SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐỌC TIẾNG ANH 8 - Pdf 17

Phần thứ nhất: Đặt vấn đề
I. Lý do chọn đề tài
1. Cơ sở lý luận.
Trong bối cảnh đất nớc ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, sự thách thức trớc nguy cơ tụt hậu trên con đờng hội nhập toàn cầu, và sự
tranh đua trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới giáo dục trong đó có sự đổi mới căn bản về
phơng pháp dạy học theo hớng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và năng
lực tự học của học sinh nhằm tạo ra lớp ngời mới năng động, sáng tạo đủ sức giải
quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn phát triển của đất nớc. Do vậy mục tiêu
giáo dục hiện nay đang tập trung hớng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo
và tích cực học tập của học sinh nhằm tạo khả năng nhân biết và giải quyết vấn đề
cho các em. Để đạt đợc những mục tiêu trên, việc thay đổi phơng pháp dạy học
theo hớng coi trọng ngời học - coi học sinh là chủ thể hoạt động, khuyến khích
các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình
dạy học là rất cần thiết.
Trong dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy môn tiếng anh nói riêng thì quan
điểm này càng đúng vì không ai có thể thay thế ngời học trong việc nắm vững ph-
ơng tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng
lực giao tiếp của mình. Phơng pháp dạy học tiếng anh chọn giao tiếp là phơng h-
ớng chủ đạo, năng lực giao tiếp là đơn vị cơ bản, coi giao tiếp vừa là mục đích
vừa là phơng tiện dạy học ( dạy học trong giao tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp)
phơng pháp dạy học này sẽ phát huy tốt nhất vai trò chủ thể, chủ động, tích cực
của học sinh trong việc rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ vì những mục đích thực tiễn
và sáng tạo, học sinh cần phải đợc trang bị cách thức học tiếng anh và ý thức tự
học tập, rèn luyện. Ngời học là chủ thể, nếu không biết cách tự học thì sẽ không
nắm vững tiếng nớc ngoài. Do vậy đổi mới phơng pháp dạy học là quá trình
chuyển từ thày thuyết trình, phân tích ngôn ngữ - trò nghe và ghi chép thành ph-
ơng pháp dạy học mới trong đó thày là ngời tổ chức, giúp đỡ hoạt động học tập
của học sinh, còn học sinh là ngời chủ động tham gia vào quá trình hoạt động học
tập. Tiêu trí cơ bản của phơng pháp dạy học này mới là hoạt động tự lập, tích cực,
chủ động của học sinh trong việc giải quyết các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngoại

học sinh thực tế giáo viên làm việc quá nhiều nên thậm chí làm việc thay cho cả
học sinh. Một phần tác động không ít đến kết quả học tập của học sinh đó là chính
bản thân các em. Nhiều học sinh cha nắm đợc động cơ học tập còn lời biếng, thờ ơ
với việc học tập. Nhiều gia đình cha quan tâm nhiều đến sự học của con em mình,
hơn nữa cuộc sống ở vùng nông thôn còn nhiều khó khăn nên học sinh về nhà còn
giúp đỡ gia đình do vậy không có nhiều thời gian giành cho học tập ở nhà.
II. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ thực trạng trên cùng với yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo
dục tôi nghĩ muốn nâng cao chất lợng dạy học trong trờng THCS thì mỗi bài dạy
phải lấy học sinh làm trung tâm, thày chủ đạo, là ngời tổ chức, giúp đỡ hoạt động
của học sinh và trò là ngời chủ động tham gia vào các quá trình hoạt động học tập
là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách của giáo viên. với đặc trng của môn Tiếng
Anh sử dụng phơng pháp giao tiếp là phơng hớng chủ đạo, năng lực giao tiếp là
đơn vị cơ bản, coi giao tiếp vừa là mục đích, vừa là phơng tiện dạy học thì đây là
phơng pháp phù hợp nhất với phơng pháp này sẽ thúc đẩy học sinh tính tự chủ lĩnh
hội kiến thức của học sinh giúp các em tiếp thu kiến thc, hình thành kỹ năng một
cách sâu sắc và vững chắc, có khả năng vận dụng và đảm bảo sự phát triển của trí
tuệ và năng lực sáng tạo trong quá trình học tập. Song với thời gian và phạm vi
nghiên cứu còn hạn chế do vậy tôi đa ra một số suy nghĩ của mình về phơng pháp
dạy kỹ năng đọc chơng trình tiếng anh lớp 8 theo hớng tích cực hoá hoạt động
học tập của học sinh
Phần thứ hai: Giải quyết vấn đề
Xuất phát từ cơ sở tìm tòi, tôi đi sâu nghiên cứu đổi mời phơng pháp dạy
học theo " phơng pháp giao tiếp là phơng hớng chủ đạo, năng lực giao tiếp là đơn
vị cơ bản, coi giao tiếp vừa là mục đích vừa là phơng tiện dạy học" Tôi nghĩ đây
là phơng pháp hợp lí vì môn ngoại ngữ đòi hỏi nhận thức và giải quyết mối quan
2
hệ giữa kiến thức và kỹ năng - hai thành tố chủ yếu của nội dung dạy học. Kỹ
năng là trung tâm, là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học còn kiến thức là
điều kiện, là phơng tiện, là nền tảng. Chỉ có kiến thức mà không có kỹ năng thì

tới, giúp cho học sinh có đợc phơng hớng học tập. Cần xác định rõ sau bài học học
sinh xẽ đạt đợc những gì về kiến thức, về kỹ năng và năng lực sử dụng ngôn ngữ:
* Tiến trình bài học: ( hoạt động trên lớp của giáo viên và học sinh)
Sau khi xác định đợc mục tiêu , giáo viên cần lập ra các bớc tiến hành nội
dung và tiến trình cụ thể để thực hiện những mục tiêu đã đề ra. Nói cách khac, nếu
câu hỏi khi xác định mục tiêu là "dạy gì?" "để làm gì?" thì ở giai đoạn này câu hỏi
là "làm nh thế nào?". Tiến trình của một bài học rất đa dạng và phong phú. Tiến
trình bài học phụ thuộc nhiều vào mục tiêu của bài học, vào phơng pháp và thủ
thuật triển khai bài học để thực hiện mục tiêu này.
Hơn nữa trong tiến trình bài giáo viên cần chọn những hình thức tổ chức lớp
học nh thế nào cho phù hợp để tạo không khí sôi nổi cho lớp học nh hoạt động cá
3
nhân, hoạt động nhóm chọn hình thức kiểm tra đánh giá học sinh để tìm ra
nguyên nhân và biện pháp khắc phục những hạn chế của học sinh.
2. B ớc chuẩn bị thiết bị dạy học:
Mục đích của việc dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức mà quan
trọng là tạo cho học sinh một tiềm lực để các em có bản lĩnh đi xa hơn những điều
mà thày cung cấp cho các em. Nhất là trong tình hình thực tế hiện nay thông tin
các en thu đợc rất nhiều nhiều hơn kiến thức mà ở trờng trang bị cho các em. Nên
đổi mới phơng pháp dạy học là vấn đề dặt ra có tính nguyên tắc và rất bức xúc với
thày. Muốn vậy thày phải có nhiệm vụ giúp học sinh năm kiến thức và hiểu rõ con
đờng dẫn tới kiến thức là từ trực quan sinh động tới t duy trừu tợng. Từ t duy trừu
tợng dẫn đến thực tiễn. Cuối cùng là phải sử dụng đợc phơng pháp đặc thù của bộ
môn là phơng pháp giao tiếp , rèn luyện các kỹ năng giao tiếp Nghe - Nói - Đọc -
Viết. Để thực hiện đợc phơng pháp này giáo viên phải có kỹ năng kỹ sảo có thủ
thuật để thu đợc kết quả cao. Có nh vậy mới kích thích đợc hứng thú của học sinh
học bộ môn, lòng ham biết, ham thực hành vận dụng, tạo dựng niềm tin cho các
em từ đó các em hiểu đợc kiến thức cần truyền thụ.
Xuất phát từ tầm quan trọng của phơng pháp này với bài dạy có thiết bị dạy
học ( Băng - Đài, Tranh, Bảng phụ ) thày phải cố gắng tạo mọi điều kiện chuẩn bị

bài cho phù hợp. Dới đây là một số ý kiến của tôi cho phần mở bài.
-Thiết lập không khi dễ chịu giữa thày - trò ngay giờ phút vào lớp, ví dụ:
Chào hỏi
Tự giới thiệu về mình
Hỏi chuyện
Kể chuyện vui
- Tạo thế chủ động tự tin cho học sinh. Ví dụ:
Thăm hỏi học sinh, tạo cho học sinh đợc giới thiệu, nói về mình, hỏi các
câu hỏi đáp lại.
- ổn định lớp, tập trung sự chú ý, gây hứng thú bằng cách bắt đầu ngay
bằng một hoạt động học tập nào đó có liên quan đến bài học nh:
shost listening task
observing a picture then ask and answer about the picture
A language game ( network, crosswords )
- Chuẩn bị tâm lí cho học sinh
Khai thác kiến thức của học sinh bằng thủ thuật giợi mở, hay nêu vấn đề để
cả lớp đóng góp ý kiến ( brainstorming)
Liên hệ những vấn đề của bài cũ có liên quan đến bài mới, có thể bằng các
hình thức khác nhau nh: Hỏi các câu hỏi có liên quan, ra bài tập về các nội dung
đã học có liên quan
Tạo ngữ cảnh, tình huống hoặc các cớ, lí do giao tiếp (communicative
needs) cho các hoạt động tiếp theo của bài ví dụ nh: Giáo cụ trực quan, ( đồ vật,
tranh, bu ảnh ) các mẩu chuyện có thật hoặc tự tạo. các bài đọc ngắn, các bài tập
hoặc câu hỏi, câu hỏi suy đoán cho nội dung bài sắp học.
Trong thực tế, những hoạt động và thủ thuật dùng cho phần mở bài có thể
cùng một lúc đáp ứng đợc nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, giáo viên nên tìm
cách sáng tạo để có đợc một cách vào bài sao cho cùng một lúc có thể đáp nhiều
nhiệm vụ đặt ra ví dụ: Ngay khi bớc vào lớp giáo viên có thể bằng một hoạt động
nêu vấn đề và giải quyết vấn đề (problem - solving) hoặc khai thác vốn kiến thức
có sẵn của học sinh về một nội dung có liên quan đến bài cũ và bài mới ( cụ thể

Sau khi đã tiến hành giới thiệu ngữ liệu mới, cách sử dụng ngữ liệu mới
giáo viên tiến hành kiểm tra mức độ tiếp thu bài của học sinh để qua đó giáo viên
biết đợc học sinh đã thực sự hiểu rõ ngữ liệu mới cha, hiểu đến đâu trên cơ sở đó
bổ sung cho bài giảng của mình.
Nói tóm lại việc giới thiệu ngữ liệu mới đợc tóm tắt theo một tiến trình nh
sau:
* Giới thiệu ngữ nghĩa và cách sử dụng ngữ liệu: Cấu trúc ngữ pháp, từ mới,
mẫu câu chức năng qua tình huống, ngữ cảnh, mẫu hội thoại, tranh ảnh.
*Nêu bật cấu trúc, từ mới, mẫu câu chức năng mới bằng cách đọc to cho
học sinh nghe nhắc lại hoặc bằng các thủ thuật khác nhằm hớng sự chú ý của học
sinh vào những mục dạy đó.
* Viết các cấu trúc, từ mới lên bảng , làm rõ hình thái cấu trúc giải thích
nếu cần.
* làm rõ thêm nghĩa và cách sử dụng bằng cách tiếp tục đa thêm các tình
huống hay các ví dụ khác.
Lặp lại tơng tự cho học sinh tái tạo theo gợi ý
6
* Kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh.
* Trong khi tiến hành bớc giới thiệu ngữ liệu mới giáo viên cần tăng cờng
sự tham gia của học sinh cho học sinh tham gia vào quá trình học tập.
c. Thực hiện dạy kỹ năng đọc:
Khi tiến hành dạy một bài kỹ năng nói chung, dạy kỹ năng đọc nói riêng
giáo viên cần tiến hành theo 3 bớc nh Pre- task, while- task, post- task. Những yêu
cầu hoạt động đợc thiết kế theo các bớc này giúp cho học sinh hiểu bài và thực
hành đợc kỹ năng lời nói một cách thấu đáo và có suy nghĩ hơn trên cơ sở đó sẽ
khắc sâu bài lâu bền hơn. Do vậy trong mỗi bớc đó giáo viên cần phải tổ chức các
hoạt động nh thế nào cho phù hợp.
* hoạt động trớc bài đọc: (pre- reading)
các hoạt động trớc khi đọc sẽ giúp học sinh hình dung trớc nội dung, chủ
điểm hay nội dung tình huống của bài các em sẽ đọc về chúng. Với các hoạt động

Các dạng bài tập có thể sử dụng trong hoạt động này:
+ Summarise the text
+Arrange the events in order
+ Give comments, opinion on characters in the text
+ Rewrite the stories from jumbled sentences/ words/ visual cues
+ Role play basing on the text
+ Personised tast ( talk/ write about your own )
III./ tiến hành dạy bài cụ thể
Để thực nghiệm cho phơng pháp nêu trên tôi xin tiến hành dạy một bài dạy
đọc cụ thể trong chơng trình Tiếng Anh lớp 8 :
Unit 5: Study habit
Lesson 4: read.
Xác định mục tiêu:
Với bài dạy này sau khi nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên và sách
tham khảo tôi đã xác định đợc mục tiêu bài dạy:
- Giúp học sinh luyện kỹ năng đọc và hiểu đợc nội dung của bài " cách học
từ vựng khi học tiếng anh"
- Học xong bài học sinh nắm và niết thêm một số cách học từ để vận dụng
vào bản thân khi học ngoại ngữ.
Chuẩn bị của giáo viên :
Đây là bài học rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc hiểu nên tôi chuẩn bị
thiết bị đồ dùng dạy học cho bài học là: Bảng phụ ghi các bài tập, một số mẩu
giấy minh hoạ cho việc giới thiệu từ mới: High light, under line, piece of small
paper,
Chuẩn bị của học sinh :
Giấy tô ky, bút dạ, SGK,
Với bài học trên tôi tiến hành bài học nh sau:
+Warm up (7')
+ Pre-reading (8')
+ While- reading (17')

Giáo viên kiểm tra mức độ hiểu từ của học sinh bằng cách đa ra 2 tờ giấy
trên hai tờ giấy giáo viên viết 2 câu một câu minh hoạ cho từ highlight và một câu
minh hoạ cho từ underline và yêu cầu học sinh đọc lại 2 từ đó.
1.They are famous writer
2.learners learn new words in different ways.
Giáo viên đa tiếp 2 câu để kiểm tra từ meaning, và từ mother tongue
3.Can you give the of this word?
4. Mary is English so English is her
Sau khi đã tiến hành các bớc trên, giáo viên đa ra bài tập true/ false
9
Ways of learning new
words
A. All the language learners write the meanings of new words in their
mother tongue.
B. Some learners write examples of words they want to learn.
C. Every learner tries to learn all new words they come across
D. Many learners only learn new words that are important.
E. There are only way of learning the same number of words.
Giáo viên yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm đa ra sự suy đoán của mình
Giáo viên gọi đại diện từng nhóm đa ra câu trả lời của nhóm mình sau đó
giáo viên viết lên bảng
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4
A A A A
B B B B
C C C C
D D D D
E E E E
While- reading
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc qua bài và kiểm tra lại sự suy đoán của
nhóm mình sau đó yêu cầu học sinh so sánh câu trả lời với sự suy đoán. Giáo viên

* Post- reading:
Giáo viên yêu cầu học sinh làm theo nhóm tổng hợp cách học từ mới mà
trong bài đề cập.
Giáo viên thu bài của các nhóm và treo lên bảng.
Giáo viên yêu cầu các nhóm chữa bài cho nhau.
Giáo viên chốt lại các cách học từ mới trong bài đề cập tới
-Make a list and put into it the meanings of new words in their mother
tongue and tries to learn them by heart.
-Write example sentences with each new word
-Write each word and its use on a small piece of paper and tick it some
where in the house so as to learn it any time
-Under lie or highlight only the words they want to learn.
-Learn number of new words:
- half each day
- all and review.
Giáo viên yêu cầu học sinh nêu cách học từ mới của mình. Giáo viên giới
thiệu thêm một số cách học khác mà trong phần đọc cha đề cập đến ví dụ: Học từ
bằng sơ đồ (word mapping) học từ theo chủ điểm từ, cây từ (tree word)
Homework
Giáo viên yêu cầu học sinh về nhà viết các câu trả lời phần 2 vào vở bài tập
11
S
u
b
j
e
c
t
s
English

cho học sinh và giúp học sinh sửa chữa sau đ.
Kết quả thực nghiệm:
Qua thực tế giảng dạy tiết đọc bài 5 trong chơng trình tiếng anh 8 theo ph-
ơng pháp nêu trên tôi thấy:
Không khí học tập sôi nổi, học sinh tự tin rèn luyện kỹ năng trong giao tiếp
- Học sinh hứng thú với môn học tiếng anh
- Kết quả chung của bài kiểm tra viết
Lớp Sĩ số Học sinh đạt điểm
trên TB
Tỉ lệ %
8A 34 27 80,3%
12
8B 32 20 60,2%

%
0 lớp
Đối với lớp 8A sử dụng phơng pháp dạy học nêu trên, lớp 8B sử dụng phơng
pháp thông thờng (ít chú ý đến việc phát huy tính tích cực học tập và các hình thức
hoạt động trên lớp)
Phần thứ ba: Kết luận
1. Những vần đề còn tồn tại.
Phơng pháp dạy học theo hớng giao tiếp, phát huy tính tích cực chủ động
sáng tạo, tự lập suy nghĩ là một phơng pháp tốt. Song bên cạnh đó tôi nhận thấy
vấn còn một số tồn tại :
- Với học sinh yếu kém, các em rất ngại học, sức ỳ còn quá lớn do đó lôi
cuốn các em vào trong các hình thức hoạt động trên lớp sẽ gặp nhiều khó khăn
(Khi thảo luận theo nhóm các em học sinh này không tích cực tham gia. Do vậy
kết quả của nhóm chỉ là kết quả của một số em học sinh khá ) điều này dẫn đến
các em học sinh kém lại càng kém hơn.
2. ý kiến đề xuất:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status