý)
Mã số : 62.34.04.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
HÀ NỘI 2014
Công trình được hoàn thành tại:
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. Lê Du Phong
Phản biện 1: PSG.TS. Nguyễn Văn Minh
Phản biện 2: PSG.TS.Hoàng Đình Phi
Phản biện 3: TS. Trần Văn Hòe
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp trường
họp tại Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân vào hồi ... giờ ....ngày
....tháng ....năm 2014
thiệp vào các quan hệ trong TMĐT, xây dựng các chính sách ổn định và thuận lợi
cho sự phát triển của TMĐT ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, Internet là một môi trường phát triển vô cùng mạnh mẽ, luôn có
những công nghệ, dịch vụ, ứng dụng mới ra đời, liên tục làm thay đổi các phương
thức giao dịch, thay đổi hình thức cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp, thay đổi
cách tiếp cận và sử dụng dịch vụ của người sử trong TMĐT. Do đó Nhà nước cần
phải hoàn thiện các chính sách quản lý để theo kịp sự phát triển của Internet nói
chung, TMĐT nói riêng đồng thời để thích ứng với những xu thế mới trong TMĐT
toàn cầu.
Quá trình triển khai TMĐT trong thời gian qua cho thấy tuy môi trường cho sự
phát triển TMĐT ở Việt Nam đã hình thành nhưng vẫn chưa đáp ứng được cho sự
phát triển có hiệu quả của TMĐT. Hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) về TMĐT
hiện nay còn tồn tại một số bất cập chủ yếu sau: thiếu các định hướng chiến lược
trong phát triển TMĐT; pháp luật về TMĐT chưa điều chỉnh hết nhiều lĩnh vực mới
nảy sinh trong TMĐT; sự phối hợp quản lý nhà nước về TMĐT giữa các cơ quan
QLNN về TMĐT chưa hiệu quả; niềm tin của người tiêu dùng đối với TMĐT còn
thấp; nguồn nhân lực cho TMĐT còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; hoạt
động kiểm tra, giám sát TMĐT chưa được chú trọng.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, QLNN về TMĐT trong thời gian tới cần phải
tiếp tục được hoàn thiện cả về mặt lý luận và thực tế triển khai thực hiện. Để có cơ
-2-
sở hoàn thiện các nội dung này, hoạt động QLNN về TMĐT cần phải được củng cố
về mặt lý luận như: làm rõ mục tiêu, nội dung, các nguyên tắc, yêu cầu cũng như các
công cụ mà Nhà nước có thể sử dụng trong quá trình thực hiện chức năng QLNN về
TMĐT. Ngoài ra để khắc phục các bất cập trong hoạt động QLNN về TMĐT ở Việt
nam hiện nay thì hoạt động QLNN về TMĐT cần phải được đánh giá một cách toàn
diện để tìm ra những bất cập còn tồn tại cũng như nguyên nhân của các hạn chế này.
Phạm vi thời gian: Luận án đánh giá thực trạng QLNN về TMĐT trong khoảng
thời gian từ năm 2006 đến năm 2012, đây là giai đoạn triển khai thực hiện kế hoạch
tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2006-2010; kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT
giai đoạn 2011-2015 và các kế hoạch kinh tế xã hội quan trọng khác của đất nước.
4. Các đóng góp mới của luận án
4.1. Những đóng góp mới về mặt lý luận
-3-
Thứ nhất, để thực hiện chức năng QLNN về TMĐT trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay, luận án đề xuất cần coi TMĐT là việc tiến hành một khâu hoặc
toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử có kết nối
với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.
Thứ hai, luận án đã nghiên cứu đề xuất bộ chỉ số đánh giá hoạt động QLNN về
TMĐT trên cơ sở vận dụng mô hình Outcome và phương pháp luận về đánh giá
chính sách của Ngân hàng thế giới. Các chỉ số này được sử dụng để đánh giá một
cách toàn diện các nội dung QLNN về TMĐT theo các tiêu chí: hiệu lực, hiệu quả,
phù hợp và bền vững.
4.2. Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu
Từ kết quả phân tích thực trạng QLNN về TMĐT ở Việt Nam giai đoạn 20062012, kết quả đánh giá QLNN về TMĐT theo các tiêu chí ở trên, để hoàn thiện
QLNN về TMĐT, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau:
(i) Xây dựng chiến lược phát triển TMĐT quốc gia nhằm tạo ra các định hướng
lâu dài cho phát triển TMĐT ở Việt Nam.
(ii) Hoàn thiện các chính sách TMĐT như: chính sách thương nhân; chính sách
thuế trong TMĐT; chính sách bảo vệ người tiêu dùng; chính sách tạo nguồn nhân
lực.
(iii) Hoàn thiện pháp luật về TMĐT trong đó tập trung vào các nội dung: công
nhận TMĐT là một ngành trong hệ thống các ngành nghề kinh tế quốc dân; quy định
rõ về trách nhiệm, quyền hạn của các bên tham gia TMĐT đối với các hình thức
bản IRM Press phát hành đã đề cập tới một số nội dung tương đối cụ thể để ứng
dụng thành công TMĐT trong mỗi DN và quản lý các hoạt động TMĐT của các cơ
quan có thẩm quyền.
Tiếp theo công trình của giáo sư Bijan Fazlollahi, vào năm 2002, dự án nghiên
cứu về những tác động của TMĐT trong nền kinh tế toàn cầu thuộc trung tâm
nghiên cứu của trường đại học Irvine đã nghiên cứu các tác tộng của môi trường và
chính sách của các quốc gia tới sự hình thành và phát triển của TMĐT. Các nghiên
cứu này đã mở rộng phạm vi nghiên cứu 10 quốc gia khác nhau gồm: Mỹ, Brazin,
Trung Quốc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Nhật, Mexico, Singapore và Đài Loan với
2.139 DN tại các nước được phỏng vấn. Kết quả của nghiên cứu này đã chỉ ra sự tác
động của môi trường và chính sách của các quốc gia tới quá trình hình thành và phát
triển của TMĐT .
Khác với những nghiên cứu ở trên, vào năm 2003, trong cuốn "những tác động về
kinh tế và xã hội của TMĐT" của các tác giả Sam Lubbe và Johanna Maria van
Heerden đã tập hợp nhiều công trình nghiên cứu về các tác động về mặt kinh tế và
xã hội của TMĐT của các học giả thuộc nhiều trường đại học khác nhau trên thể
giới làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách QLNN về TMĐT.
Tiếp tục các nghiên cứu về tác động của TMĐT, vào năm 2004 trong cuốn: "Các
tác động về mặt nhận thức và xã hội của TMĐT trong những tổ chức hiện đại" của
các tác giả Mehdi Khosrow-Pour và nhiều người khác do Idea Group Publishing
phát hành đã nghiên cứu khá chi tiết các tác động về mặt xã hội, nhận thức và văn
hóa của TMĐT đến hoạt động của các tổ chức.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Tuy TMĐT mới phát triển ở Việt nam trong khoảng 10 năm trở lại đây nhưng đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu về TMĐT nói chung và QLNN về TMĐT nói
riêng.
Năm 2003 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước "Nghiên cứu một số vấn đề
kỹ thuật và công nghệ chủ yếu trong TMĐT và triển khai thử nghiệm". Mã số
KC.01.05. Đề tài đã tổng quan các vấn đề chung về TMĐT và một số công nghệ chủ
yếu trong TMĐT; thử nghiệm hệ thống tích hợp các công nghệ TMĐT trong thực tế;
chưa đề cập sâu tới vai trò quản lý của nhà nước đối với TMĐT; chưa đưa ra được
phương pháp cụ thể để đánh giá các nội dung QLNN về TMĐT.
Các "khoảng trống" trên sẽ là cơ sở để luận án tập trung làm rõ các vấn đề còn tồn
tại cả về mặt lý luận và thực tiễn trong QLNN về TMĐT từ đó đề xuất các giải pháp
hoàn thiện.
1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
1.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp
Áp dụng phương pháp phân tích tổng hợp trong luận án để xem xét xem có các
nghiên cứu nào trong lĩnh vực QLNN về TMĐT đã được nghiên cứu, các nghiên đó
đã được thực hiện như thế nào, kết quả của của các nghiên cứu là gì ? v.v... phân tích
tổng hợp để phát hiện những "khoảng trống" trong các nghiên cứu trước, làm cơ sở
cho việc thực hiện các nội dung của đề tài.
Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng của các phương pháp nghiên cứu trong khoa
học kinh tế - xã hội, luận án phân tích làm rõ những tác động của QLNN đến TMĐT
thông qua việc thực hiện các nội dung QLNN về TMĐT; phân tích và làm rõ các
nguyên nhân ảnh hưởng đến QLNN về TMĐT; phân tích và đánh giá việc thực hiện
chức năng QLNN về TMĐT qua các tiêu chí xây dựng.
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong luận án để xác định các
câu hỏi nghiên cứu, xác định các tiêu chí đánh giá QLNN về TMĐT, thu thập ý kiến
của các chuyên gia về những vấn đề còn tồn tại trong QLNN về TMĐT hiện nay
đồng thời trao đổi về một số giải pháp hoàn thiện các nội dung QLNN về TMĐT ở
Việt Nam.
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng
-6-
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận án để đo lường các
kết quả thực hiện QLNN về TMĐT theo từng tiêu chí đồng thời kiểm tra tính phù
2.2.3. Mục tiêu quản lý nhà nước về thương mại điện tử: mục tiêu định hướng
cho sự phát triển của TMĐT; mục tiêu phát triển TMĐT; mục tiêu tạo lập môi
trường và các điều kiện thuận lợi cho TMĐT phát triển; mục tiêu củng cố, bảo đảm
dân chủ, công bằng cho mọi cá nhân và mọi thành phần kinh tế thực hiện các hoạt
động TMĐT trong nền kinh tế
2.2.4. Chức năng quản lý nhà nước về thương mại điện tử
Chức năng định hướng cho sự phát triển của TMĐT
Chức năng tạo lập môi trường cho sự phát triển của TMĐT
Chức năng điều tiết các hoạt động TMĐT
-7-
Chức năng hỗ trợ hoạt động TMĐT
Chức năng kiểm soát hoạt động TMĐT
2.2.5. Nội dung quản lý nhà nước về thương mại điện tử
Theo hướng tiếp cận từ quá trình quản lý, QLNN về TMĐT bao gồm các nội
dung: (i) Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển TMĐT; (ii) Xây dựng chính sách
và ban hành pháp luật về TMĐT; (iii) Tổ chức thực hiện kế hoạch, chính sách phát
triển TMĐT; (iv) Kiểm soát TMĐT.
2.2.5.1. Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển thương mại điện tử
Chiến lược TMĐT: là định hướng phát triển TMĐT quốc gia trong một thời kỳ
tương đối dài với các mục tiêu tổng quát, cụ thể và hệ thống các giải pháp nhằm huy
động tối đa các nguồn lực và tổ chức thực hiện trong thực tiễn để thực hiện các mục
tiêu phát triển TMĐT mà Nhà nước đã đặt ra.
Hệ thống chiến lược phát triển TMĐT trong nền kinh tế quốc dân bao gồm: chiến
lược TMĐT quốc gia, Chiến lược phát triển TMĐT của tỉnh (thành phố), chiến lược
phát triển TMĐT của từng DN.
Kế hoạch phát triển TMĐT: là các kế hoạch cụ thể nhằm chi tiết hóa các chiến
lược phát triển TMĐT. Các kế hoạch phát triển TMĐT bao gồm hai loại kế hoạch
tiễn. Giai đoạn này bao gồm các công việc: truyền thông và tư vấn, triển khai các
chương trình, dự án phát triển; vận hành các quỹ; phối hợp hoạt động; đảm bảo vận
hành hệ thống cung cấp dịch vụ hỗ trợ.
2.2.5.4. Kiểm soát thương mại điện tử
Kiểm soát TMĐT là tổng thể những hoạt động của cơ quan QLNN nhằm kịp thời
phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng
như những cơ hội phát triển TMĐT nhằm đảm bảo cho hoạt động TMĐT tuân theo
đúng các định hướng, mục tiêu phát triển TMĐT đã đề ra.
Các hình thức kiểm soát TMĐT bao gồm: kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, kiểm toán
nhà nước. Trong số các hình thức này thì hình thức kiểm tra TMĐT có vai trò đặc
biệt quan trọng.
2.2.6. Bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử
Bộ máy QLNN nhà nước về TMĐT là một bộ phận cấu thành của bộ máy QLNN
về kinh tế, mang tính độc lập tương đối, bao gồm các cơ quan Nhà nước thực hiện
chức năng quản lý TMĐT từ Trung ương đến địa phương.
QLNN về TMĐT được thực hiện chủ yếu ở 2 cấp đó là cấp Trung ương và cấp địa
phương. Ở cấp Trung ương, cơ quan QLNN về TMĐT chính là các cơ quan QLNN
ở cấp Trung ương, các cơ quan này bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân
dân. Giúp Chính phủ thực hiện các chức năng QLNN về TMĐT là các Bộ và cơ
quan ngang Bộ. Với các đặc trưng của TMĐT đã nêu ở trên, để quản lý hoạt động
TMĐT cần có sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý có chức năng quản lý khác
nhau, các cơ quan này bao gồm: cơ quan QLNN về thương mại; cơ quan QLNN về
CNTT và Truyền thông, về an toàn, an ninh mạng; cơ quan QLNN về hạ tầng công
nghệ thanh toán trong TMĐT
Ở cấp địa phương: UBND các cấp thực hiện QLNN về TMĐT trong phạm vi của
địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ. Sở Công thương là cơ quan tham mưu,
trực tiếp giúp UBND thực hiện QLNN về TMĐT trong phạm vi địa phương
2.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thương mại điện tử, bao
gồm: các yếu tố nguồn lực của cơ quan QLNN về TMĐT; mức độ ứng dụng CNTT
trong các cơ quan QLNN; Các cam kết quốc tế trong phát triển TMĐT; Xu hướng
cơ quan QLNN về TMĐT cũng như của nền kinh tế để thực hiện tốt nhất các mục
tiêu mà cơ quan QLNN đã đề ra với chi phí thấp nhất; được lượng hóa bằng cách so
sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào của hoạt động QLNN về TMĐT. Tuy
nhiên việc thống kê các yếu tố chi phí đầu vào và các kết quả đầu ra của hoạt động
QLNN về TMĐT một cách chính xác, đầy đủ là hết sức phức tạp, do đó trong thực
tế khái niệm hiệu quả QLNN thường được xem xét một cách gián tiếp thông qua kết
quả đạt được của các đối tượng bị quản lý.
Từ các lập luận này, luận án đánh giá hiệu quả QLNN về TMĐT thông qua các lợi
ích gián tiếp về mặt kinh tế - xã hội mà TMĐT đem lại cho các đối tượng tham gia
TMĐT và nền kinh tế như: hiệu quả ứng dụng TMĐT trong DN; mức độ phổ biến
của TMĐT trong nền kinh tế.
2.2.8.3. Tiêu chí phù hợp
Tính phù hợp của QLNN về TMĐT được thể hiện thông qua sự phù hợp của các
yếu tố đầu vào của QLNN về TMĐT đối với các điều kiện phát triển có hiệu quả của
TMĐT.
Để đánh giá tính phù hợp của QLNN về TMĐT, luận án lựa chọn các chỉ tiêu:
Mức độ phù hợp của hệ thống pháp luật về TMĐT đối với việc ứng dụng TMĐT
trong DN; Mức độ phù hợp của các mục tiêu trong kế hoạch phát triển TMĐT với
việc ứng dụng TMĐT trong DN;Mức độ phù hợp của các chính sách TMĐT ở Việt
Nam với các thông lệ quốc tế
2.2.8.4. Tiêu chí bền vững
Tính bền vững của QLNN về TMĐT là việc tạo ra được kết quả ảnh hưởng của
QLNN bền vững theo thời gian. Đó là một hệ thống các chính sách phát triển TMĐT
bền vững, hiệu quả và công bằng đáp ứng nhu cầu phát triển của DN và nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần phát triển KT- XH của đất nước.
2.3. Kinh nghiệm quốc tế trong quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử
Thứ nhất, vấn đề xây dựng chiến lược phát triển TMĐT. Ở những quốc gia có nền
TMĐT phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, để hỗ trợ sự phát triển của TMĐT
đầu được hình thành, một số DN đã bắt đầu nhận thức được vai trò to lớn của việc
ứng dụng TMĐT trong hoạt động SXKD của DN và đã bắt đầu ứng dụng TMĐT ở
các cấp độ khác nhau.
3.1.2. Giai đoạn phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử ở Việt Nam
Tiếp theo những thành công trong ứng dụng TMĐT tại các DN, bắt đầu từ năm
2006, TMĐT ở Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ: TMĐT được ứng dụng
rộng rãi trong rất nhiều DN, người tiêu dùng đã bắt đầu hình thành thói quen mua
sắm trên mạng Internet, TMĐT đã được toàn xã hội và DN thừa nhận như là một
ngành nghề kinh doanh mới đem lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng và DN.
3.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử
3.2.1.Xây dựng kế hoạch phát triển thương mại điện tử
-11-
Kế hoạch phát triển TMĐT là một bộ phận của kế hoạch phát triển KT-XH của
đất nước. Hệ thống kế hoạch phát triển TMĐT hiện nay bao gồm: kế hoạch phát
triển TMĐT quốc gia và kế hoạch phát triển TMĐT từng địa phương.
3.2.1.1. Kế hoạch phát triển TMĐT quốc gia
Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2006-2010 đưa ra các mục tiêu phát
triển TMĐT giai đoạn 2006-2010:
(i) Phát triển TMĐT góp phần thúc đẩy thương mại và nâng cao sức cạnh tranh
của DN trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới;
(ii) Nhà nước đóng vai trò tạo lập môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận
lợi nhằm thu hút công nghệ tiên tiến và khuyến khích DN ứng dụng TMĐT ; cung
cấp các dịch vụ công hỗ trợ hoạt động TMĐT;
(iii) Phát triển TMĐT cần được gắn kết chặt chẽ với việc ứng dụng và phát triển
công nghệ thông tin và truyền thông;
(iv) Rà soát, bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan nhằm bảo
Chính sách thuế trong TMĐT: xác định đối tượng nộp thuế; đối tượng chịu thuế;
quản lý thuế
Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực TMĐT: các chính sách này bao
gồm: đào tạo về TMĐT cho đội ngũ cán bộ QLNN và cộng đồng DN; đào tạo chính
quy về TMĐT trong các trường cao đẳng và đại học: theo kết quả khảo sát năm
2008, 2010 và 2012 của Cục TMĐT và CNTT, tính đến hết năm 2012 có 88 trường
triển khai hoạt động đào tạo TMĐT, trong đó có 52 trường đại học và 36 trường cao
đẳng. đến hết năm 2012, Bộ Giáo dục và đào tạo vẫn chưa công bố chương trình
khung cho ngành TMĐT, chưa có mã ngành độc lập trong Bảng danh mục mã ngành
cấp 4 của Bộ Giáo dục và đào tạo.
Chính sách phát triển hạ tầng công nghệ cho TMĐT:
Hạ tầng công CNTT & TT đã và đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam; mạng
thông tin quốc gia hiện đại phủ sóng cả nước, kết nối tới hầu hết các nước trong khu
vực và trên thế giới. Tính đến tháng 12 năm 2012 số người sử dụng Internet tại Việt
Nam đạt mức 31,3 triệu người; số người sử dụng Internet trên 100 dân đạt 35,3%.
Số thuê bao Internet băng rộng cố định đạt 4,87 triệu thuê bao; Số hộ gia đình có
máy vi tính tính trên 100 hộ gia đình đạt tỷ lệ 18,8%
Hạ tầng thanh toán điện tử: phát triển thị trường thẻ thanh toán là mấu chốt
quan trọng, đặt tiền để cho việc triển khai các dịch vụ thanh toán hiện đại trên nền
tảng ứng dụng CNTT và TMĐT. Thẻ ngân hàng đã và đang trở thành phương tiện
thanh toán phổ biến tại Việt Nam với tốc độ phát triển nhanh chóng. Đến cuối
tháng 6/2012, lượng thẻ phát hành đạt khoảng 47,22 triệu, trong đó thẻ ghi nợ
chiếm tới 94%. Cơ sở hạ tầng phục vụ thanh toán thẻ cũng được cải thiện đáng kể
với 13.920 máy ATM và 89.957 máy POS được lắp đặt trên toàn quốc
3.2.2.2. Xây dựng và ban hành pháp luật về thương mại điện tử
Các quy định liên quan đến giao dịch điện tử trong hệ thống văn bản pháp
luật về dân sự - thương mại: luật Dân sự và luật Thương mại đã thừa nhận giá trị
pháp lý của giao dịch điện tử thông qua việc thừa nhận thông điệp dữ liệu - hình
thức biểu hiện cụ thể của giao dịch điện tử.
Chương trình phổ biến, tuyên truyền và đào tạo về TMĐT;
Chương trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật TMĐT với mục tiêu
Chương trình cung cấp trực tuyến dịch vụ công các ứng dụng TMĐT trong mua
sắm của Chính phủ;
Chương trình phát triển công nghệ hỗ trợ TMĐT;
Chương trình thực thi pháp luật liên quan tới TMĐT;
Chương trình hợp tác quốc tế về TMĐT.
Mỗi chương trình được cụ thể hóa thành rất nhiều dự án với các mục tiêu và
nhiệm vụ cụ thể được giao cho từng đơn vị thực hiện. Sau 5 năm thực hiện, hầu hết
các chương trình trên đã hoàn thành.
Bắt đầu từ năm 2012, để triển khai kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn
2011-2015, Cục TMĐT và CNTT phối hợp với Hiệp hội TMĐT Việt Nam tiến hành
xây dựng Chỉ số thương mại điện tử (EBI) nhằm đánh giá tình hình ứng dụng
TMĐT trên phạm vi cả nước cũng như tại từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương.
3.2.3.3. Phối hợp hoạt động
Trong thời gian qua, cơ quan QLNN về TMĐT là Bộ Công thương đã phối hợp
với rất nhiều các Bộ, Ngành khác nhau trong việc triển khai các chương trình dự án
phát triển TMĐT. Cụ thể, Bộ đã phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc hoàn thiện
khung pháp lý cho TMĐT; phối hợp với Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Lao động
thương binh và xã hội, các cơ quan truyền thông của Việt Nam trong việc đào tạo,
tuyên truyền và phổ biến các kiến thức về TMĐT; Phối hợp với Bộ Khoa học và
Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước trong việc xây dựng các chương trình phát triển
công nghệ hỗ trợ TMĐT v.v... Kết quả của việc phối hợp hoạt động này là đã bước
đầu tạo dựng được môi trường tương đối hoàn thiện cho việc phát triển TMĐT ở
Việt Nam.
Bên cạnh việc phối hợp với các Bộ, Ngành để thiết lập môi trường phát triển
TMĐT, trong thời gian qua, các cơ quan QLNN đã đặc biệt chú ý tới vấn đề hợp tác
quốc tế trong TMĐT bao gồm hợp tác song phương và hợp tác đa phương.
3.3. Bộ máy quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử ở Việt Nam
3.3.1. Bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử cấp Trung ương
* Cơ quan chủ quản thực hiện chức năng QLNN về TMĐT
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ QLNN mà Chính phủ giao, hiện nay ở cấp Trung
ương, Bộ công thương là cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện các chức năng
QLNN về TMĐT. Tại Bộ Công thương, cơ quan trực tiếp giúp Bộ trưởng thực hiện
chức năng QLNN về TMĐT là Cục TMĐT và Công nghệ thông tin.
* Các cơ quan tham gia thực hiện chức năng QLNN về TMĐT
Tham gia thực hiện chức năng QLNN về TMĐT ở cấp Trung ương ngoài cơ quan
chủ quản là Bộ Công thương còn có các cơ quan QLNN khác cùng thực hiện chức
năng QLNN có liên quan đến TMĐT như: Bộ Thông tin và Truyền thông; Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Công an.
Từ quá trình thực hiện các chức năng QLNN về TMĐT trong thời gian qua cho
thấy còn khá nhiều lĩnh vực của TMĐT chưa được đề cập đến trong các nhiệm vụ
QLNN về TMĐT của cơ quan QLNN hoặc các nhiệm vụ QLNN về TMĐT chưa
-15-
được quy định một cách rõ ràng, cụ thể trong các cơ quan này. Sự thiếu hụt về các
nhiệm vụ quản lý này được thể hiện trong các nội dung sau:
Thứ nhất, trách nhiệm QLNN về thanh toán điện tử trong TMĐT chưa được quy
định rõ trong khi thanh toán điện tử là điểm mấu chốt trong sự thành công của
TMĐT. Trong TMĐT thì Ngân hàng là đơn vị trung gian của hoạt động thanh toán
điện tử. Các hình thức thanh toán điện tử phổ biến là thẻ, POS, Internetbanking,
Mobile Banking, Ví điện tử…là các hình thức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép,
ngoài ra, các tổ chức/cá nhân làm trung gian thanh toán cũng phải đáp ứng đủ các
điều kiện quy định của Ngân hàng Nhà nước và pháp luật Tuy nhiên hiện nay, các
trách nhiệm như kiểm tra, giám sát hoạt động thanh toán điện tử; an toàn, an ninh
trong thanh toán điện tử; kiểm tra, giám sát các hành vi lừa đảo, giả mạo trong thanh
Bảng 3.3. Các tiêu chí đánh giá QLNN về TMĐT
-16Các chỉ tiêu đánh giá
Tiêu chí
HIỆU
LỰC
1
Mức độ nhận thức của DN và xã hội đối với TMĐT
2
Mức độ hỗ trợ DN ứng dụng TMĐT của cơ quan QLNN
3
Mức độ bảo vệ người tiêu dùng trong các giao dịch TMĐT
4
Mức độ thuận lợi, phù hợp của các hình thức thanh toán trong TMĐT
5
6
7
8
dụng TMĐT trong DN
2
Mức độ phù hợp của các mục tiêu trong kế hoạch phát triển TMĐT với
việc ứng dụng TMĐT trong DN
3
Mức độ phù hợp của các chính sách TMĐT ở Việt Nam với các thông
lệ quốc tế
1
Mức độ gắn kết của các chính sách phát triển TMĐT với các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội khác của đất nước
2
Mức độ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và doanh
nghiệp nói riêng của TMĐT
3
Mức độ tác động của các chính sách phát triển TMĐT đối với việc ứng
dụng TMĐT trong các DN
Qua việc đánh giá các chỉ tiêu cụ thể trong từng tiêu chí cho thấy các kết quả và
các bất cập trong QLNN về TMĐT như sau:
3.4.1.Các kết quả đã đạt được
sở để các DN ứng dụng và triển khai TMĐT vào hoạt động SXKD; tạo niềm tin cho
người tiêu dùng khi tham gia các giao dịch TMĐT.
Thứ ba, về tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển TMĐT: để triển khai thực hiện
Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2006-2010, các cơ quan QLNN về
TMĐT đã triển khai rất nhiều các chương trình, dự án để hỗ trợ việc ứng dụng
TMĐT trong DN và từng bước hoàn thiện môi trường cho sự phát triển có hiệu quả
của TMĐT. Trong tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển TMĐT, nhờ có sự chỉ đạo
kịp thời của các cơ quan QLNN về TMĐT, đặc biệt là sự chỉ đạo trực tiếp của Cục
TMĐT và CNTT, rất nhiều DN đã nhận được sự tư vấn, hỗ trợ kịp thời về mặt công
nghệ, về lựa chọn mô hình TMĐT phù hợp.
Thứ tư, hoạt động thanh tra, kiểm tra TMĐT bước đầu đã đạt được những kết quả
nhất định. Nhờ có hoạt động này, các DN đã có ý thức hơn trong việc chấp hành
pháp luật về TMĐT, người tiêu dùng đã phần nào tin tưởng vào việc thực hiện các
giao dịch TMĐT.
3.4.2. Những vấn đề còn tồn tại trong QLNN về TMĐT
Thứ nhất, về xây dựng hệ thống chiến lược, kế hoạch phát triển TMĐT: Việt Nam
chưa xây dựng được chiến lược phát triển TMĐT quốc gia mà mới chỉ xây dựng các
kế hoạch phát triển TMĐT cho từng giai đoạn ( 2006-2010 và 2011-2015).
Thứ hai, về xây dựng chính sách và ban hành pháp luật TMĐT: nhiều văn bản luật
về TMĐT còn mang tính tổng quát ;chưa có văn bản điều chỉnh những khía cạnh
thực tiễn của TMĐT phù hợp với các hoạt động ứng dụng khá đa dạng trong xã hội.
Còn thiếu nhiều quy định như: chưa có ngành TMĐT trong hệ thống các ngành nghề
kinh doanh; thiếu các quy định cụ thể về xử lý tranh chấp khi thực hiện các giao dịch
TMĐT; thiếu các quy định cụ thể về bảo vệ người tiêu dùng trong các giao dịch
-18-
TMĐT; chưa thừa nhận giá trị pháp lý của chứng cứ điện tử; chưa có quy định chữ
ký số trong DN tương đương với con dấu hay chữ ký của người đại diện; thiếu các
quả cao là do người dân và DN chưa quan tâm nhiều đến các quy định liên quan, dẫn
đến ý thức kém trong việc thi hành pháp luật.
Sự gia tăng không ngừng của các loại tội phạm trên mạng Internet đã gây ra
những nguy cơ rất lớn cho TMĐT, làm ảnh hưởng đến hoạt động QLNN về TMĐT.
Hoạt động của tội phạm mạng ngày càng tinh vi, chuyên nghiệp và có tổ chức đã
gây ra rất nhiều khó khăn trong công tác QLNN về TMĐT. Các quy định của pháp
luật luôn lạc hậu hơn so với những thay đổi trong môi trường kinh doanh trực tuyến.
Mặc dù các nhà làm luật đã sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, nhưng việc sửa
đổi các quy định của luật nhất là Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự không
thể làm trong một sớm một chiều.
-19-
Mức độ ứng dụng CNTT và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến của các cơ quan
QLNN còn thấp.
CHƢƠNG 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
4.1. Triển vọng phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam và xu hƣớng phát
triển thƣơng mại điện tử trên thế giới
4.1.1. Triển vọng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
Triển vọng từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
Trong xu thế hội nhập, chúng ta đã và đang thực hiện các cam kết của WTO về
TMĐT, tham gia một cách tích cực trong các cam kết của ASEAN về TMĐT, tham
gia các hoạt động phát triển TMĐT trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu
Á - Thái Bình Dương (APEC).
Trong tương lai, chúng ta sẽ tham gia vào những cam kết sâu hơn trong lĩnh vực
TMĐT, thông qua đàm phán, ký kết và tham gia các Hiệp định thương mại tự do.
Một trong những kênh hội nhập quan trọng hiện nay mà nước ta đang tham gia, đó
là đàm phán gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương- TPP (Trans Pacific
cực của Nhà nước.
Phát triển TMĐT dựa trên sự mở rộng hợp tác quốc tế và cần phù hợp với tiến
trình hội nhập khu vực và quốc tế
Chiến lược phát triển TMĐT cần phù hợp và kết hợp chặt chẽ với những nội dung
của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
4.3. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại điện tử ở
Việt Nam
4.3.1. Xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử quốc gia
Để TMĐT phát triển một các toàn diện, đồng bộ và hiệu quả cần thiết phải xây
dựng được chiến lược phát triển TMĐT quốc gia. Chiến lược TMĐT quốc gia cần
đảm bảo: tính định hướng, tính tổng quát, tính linh hoạt, tính khoa học và thực tiễn.
4.3.2. Hoàn thiện chính sách phát triển thương mại điện tử
4.3.2.1.Hoàn thiện chính sách thương nhân: công nhận thương mại điện tử là một
ngành kinh doanh có mã đăng ký riêng; Hoàn thiện các quy định về đăng ký thành
lập và công bố thông tin trên website TMĐT; có giải pháp quản lý các sàn giao dịch
thương mại điện tử.
4.3.2.2. Hoàn thiện chính sách thuế trong thương mại điện tử: hoạt động bán
hàng hoá, dịch vụ trong thương mại truyền thống chịu loại thuế nào thì hoạt động đó
trong TMĐT cũng phải chịu cùng loại thuế với thuế suất tương tự để đảm bảo cạnh
tranh công bằng, trừ một số hoạt động ưu đãi hoặc khuyến khích mà Nhà nước quy
định trong từng thời kỳ; bình đẳng về nghĩa vụ giữa nhà cung cấp ở trong nước và
nhà cung cấp ở ngoài nước; TMĐT có yếu tố nước ngoài phải được áp dụng thuế
trên cơ sở các hiệp định song phương và các cam kết quốc tế về thuế mà Việt Nam
tham gia; Xác lập cơ chế phối hợp mang tính pháp lý giữa cơ quan thuế với các nhà
cung cấp dịch vụ hạ tầng cho TMĐT mà đặc biệt là các nhà cung cấp dịch vụ
internet và dịch vụ thanh toán; thành lập tổ chuyên trách để thanh, kiểm tra các DN
kinh doanh TMĐT từ đó tiến tới thành lập Trung tâm chống trốn thuế công nghệ cao
thuộc cơ quan quản lý thuế ở các thành phố lớn
4.3.2.3.Hoàn thiện chính sách bảo vệ người tiêu dùng
Tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân chủ động tham gia vào việc bảo vệ
chẽ giữa nghiên cứu, sáng tạo và vận dụng thực tế. Tăng cường sự liên kết giữa nhà
trường và DN trong đào tạo nguồn nhân lực TMĐT, thường xuyên tổ chức các hội
thảo, hội nghị để các cơ sở đào tạo và các DN gặp gỡ và hợp tác theo hướng DN đưa
ra nhu cầu về số lượng, trình độ, các kỹ năng cụ thể và nhà trường đào tạo theo yêu
cầu cụ thể. Khuyến khích các DN tự thành lập các trung tâm đào tạo của riêng mình
và phục vụ nhu cầu xã hội.
Ứng dụng đào tạo trực tuyến trong đào tạo về TMĐT: khuyến khích các tổ chức
đầu tư, phát triển công nghệ đào tạo trực tuyến phục vụ đào tạo về TMĐT; Liên kết,
phối hợp giữa các trường đại học, các DN và các cơ quan QLNN trong việc thiết kế
nội dung, giáo trình phục vụ đào tạo trực tuyến về TMĐT; Đề xuất các giải pháp hỗ
trợ các bên liên quan nhằm đẩy nhanh hình thức đào tạo trực tuyến về TMĐT cho
các DN nhỏ và vừa bao gồm phổ biến tuyên truyền về lợi ích của đào tạo trực tuyến,
hỗ trợ về vốn và các ưu đãi về thuế.
Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo TMĐT:tăng cường hoạt động hợp tác
quốc tế, chuyển giao chương trình đào tạo tiên tiến, trao đổi chuyên gia. Các trường
cần nghiên cứu, trao đổi chuyên gia và tham khảo chương trình đào tạo TMĐT từ
các trường đại học nổi tiếng thế giới, từ đó, có những cải tiến về nội dung phù hợp
với thực tiễn giảng dạy tại Việt Nam.
4.3.3. Hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử
4.3.3.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định giá trị pháp lý của
chứng cứ điện tử.
Để xác lập chứng cứ trong các giao dịch điện tử nói chung, giao dịch TMĐT nói
riêng, cần bổ sung một loại chứng cứ mới là chứng cứ điện tử. Cần có những quy
định cụ thể về về thủ tục tố tụng hình sự đối với việc thu thập, bảo quản, phục hồi và
giám định chứng cứ điện tử cũng như về giải pháp kỹ thuật để có thể sử dụng chứng
cứ điện tử làm bằng chứng chứng minh tội phạm. Bổ sung, sửa đổi thủ tục khám xét,
thu giữ vật chứng, chứng cứ điện tử.
-22-
chỉ chuyển tiền khi thấy có xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong nước.
4.3.4. Tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển thương mại điện tử
Nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến các kiến thức về TMĐT;
Xây dựng và triển khai chương trình phát triểnTMĐT ; Mở rộng hợp tác quốc tế
trong TMĐT
4.3.5. Hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra về thương mại điện tử
Thành lập thanh tra chuyên ngành TMĐT: trong thời gian tới cần nhanh chóng
thành lập Ban thanh tra TMĐ trực thuộc Ban thanh tra của Bộ Công thương để trực
tiếp thực hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành về TMĐT. Ở cấp địa phương, cần
khẩn trương xây dựng bộ phận chuyên trách về TMĐT trực thuộc Sở công thương
các tỉnh, bộ phận này có trách nhiệm trực tiếp kiểm tra, giám sát các hoạt động
TMĐT ở địa phương.
Đẩy mạnh hoạt động thanh tra về thương mại điện tử: đẩy mạnh hoạt động tranh
tra, tăng cường tần suất thanh tra về TMĐT
-23-
4.3.6. Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về thương mại điện tử
Ở cấp Trung ương cần quy định rõ nhiệm, chức năng QLNN về TMĐT của các cơ
quan QLNN. Theo quy định hiện nay, Bộ Công thương là đơn vị được Chính phủ
giao thực hiện chức năng QLNN về TMĐT. Ngoài ra trong quá trình thực hiện các
chức năng QLNN, Bộ Công thương còn phải phối hợp với các Bộ ngành khác như:
Bộ Thông tin và truyền thông; Bộ Tư pháp; Ngân hàng nhà nước, Bộ Công an, Bộ
Giáo dục và đào tạo. Do đó để tránh chồng chéo và thiếu hụt về mặt chức năng,
nhiệm vụ QLNN cần quy định rõ chức năng nhiệm vụ của từng Bộ trong quá trình
thực hiện các chức năng QLNN về TMĐT.
Ở cấp địa phương cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các
Sở công thương, Phòng Kinh tế (Công thương) các quận huyện trong việc thực hiện
các chức năng QLNN về TMĐT.