Đánh giá thực trạng giáo dục ở việt nam hiện nay, nêu giải pháp phát triển giáo dục đại học việt nam TẢI HỘ 0984985060 - Pdf 39

Giáo dục đại học thế giới và Việt Nam
Câu 1: Đánh giá thực trạng giáo dục ở Việt Nam hiện nay, nêu giải pháp phát
triển giáo dục đại học Việt Nam.
Thành tựu
 Hệ thống trường lớp và quy mô GD phát triển nhanh
 Thực hiện nền GD toàn dân, đáp ứng nhu cầu HT ngày càng tăng của nhân dân
 Nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của người lao

động.
 Công bằng XH trong tiếp cận GD có nhiều tiến bộ
 Bình đẳng giới trong GD được bảo đảm
 Chất lượng GD & ĐT được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục

vụ cho phát triển KT - XH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 SV VN đạt kết quả cao trong các kỳ thi quốc tế và khu vực.
 Nhân lực nước ta đã làm chủ được một số công nghệ hiện đại.
 Công tác quản lý GD có bước chuyển biến tích cực.
 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD tăng nhanh về số lượng, trình độ đào

tạo được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục.
 CSVC - kỹ thuật của hệ thống GD & ĐT được tăng cường và từng bước hiện

đại hóa.
 Xã hội hóa GD và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan

trọng
Hạn chế
 CL GD chưa tốt


 Chưa đảm bảo được sự công bằng XH

 Nghiên cứu về nhu cầu nhân lực và dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực
 Cán bộ quản lí chưa có chuyên môn
 Gần 10 năm, với 170 trường đại học nâng cấp và thành lập mới, Việt Nam trở

thành nước lập kỷ lục thế giới về tốc độ gia tăng trường ĐH
 Nhưng đào tạo tự phát, thiếu tính dự báo, mất cân bằng giữa các ngành, không

gắn kết với nhu cầu thị trường đã khiến bài toán cử nhân thất nghiệp, càng trở
nên khó tháo gỡ.
 Con số 72.000 cử nhân thất nghiệp mỗi năm, 20% sinh viên tốt nghiệp không

tìm được việc làm... khiến nhiều người không khỏi giật mình.
 Công tác đào tạo đại học, sau đại học bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập. Nhiều tiêu

cực phát sinh như thương mại hóa giáo dục, sai phạm trong công tác tuyển
sinh, đào tạo...
Nêu giải pháp:
- Thực hành nhiều để đáp ứng được nhu cầu xã hội
- Nâng cao chất lượng của giảng viên và cán bộ quản lý
- Giảm số lương SV/GV
- Tạo mối liên hệ giữa trường học, sinh viên với doanh nghiệp.
- Hội nhập với giáo dục quốc tế, học tập những cái hay của quốc tế để áp dụng vào
Việt Nam.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
- Cài thiện chương trính và giáo trình


- Nâng cao chất lượng kiểm tra và đánh giá

Câu 2: Phân tích xu hướng giáo dục đại học hiện nay. Liên hệ với giáo dục đại

Tại Việt Nam việc nghiên cứu trong các trường đại học còn yếu, số lượng bài
báo chưa nhiều, đưa các nghiên cứu vào thực tế còn ít
 6. Đẩy mạnh các loại hình dịch vụ đào tạo nhân lực quốc tế và khu vực

Hợp tác quốc tế được nâng cao, các trường có thể tuyển các sinh viên quốc tế
về học tập tại trường của mình.
Tại Việt Nam việc có sinh viên các nước đến học có khá ít.
2. Xu hướng phát triển giáo dục đại học hiện nay
2.1. Đa dạng hoá các mô hình nhà trường và phương thức đào tạo
Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng một xã hội học
tập, chính phủ các nước đã phát triển giáo dục đại học theo hướng đa dạng hoá mô
hình nhà trường và phương thức đào tạo. Trên thế giới hiện nay tồn tại rất nhiều mô
hình trường đại học. Trường công lập vẫn là loại hình trường phổ biến được tổ chức
và vận hành dưới sự quản lí của nhà nước. Ngoài hệ thống trường công lập còn có các
trường tư thục, bán công, trường liên doanh với nước ngoài, với các tổ chức xã hội,
công ti, doanh nghiệp, trường cao đẳng cộng đồng…
Giáo dục đại học là một nền sản xuất đặc thù. Nền sản xuất này được kết hợp
chặt chẽ bởi 3 yếu tố: giáo dục, nghiên cứu khoa học và sản xuất. Các chuyên gia
cũng thống nhất rằng phát triển giáo dục đại học hiện nay không phải chỉ về quy mô
và số lượng mà thực chất là vấn đề chất lượng đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy có
trình độ và uy tín của nhà trường. Trong xu thế phát triển tiến tới nền kinh tế tri thức
và một xã hội thông tin, các chuyên gia phương Tây cho rằng: Thay vì tiền vốn và
sức lao động, tri thức trở thành nhân tố quan trọng nhất, việc sản xuất tri thức sẽ trở
thành hoạt động trọng yếu của nhân loại. Do vậy, đại chúng hoá giáo dục đại học là
bước đi tất yếu để tiến lên nền kinh tế tri thức. Đại chúng hoá và phổ cập giáo dục đại
học chỉ có thể thực hiện bằng các con đường: Thứ nhất, tăng cường chất lượng của
các trường đại học công lập. Thứ hai, phát triển hệ thống các trường đại học ngoài


công lâp (dân lập, tư thục…). Thứ ba, phát huy hệ thống đại học mở và đào tạo từ xa.



tích luỹ tín chỉ, đào tạo liên thông, đào tạo lại, đào tạo trong quá trình làm việc…
Cách thức đào tạo cũng hết sức linh hoạt, học buổi tối, học vào ngày nghỉ, học theo
đợt, học dựa vào công nghệ thông tin… Mỗi hình thức đều có những ưu điểm và
nhược điểm riêng của nó nhưng đào tạo chính quy vẫn là hình thức đào tạo cơ bản
nhất để đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó chính là sự kết hợp giữa quan
điểm đào tạo tinh hoa và đào tạo vì nguồn nhân lực.
Giáo dục đại học sẽ được mở ra hết sức rộng rãi và phổ biến nhằm đáp ứng nhu
cầu học tập của nhân dân và nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội. Các địa phương có
thể mở trường đại học có thể không mở trường đại học nhưng vẫn thực hiện được giáo
dục đại học cho nhân dân địa phương thông qua các trung tâm giáo dục thường xuyên
liên kết với các trường đại học. Người dân sẽ thuận lợi hơn khi được hưởng quyền
giáo dục đại học ngay chính trên quê hương mình. Thậm chí ở những nơi vùng sâu,
vùng xa thông qua hệ thống mạng vẫn có thể học đại học một cách bình thường.
Đào tạo theo phương thức tích luỹ tín chỉ cũng rất có lợi cho người học. Họ có
thể học bất cứ lúc nào tuỳ theo khả năng và điều kiện của bản thân và có thể học nhiều
bằng đại học khác nhau. Các hình thức đào tạo liên thông cũng có rất nhiều ưu điểm,
nhất là việc tạo cơ hội cho người học nâng cao trình độ chuyên môn của mình theo
một nghề nghiệp mà họ gắn bó, yêu thích…
2.2. Gắn kết quá trình đào tạo với nghiên cứu khoa học và quá trình sản xuất,
kinh doanh trong thực tiễn
Các trường đại học ngày nay không chỉ có chức năng đào tạo mà còn có nhiều
chức năng khác như nghiên cứu khoa học, tham gia vào quá trình sản xuất, kinh
doanh, kết hợp với các cơ sở sản xuất, kinh doanh để nâng cao chất lượng đào tạo,
tham gia đào tạo lại…
Đành rằng chức năng đào tạo là chức năng quan trọng số 1 của các trường đại
học. Nhưng xu thế phát triển của giáo dục đại học trên thế giới là gắn quá trình đào
tạo với nghiên cứu khoa học. Các trường đại học có đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật
đông đảo, có trình độ cao, đó là lực lượng nghiên cứu khoa học có hiệu quả và chất

Chính quá trình kết hợp này mà sinh viên sau khi đào tạo ra trực tiếp lao động
sản xuất không bị bở ngỡ, lúng túng, họ có thể bắt nhịp ngay vào công việc của mình.
Đây là vấn đề chúng ta cần phải học tập và phát huy trong quá trình đào tạo ở các
trường đại học và dạy nghề hiện nay. Nhiều ngành kĩ thuật hiện nay, sinh viên của
chúng ta đào tạo ra không thể vào làm ngay được mà phải đào tạo lại trong thời gian
đầu học việc. Nguyên nhân là trong quá trình đào tạo của chúng ta chưa gắn với quá


trình sản xuất. Sinh viên ít được thực hành nghề nghiệp của mình và hầu như không
gắn những lí thuyết học được với sản xuất thực tiễn.
2.3. Quốc tế hoá giáo dục đại học
Trong thời buổi toàn cầu hoá và sự hội nhập của các nước với khu vực và thế
giới là tất yếu thì không chỉ toàn cầu hoá về mặt thương mại mà toàn cầu hoá mọi mặt
trong đó có giáo dục - đào tạo. Sự toàn cầu hoá về lực lượng lao động đòi hỏi các
nước phải có những chính sách điều chỉnh trong quá trình đào tạo, nhất là giáo dục đại
học và nghề nghiệp để đào tạo ra những người có thể tham gia vào quá trình sản xuất
của khu vực và thế giới.
Hiện nay có nhiều nước thực hiện quốc tế hoá giáo dục đại học. Quá trình thực
hiện quốc tế hoá rất đa dạng như liên kết đào tạo với nhiều trường đại học nổi tiếng,
nhờ đào tạo cán bộ, mời thỉnh giảng, nhập khẩu nội dung, chương trình đào tạo, mời
cơ quan đánh giá ngoài kiểm định, đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, tự
kiểm định, đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế… Nhiều nước trên thế giới đã tách quá
trình đào tạo và quá trình đánh giá thành hai quỏ trỡnh riêng biệt nhau. Cơ quan đánh
giá hoàn toàn độc lập với cơ quan đào tạo. Nhiều trường hợp, các trường đại học danh
tiếng đã mời các cơ quan đánh giá, kiểm định có uy tín trên thế giới tiến hành kiểm
định chất lượng đào tạo. Ví dụ, một số trường đại học Xingapore đã mời tổ chức kiểm
định đánh giá của Hoàng gia Anh sang đánh giá độc lập…
Năm 1995, Liên minh Toàn cầu về Chuyển đổi Giáo dục Quốc gia (GATE) được
thành lập tập trung vào giải quyết các vấn đề có liên quan đến chất lượng và việc
chuyển đổi giáo dục giữa các quốc gia. GATE đã soạn thảo một số nguyên tắc và quy

chuyên đánh giá chương trình và cơ quan khác đánh giá cơ sở giáo dục đào tạo có
công nhận các hoạt động của nhau không? Hoặc giải quyết như thế nào khi các cơ sở
giáo dục và đào tạo độc lập không sẵn sàng cấp tín chỉ cho một sinh viên học tập ở
một trường khác có kết quả đánh giá của cùng một cơ quan kiểm định về chất lượng
đào tạo…
Việc quốc tế hoá giáo dục đại học không chỉ là phương thức nâng cao chất lượng
đào tạo, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau mà còn nhằm vào việc thực hiện toàn cầu hoá
lực lượng lao động tiến tới toàn cầu hoá mọi mặt của cuộc sống xã hội.
Người ta lo ngại việc quốc tế hoá giáo dục đại học sẽ ảnh hưởng quá trình giữ
gìn bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc. Việc lo ngại là có lí nhưng không thể ngăn cản
được xu thế này. Bất cứ quá trình nào cũng có hai mặt của nó là tích cực và tiêu cực,
như cơ chế thị trường chẳng hạn. Vấn đề đặt ra là chúng ta chọn con đường nào có lợi


nhiều nhất, tìm phương thức phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực. Đó mới là
cách phát triển khôn ngoan, vừa hội nhập quốc tế, vừa giữ gìn được bản sắc của dân
tộc mỡnh.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status