Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp dạy một số bài trong chương phân số của môn Toán lớp 4 - Pdf 39

TTR

ƯỜ
ỜN
NG
G TTH
HY
YN
NG

ÔN
NG
G

B

ÙII TTH
HỊỊ TTH

ÙY
YD
DU
UN
NG
G

PHƯƠNG PHÁP DẠY MỘT SỐ BÀI TRONG
CHƯƠNG PHÂN SỐ CỦA MÔN TOÁN LỚP 4
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và sự thách thức trước nguy cơ
tụt hâu trong cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi

HY
YN
NG

ÔN
NG
G

B

ÙII TTH
HỊỊ TTH

ÙY
YD
DU
UN
NG
G

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Trong mọi nhà trường, đặc biệt là nhà trường tiểu học, việc nâng cao chất lượng
dạy và học của giáo viên và học sinh bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu nó bao
trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong tất cả các môn học ở trường tiểu học thì
môn toán được coi là trọng tâm với số lượng tiết tương đối lớn (5 tiết/ tuần). Qua
việc học toán, học sinh bước đầu nắm được kiến thức toán học cơ bản, có cơ sở để
học tốt các môn khác, giúp các em tự tin, luôn luôn vươn tới sự tìm tòi, sáng tạo.
Chương trình toán 4 mới là sự tiếp tục của toán 1.2.3 đã được thực hiện ở các năm
học trước (chương trình SGK mới). Chương trình toán mới đã có những đổi mới về
nội dung để tăng cường thực hành và ứng dụng kiến thức mới nhằm giúp học sinh

ÔN
NG
G

B

ÙII TTH
HỊỊ TTH

ÙY
YD
DU
UN
NG
G

II.CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1/ Học sinh:
Trường tôi có hơn 80% là học sinh dân tộc thiểu số, điều kiên học tập còn gặp
nhiều khó khăn, nhiều học sinh còn hạn chế về ngôn ngữ tiếng việt do đó vốn từ, vốn
hiểu biết, kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng tư duy, logic còn hạn chế nên viêc học các môn
học nói chung và môn toán nói riêng các em sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Điều đáng
nói ở đây là nhiều học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực,
thậm chí có một số em còn chưa biết phân tích và tổng hợp đề toán để giải, kĩ năng
tính toán còn chậm. Cũng chính vì ngôn ngữ toán học của các em còn hạn chế nên
khi làm bài thường diễn đạt vụng về thiếu logic, trình bày chưa chính xác, chưa khoa
hoc. Việc học toán còn nặng nề tính rập khuôn, máy móc, nhiều khi với một bài toán
cộng, trừ phân số rất đơn giản nhưng nhiều em vẫn gặp khó khăn, lúng túng trong khi
giải.
2/ Giáo viên:

B

ÙII TTH
HỊỊ TTH

ÙY
YD
DU
UN
NG
G

trường để bàn bạc và đề xuất một số ý kiến nhằm phát huy ưu điểm và hạn chế những
thiếu sót của giáo viên và học sinh.
Năm học 2008-2009 tôi tiếp tục được phân công giảng dạy lớp 4, với những suy
nghĩ và trăn trở tôi đã áp dụng những kinh nghiệm tích lũy được ở năm học trước
đồng thời tiếp tục tìm hiểu thêm những vướng mắc của giáo viên cũng như học sinh
để tìm cách tháo gở, tích lũy thêm kinh nghiệm và vân dụng vào thực tiễn giảng day.
Thực tế đã có những kết quả rất khả quan, tôi nhận thấy học sinh hiểu bài nhanh học
sinh nắm chắc kiến thức và vận dụng tốt vào thực hành.
Năm học 2010- 2011 tôi lại tiếp tục được giảng dạy lớp 4, tôi hi vọng với
những kinh nghiệm đã có từ những năm học trước tôi sẽ giúp học sinh đạt được
những kết quả khả quan, học sinh hiểu bài nhanh, nắm chắc kiến thức và vận dụng
tốt vào thực hành.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này tôi xin được trình bày một số kinh
nghiêm về “ Cách dạy một số bài toán trong chương phân số lớp 4”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. NHỮNG NỘI DUNG ĐỀ CẬP TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Phương pháp dạy học bài mới.
1.1 Tự chiếm lĩnh kiến thức mới.


ÙY
YD
DU
UN
NG
G

VD: Khi dạy bài “So sánh 2 phân số cùng mẫu số”
Nhiệm vụ của bài là học sinh phải xét xem 2 phân số đó có bằng nhau hay không
và nếu không bằng nhau thì phân số nào bé hơn, phân số nào lớn hơn.
Khi dạy bài này, tôi cho học sinh cắt 2 hình tròn bằng nhau. Mỗi hình tròn lại chia
thành 8 phần bằng nhau bằng cách gấp hình tròn đó thành 4 phần khít nhau. Ở hình tròn
một, lấy

2
3
hình tròn, ở hình tròn hai lấy hình tròn. Học sinh sẽ gạch: Ở hình tròn một
8
8

là 2 phần; ở hình tròn hai là 3 phần. Sau đó tôi cho các em so sánh các phần gạch chéo
của 2 hình tròn. Qua phần so sánh, các em sẽ thấy:

2 3
3 2
 (hay  ). Từ đó rút ra cách so
8 8
8 8



55


TTR

ƯỜ
ỜN
NG
G TTH
HY
YN
NG

ÔN
NG
G

B

ÙII TTH
HỊỊ TTH

ÙY
YD
DU
UN
NG
G
4

1.2 Thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới với kiến thức đã học.
* VD: trong bài “phép cộng phân số” (tiết 114, trang 126 SGK)
Ở bài này, thông qua ví dụ ở SGK, tôi và học sinh sẽ cùng thực hành trên băng giấy.
- Chia băng giấy bằng 8 phần bằng nhau bằng cách gập đôi 3 lần theo chiều
ngang.
- Lần 1: Tô màu vào

3
băng giấy.
8

- Lần 2: Tô mầu vào

2
băng giấy
8

66


TTR

ƯỜ
ỜN
NG
G TTH
HY
YN
NG


 

8 8
8
8

Qua ví dụ trên, học sinh sẽ rút ra cách cộng 2 phân số cùng mẫu số bằng cách lấy
tử số cộng với nhau và giữ nguyên mẫu số.
* Ở bài phép cộng tiếp theo (tiết 115, trang 127 SGK) là phép cộng 2 phân số
khác mẫu số.
Lúc này từ ví dụ ở SGK, học sinh sẽ dễ dàng nêu được: Muốn biết cả 2 bạn đã lấy bao
nhiêu phần của băng giấy màu thì phải thực hiện phép tính cộng:

1 1

2 3

+ Sau đó, tôi sẽ dẫn dắt các em bằng các câu hỏi gợi ý:
- Nhận xét mẫu số của 2 phân số ( 2 phân số có mẫu số khác nhau)
- Muốn thực hiện được phép cộng 2 phân số này ta phải làm gì? ( Quy đồng mẫu
số)
Sau đó học sinh tự quy đồng mẫu số và lại đưa về phép cộng 2 phân số cùng mẫu số
như tiết trước.
Như vậy với phương pháp dạy học bài mới như trên, học sinh có điều kiện ôn tập
củng cố kiến thức đã học và vận dụng những kiến thức đó để chiếm lĩnh tìm ra kiến
thức mới, tìm ra nội dung tiềm ẩn trong bài học. Phương pháp này còn góp phần rèn
luyện tư duy cho học sinh; tìm tòi sự liên quan giữa kiến thức cũ và mới.
2. Phương pháp dạy các nội dung thực hành luyện tập:
Nhiệm vụ chủ yếu của các tiết dạy thực hành luyện tập là củng cố kiến thức cơ bản
và rèn luyện các năng lực thực hành, giúp học sinh nhận ra rằng học không chỉ để biết


Khi dạy thực hành luyện tập cần lưu ý người giáo viên cần giúp mọi học sinh đều
tham gia vào hoạt động thực hành; luyện tập theo khả năng của mình bằng cách:
- Tổ chức cho học sinh làm các bài tập theo thứ tự sắp xếp trong SGK, không qua
hoặc bỏ qua bài tập nào kể cả các bài tập học sinh cho là dễ.
- Không nên bắt học sinh chờ đợi nhau trong quá trình làm bài. Sau mỗi bài, học
sinh nên tự kiểm tra sau đó nên chuyển sang làm bài tập tiếp theo.
- Trong 1 số tiêt dạy, có thể học sinh này làm nhiều bài tập hơn học sinh khác. Giáo
viên cần giúp học sinh khai thác các nội dung tiềm ẩn trong mỗi bài tập.
VD: Bài 1 phần b, (tiết 110, trang 122 SGK)
So sánh hai phân số:
15
4

25
5

Đối với bài này khi thực hiện thường thì các em sẽ quy đồng để đưa hai phân số về
cùng mẫu số, sau đó so sánh 2 phân số cùng mẫu. Tuy nhiên khi so sánh 2 phân số
khác mẫu số không nhất thiết phải quy đồng mẫu số thì mới đưa về được dạng 2 phân
số cùng mẫu số. Có những cặp phân số khi chúng ta rút gọn vẫn có thể đưa về hai
phân số cùng mẫu số, vì vậy khi làm cần nhắc học sinh chú ý quan sát, nhẩm để lựa
chọn cách quy đồng mẫu số hay rút gọn phân số cho tiện.
Rút gọn

15 15 : 5 3
3
4
15
4


ÔN
NG
G

B

ÙII TTH
HỊỊ TTH

ÙY
YD
DU
UN
NG
G

Khi đã đưa về phân số tối giãn thì các em sẽ dễ dàng tìm được mẫu số chung để quy
đồng 2 phân số.
Ta có thể làm như sau :
3
5
1 1
7
5
2
- = - =
- =
15 35 5 7 35 35 35


5
7 12

đồng mẫu số nên khi cộng (trừ) phân số chúng ta cần chú ý xem các phân số đã cùng
mẫu số chưa nếu chưa ta phải quy đồng sau đó mới cộng ( trừ) phân số đó. Vậy ta
phải làm như sau:
VD:

2
5 14
25 39
+ =
+
=
5
7 35
35 35

7
5
14
40
54 27
+ =
+
=
=
làm theo cách này vẫn không sai nhưng giáo viên
8
2

HY
YN
NG

ÔN
NG
G

B

ÙII TTH
HỊỊ TTH

ÙY
YD
DU
UN
NG
G

- Cộng ( trừ) phân số cùng mẫu
- Cộng ( trừ) phân số khác mẫu ( cần chú ý phải quy đồng mẫu số trước
khi cộng hoặc trừ, nếu 1 trong 2 mẫu số chia hết cho mẫu số kia thì mẫu số đó là mẫu
số chung, còn nếu 1 trong 2 mẫu số không chia hết cho mẫu số kia thì mẫu số chung
sẽ là tích của 2 mẫu số.
VD: Bài 4 phần b, (tiết 121, trang 132 SGK)
Tính bằng cách thuận tiện :

2 7 13
 

Lúc này, giáo viên nên rút gọn trước ( dựa vào tính chất bằng nhau của phân số) để
tìm kết quả nhanh.
5 4 5x 4 4
x 

3 5 3x5 3

Trong bài luyện tập của phép nhân phân số ( tiết 124, trang 135 SGK) thì giáo viên
phải dẫn dắt học sinh nhớ lại kiến thức của học kỳ 1 đó là:
- Tính chất giao hoán của phép nhân
1100


TTR

ƯỜ
ỜN
NG
G TTH
HY
YN
NG

ÔN
NG
G

B

ÙII TTH

x1 =
21
21

II. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ.
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng các phương pháp trên, tôi nhận thấy học
sinh lớp tôi hứng thú học tập. Các em mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài, tính toán
nhanh, chính xác. Học sinh ham học, tự tin, chất lượng học tập được nâng lên một cách
rõ rệt. Trong quá trình học toán, học sinh dần dần biết cách phát hiện, chiếm lĩnh kiến
thức mới và cách giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống.
III. KẾT LUẬN.
Để có kết quả giảng dạy tốt đòi hỏi giáo viên phải nhiệt tình, phải có phương pháp
giảng dạy tốt, phương pháp giảng dạy tốt là một quá trình tìm tòi, học hỏi và tích lũy
kiến thức, kinh nghiệm của bản thân mỗi người.
Là người giáo viên được phân công giảng dạy lớp 4, tôi nhận thấy việc tích lũy kiến
thức cho các em là rất cần thiết, nó là tiền đề cho sự phát triển tri thức của các em, là nền
tảng để các em học lên các lớp trên và hỗ trợ các môn học khác.
Trên đây là suy nghĩ của tôi về cách dạy một số bài trong chương phân số của
chương trình toán 4 mới, tôi đã áp dụng những cách dạy đó nhằm nâng cao chất lượng
học toán cho lớp mà tôi phụ trách.. Những ý kiến của tôi đưa ra có thể còn nhiều hạn

1111


TTR

ƯỜ
ỜN
NG
G TTH


TTR

ƯỜ
ỜN
NG
G TTH
HY
YN
NG

ÔN
NG
G

B

ÙII TTH
HỊỊ TTH

ÙY
YD
DU
UN
NG
G

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phương pháp giải toán ở tiểu học - Nhà xuất bản GD (Vũ Dương ThụyĐỗ Trung Hiệu)

DU
UN
NG
G

MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.

Trang 1

I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN.

Trang 1

II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trang 2

1/ Học sinh

Trang 2

2/ Giáo viên

Trang 3

III/ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU.

Trang 3


Trang 10

1144




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status