TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Đoàn Thị Thùy Dung
TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
SAU KHI RA TRƯỜNG
Tiểu luận khoa học
Học phần: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Lớp: 1305 QTVE
Ngành: Quản trị văn phòng
Quảng Nam - 2015
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Đoàn Thị Thùy Dung
TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
SAU KHI RA TRƯỜNG
Tiểu luận khoa học
Học phần: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Lớp: 1305 QTVE
Ngành: Quản trị văn phòng
2.4.1 KHÁI NIỆM TỶ LỆ THẤT NGHIỆP .............................................11
2.4.2 CÔNG THỨC TÍNH TỶ LỆ THẤT NGHIỆP ................................13
2.5 TỶ LỆ THẤT NGHIỆP TƯ NHIÊN ......................................................15
2.6 CÁC YẾU TỐ XÁC ĐỊNH TỶ LỆ THẤT NGHIỆP .............................15
2.7 YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ LỆ THẤT NGHIỆP TỰ NHIÊN ........15
3
CHƯƠNG 3. TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SAU
KHI RA TRƯỜNG .........................................................................................16
3.1. TÌNH TRẠNG ........................................................................................16
3.2 CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG ................................................20
CHƯƠNG 4. BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THẤT
NGHIỆP CỦA SINH VIÊN VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP ............24
4.1 BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP CỦA
SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG..........................................................24
4.2 MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP ..............................................................24
E. KẾT LUẬN ................................................................................................... 26
F. TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 27
G. PHỤ LỤC....................................................................................................... 27
4
LỜI CAM KẾT
Em xin cam đoan bài tiểu luận này là do bản thân thực hiện cùng sự
hỗ trợ, tham khảo từ các tư liệu, giáo trình liên quan đến đề tài nghiên
cứu và không có sự sao chép y nguyên các tài liệu đó.
Người cam kết
Chương 3: Thực trạng về vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi
ra trường
Chương 4: Biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp của sinh viên
và Một số ý kiến đóng góp
7
Chương 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1.Lý do chọn đề tài
Vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra truờng là vấn đề đáng báo
động. Nguyên nhân vấn đề này là do đâu và đã có những biện pháp gì để
giải quyêt. Đó là một trong số lý do em chọn đề tài “ Vấn đề thất nghiệp của
sinh viên sau khi ra trường”.
1.2.Mục đích và mục tiêu của nghiên cứu đề tài
1.2.1.Mục đích
Nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên
sau khi ra truờng, tìm ra giải pháp khắc phục vấn đề trên.
1.2.2.Mục tiêu
Giúp cho mọi người va bản thân em hiểu rõ vấn đề thất nghiệp của sinh
viên có ảnh hưởng đến lực lượng lao động như thế nào, kinh tế xã hội có bị
ảnh hưởng nhiều không.
1.3.Giới thiệu của đề tài
1.3.1.Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên chuẩn bị ra truờng và sinh viên sau khi ra truờng
1.3.2.Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu sinh viên tại một số truờng đại học nói chung và sinh viên
trường Đại học Nội vụ Hà Nội cơ sở miền Trung nói riêng
1.4.Phương pháp nghiên cứu
Thất nghiệp trung hạn, Thất nghiệp dài hạn, Thất nghiệp từng phần (bán
thất nghiệp), Thất nghiệp toàn phần, Thất nghiệp chu kỳ, Thất nghiệp nhu
9
cầu, Thất nghiệp kinh niên, Thiếu việc làm hữu hình, Thiếu việc làm vô
hình, Thừa lao động, Lao động dôi dư...
Tuy nhiên nội hàm của những thuật ngữ đã nêu không được phân biệt một
cách rõ ràng. Chẳng hạn, thất nghiệp tự nhiên chủ yếu là do thiếu thông tin
thị trường lao động và do sự di chuyển của người lao động trên thị trường,
như vậy lọai hình này gồm một phần là thất nghiệp tạm thời và một phần là
thất nghiệp cơ cấu. Đến lượt mình, một bộ phận của thất nghiệp cơ cấu lại là
kết quả của việc không đáp ứng yêu cầu về tay nghề và nghiệp vụ do tiến
bộ kỹ thuật đòi hỏi. Ở đây không nói đến khía cạnh thay đổi công nghệ làm
giảm nhu cầu lao động mà đề cập đến yêu cầu nâng cao kiến thức, kỹ năng
hoặc phải thay đổi một số nghề và nghiệp vụ. Hay là, do không có thông
tin đầy đủ về thị trường lao động nhiều người tự nguyện thất nghiệp không
đi tìm việc làm, họ mong đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập
không thực tế ("ảo") trong tương lai, và sự kém hiểu biết đã lấy di những
cơ hội việc làm của họ.
Nhiều tranh luận cũng xảy ra với trường hợp thất nghiệp mùa vụ. Do thất
nghiệp mùa vụ liên quan đến tính chất thời vụ và thời gian kéo dài của nó
nên cũng được coi là một phần của thất nghiệp cơ cấu. Ngoài ra, đặc điểm
của sản xuất nông nghiệp chỉ ra rằng thất nghiệp mùa vụ thường thấy dưới
hình thức trá hình. Thất nghiệp trá hình xảy ra khi giảm nhu cầu về lao động
không tương ứng với giảm số nơi làm việc. Thất nghiệp trá hình cũng có thể
xảy ra khi tuyển quá số lao động nhưng không đạt yêu cầu về tay nghề và
khi tuyển những người không phù hợp về chuyên môn, nghiệp vụ.
Để đỡ phức tạp và có cách hiểu đồng nhất, thuận lợi cho việc xác định
nguyên nhân và đề xuất những công cụ, giải pháp thích hợp, chúng tôi đề
đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đến từng loại hình thất nghiệp theo
bảng
2.4.Tỷ lệ thất nghiệp
2.4.1.Khái niệm
Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm tính trên
tông số lao động trong xã hội.
11
Thất nghiệp xảy ra khi một người có khả năng làm việc và sẵn sàng làm
việc nhưng không có việc làm. Thất nghiệp thường được đo lường bằng việc
sử dụng tỷ lệ thất nghiệp, được xác định bằng tỷ lệ phần trăm của những lao
động không có việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp cũng được sử dụng trong các
nghiên cứu kinh tế và các chỉ số kinh tế chẳng hạn như Chỉ số về các Chỉ
tiêu dẫn đầu của Ban quốc hội Mỹ được sử dụng như một thước đo tình hình
kinh tế vĩ mô.
Kinh tế học chủ đạo cho rằng thất nghiệp là không thể tránh khỏi, và một
điều không muốn nhưng phải chấp nhận là phải ngăn chặn lạm phát; đây là
vấn đề gây tranh cãi trong một số trường kinh tế không chính thống. Nguyên
nhân của thất nghiệp vẫn còn đang gây tranh cãi. Kinh tế học Keynes nhấn
mạnh rằng thất nghiệp là do nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh
tế không đủ (thất nghiệp chu kỳ). Những người khác cho rằng đó là do vấn
đề cơ cấu và tính không hiệu quả trong thị trường lao động; thất nghiệp cơ
cấu liên quan tới sự không phù hợp giữa cung và cầu đối với lao động có
những kỹ năng cần thiết, đôi khi bị ảnh hưởng bởi công nghệ hỏng hoặc quá
trình toàn cầu hóa. Kinh tế cổ điển hoặc tân cổ điển có xu hướng bác bỏ
những giải thích này, và tập trung nhiều hơn vào những quy định cứng nhắc
áp đặt cho thị trường lao động, chẳng hạn như tổ chức công đoàn, luật về
lương tối thiểu, thuế, và các quy định khác làm giảm việc thuê lao động (thất
việc làm đăng quảng cáo, hoặc một vài cách tìm kiếm việc làm trong trước
bốn tuần. Việc xem quảng cáo việc làm mà không đáp lại sẽ không được coi
là tích cực tìm kiếm việc làm. Bởi vì không phải tất cả những trường hợp
13
thất nghiệp có thể “lộ ra” và được các cơ quan chính phủ biết tới nên số liệu
thống kê chính thức về thất nghiệp có thể không chính xác.
ILO chỉ ra 4 phương pháp khác nhau để tính tỷ lệ thất nghiệp:
Cuộc điều tra về thực trạng lao động là phương pháp tính tỷ lệ thất nghiệp
được ưa chuộng nhất bởi vì chúng cho ra kết quả đầy đủ nhất và có thể tính
tỷ lệ thất nghiệp theo nhiều loại nhóm khác nhau chẳng hạn như chủng tộc
và giới tính. Đây là phương pháp được sử dụng nhiều nhất cho việc so sánh
tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước trên thế giới.
Những dự đoán chính thức về tỷ lệ thất nghiệp được đưa ra bằng sự kết hợp
thông tin của một hoặc nhiều hơn trong số 3 phương pháp khác nhau.
Việc sử dụng phương pháp này làm giảm tác dụng của những Cuộc điều tra
về thực trạng lao động.
Số liệu thống kê về Bảo hiểm xã hội chẳng hạn như trợ cấp thất nghiệp,
được tính toán dựa trên số lượng người được bảo hiểm, đại diện cho tổng lực
lượng lao động và số lượng người được bảo hiểm mà đang nhận trợ cấp.
Phương pháp này bị chỉ trích rất nhiều do thời hạn hưởng trợ cấp kết thúc
trước khi người ta tìm được việc làm.
Số liệu thống kê của Phòng lao động là ít có tác dụng nhất bởi vì họ chỉ tính
đến số lượng người thất nghiệp hàng tháng, những người đến các Phòng lao
động để tìm việc làm. Phương pháp này cũng kể đến cả những người thất
nghiệp mà theo định nghĩa của ILO họ không bị thất nghiệp
14
3.1.Tình trạng thất nghiệp của sinh viên ra trường:
Hiện nay hầu hết sinh viên khi ra trường, nhất là các sinh viên học tại các
thành phố lớn, đều bắt đầu đôn đáo kiếm một công việc tạm thời nào đó
để làm lấy tiền trụ lại thành phố xin việc ổn định sau, mà không phải xin
tiền bố mẹ. Các công việc mà họ làm đa phần là không cần đến bằng cấp
như: Bưng bê tại các quán café, quán ăn hay làm nhân viên trực nghe
điện thoại, đi gia sư…Chỉ là những công việc đơn giản như thế, lương
không đủ ăn nhưng để xin được một chỗ làm ổn định cũng không phải dễ
dàng gì.
Rất nhiều trung tâm tuyển dụng việc làm lợi dụng các sinh viên mới ra
trường để lừa bịp bằng các chiêu nộp hồ sơ cộng với tiền phí xin việc để
rồi công việc thì chẳng thấy đâu, nhiều sinh viên mới ra trường do thiếu
hiểu biết nên vừa bị lừa mất tiền, lại mất cả công sức lẫn thời gian làm
việc không công cho một công ty nào đó.
Tình trạng ấy không chỉ xảy ra với các sinh viên có bằng loại khá, trung
bình khá mà thậm chí cả những sinh viên ra trường với tấm bằng loại giỏi
vẫn loay hoay không biết phải đi đâu, về đâu trong tình trạng ở các công
ty, các cơ quan lúc nào cũng chồng đống những xấp hồ sơ xin việc. Nên
có không ít bạn sinh viên sau khi học xong Cao đẳng hay Đại học do
không xin được việc đã chọn giải pháp là học tiếp, học liên thông hay học
văn bằng hai để lại được bố mẹ nuôi như tâm sự của một số bạn sinh
viên: “Mình chán cảnh phải ngồi chầu chực xin việc ở các trung tâm mà
cuối cùng lại về không nên mình đã bảo bố mẹ rồi, mình sẽ học lên Cao
học. Hy vọng với tấm bằng thạc sĩ thì ra trường sẽ suôn sẻ hơn”.
Cũng có nhiều sinh viên ra trường nhưng còn dành thời gian và tiền bạc
đi học thêm các chuyên ngành khác như tiếng Anh, lập trình, nghiệp vụ
thư ký, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ báo chí… để có thể “đỡ đần” trước
16
định. Con số này tuy có chiều hướng giảm nhưng không ổn định và vẫn ở
mức cao, gấp đôi tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước, hiện tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị khoảng 7,2%, nông thôn là 10%, tổng số người chưa
có công ăn việc làm khoảng 3, 2 triệu người. Tất nhiên, con số 20% sẽ
giảm đáng kể nếu chúng ta kéo dài khung thời gian ra 5 năm hoặc dài
hơn nữa, tuy nhiên nó cũng phản ánh khá rõ những khó khăn trong tìm
kiếm việc làm của giới trẻ”.
Đoàn Thị Thùy Linh, quê Quảng Trị, tốt nghiệp loại khá Trường ĐH
Kinh tế Quốc dân, cho biết: “Em ra trường đã hơn 3 năm, nhưng vẫn
chưa có một việc làm ổn định. Những nơi có công việc hấp dẫn thì đòi
hỏi quá cao về kinh nghiệm, thâm niên công tác, bằng cấp... Nơi vừa sức
thì lại bấp bênh, không phù hợp với chuyên môn, trình độ, hoặc đãi ngộ
không xứng đáng. Kiểu “thấp không ưa, cao chưa tới” là tình trạng khá
phổ biến trong giới sinh viên mới tốt nghiệp. Trường hợp của Nguyễn
Diệu Thư là một ví dụ. Mặc dù cuộc sống vật chất không đến nỗi vất vả
do chị vẫn làm những việc làm công theo giờ ở những cửa hàng bán áo
quần, làm thiệp cưới, nhưng vẫn bị coi là kẻ thất nghiệp điển hình. Kể từ
khi tốt nghiệp hệ cao đẳng tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội cơ sở miền
Trung tới nay đã hơn 1 năm, chị vẫn chưa chính thức được nhận vào 1 cơ
quan hành chính, công ty hay doanh nghiệp nào phù hợp chuyên ngành
với chị. Thất nghiệp với Diệu Thư chỉ đơn giản vì chị thích được làm
đúng ngành nghề mà mình theo học ở một cơ quan nhà nước, còn những
công ty tư nhân, doanh nghiệp nhỏ thì chị lại không muốn làm.
TS. Lưu Hồng Minh nhận xét: “Tình trạng này ngoài nguyên nhân xuất phát
từ yếu tố cá nhân của các bạn trẻ, những bất cập trong chương trình đào tạo
so với yêu cầu thực tế của công việc, còn phải kể đến các em quá thiếu kỹ
18
năng tìm việc, kỹ năng hoạch định mục tiêu cho mình một cách rõ ràng,
ThS.Vũ Thùy Anh (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho biết, thất nghiệp tự
nguyện, hay thất nghiệp công nghiệp là khái niệm còn tương đối mới ở Việt
Nam, nhưng là điều thông thường đối với các nước phát triển. Về một mặt
nào đó, có thể coi đây là tín hiệu vui cho thị trường lao động thời gian qua.
ThS.Thùy Anh nhấn mạnh: “Con số chính xác về tỷ lệ thất nghiệp tự nguyện
là tham số quan trọng trong việc hoạch định các chính sách vĩ mô về lao
động và việc làm”. Hy vọng, đợt điều tra về tình hình thất nghiệp trong hai
tuần đầu tháng 7 sẽ cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh và xác thực về
tình trạng công ăn việc làm trong giới trí thức nói riêng, trong dân cư nói
chung.
3.2. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp của sinh viên khi
ra trường:
Bị động khi tìm việc
Đây là một những trong lỗi thường mắc phải của sinh viên mới ra trường.
Thường thì họ sẽ dựa vào hoặc ỷ lại vào bố mẹ, tận dụng các mối quan hệ
của bố mẹ hoặc chờ đợi một công ty, cơ quan nào đó đến tìm mình.
Dựa dẫm vào mạng internet thái quá
Không biết thiết lập mạng lưới quan hệ
Lý tưởng hóa công việc
Xem thường buổi phỏng vấn
Sinh viên không thực sự có khả năng
20
Nhiều sinh viên thi vào một trường Đại học hay cao đẳng nào đó không phải
vì ham mê, yêu thích hay có năng khiếu mà chỉ vì thi đại lấy một trường để
đi học. Cũng có nhiều sinh viên có năng khiếu về chuyên nghành mình theo
học nhưng trong suốt mấy năm học đại học đã không chịu khó học hành, rèn
luyện kĩ năng, học hỏi kinh nghiệm nên khi ra trường không tránh khỏi việc
lúng túng khi tiếp cận với công việc. Trong khi xã hội ngày càng đòi hỏi
sự có khả năng như trong bảng giới thiệu hay không? Về phần mình, nhiều
ứng viên tự nhận thấy sai lầm của họ là chưa quan tâm đúng mức đến bộ hồ
sơ. Sinh viên có thể tạo ấn tượng qua đơn xin việc, lý lịch hay ngay trong
buổi phỏng vấn bằng sự thông minh, năng động của mình.
Nguyên nhân cuối cùng là sinh viên không biết cách nói về mình. Một lợi
thế của sinh viên là họ ham học hỏi, có tinh thần cầu tiến và lĩnh hội nhanh
công việc được giao. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm cũng là
những yếu tố mà doanh nghiệp hiện nay đang rất cần trong quá trình cạnh
tranh và hội nhập. Ngoài ra, yếu tố sức khỏe, chấp nhận đi xa cũng như dễ
hòa nhập đã trở thành điểm mạnh nổi trội ở những người trẻ tuổi. Vì vậy,
sinh viên nên tận dụng và phát huy tối đa những thế mạnh của mình để nâng
cao vị thế cạnh tranh trong tìm việc.
Đào tạo nhiều hơn nhu cầu.
Hiện nay có rất nhiều nghành nghề trong các trường Cao đẳng – Đại học
được tuyển sinh và đào tạo ồ ạt, chỉ tiêu đào tạo vượt quá chỉ tiêu tuyển
dụng. Mà tiêu biểu cho thực trạng ấy là nghành sư phạm. Hơn 10 năm trước,
khi Nhà nước bắt đầu áp dụng chế độ miễn giảm học phí với sinh viên ngành
22
sư phạm thì người người thi nhau học ngành này. Nhiều tỉnh cũng mở ra
trường Đại học sư phạm thu hút rất nhiều các thí sinh trong tỉnh. Phải chăng
đây là nguyên nhân dẫn đến ngành giáo dục “bội thực” nhân lực “ảo”, dẫn
đến “khủng hoảng” thừa như hiện nay? Và cái hiện tượng nhiều sinh viên
cầm được tấm bằng “đỏ” mà vẫn bị loại trong các đợt xét tuyển ngạch công
chức là điều dễ hiểu. Bởi chỉ tiêu xét tuyển chỉ đếm trên đầu ngón tay, còn
hồ sơ dự tuyển cao gấp chục lần. Các sinh viên sư phạm ra trường để kiếm
được một chân dạy hợp đồng lương ba cọc ba đồng, không đủ chi tiêu cũng
đã phải chạy vạy vất vả chưa nói gì đến thi vào biên chế. Tình trạng này diễn
ra lỗi không chỉ ở nghành đào tạo mà cả các thí sinh khi đổ vào học sư
- Đa dạng hóa các "kênh" giao dịch trên thị trường lao động; tổ chức
thường xuyên, định kỳ các sàn giao dịch việc làm để có thể kết nối hoạt
động giao dịch trên phạm vi toàn quốc
- Nâng cao hiểu biết về pháp luật, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp
và nâng cao thể lực đảm bảo cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng cả
về thể lực và trí lực, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp
4.2.Một số ý kiến đóng góp
- Hãy chủ động tìm việc. Trong thời đại công nghệ số và phát triển như
hiện nay thì các công ty, cơ quan và doanh nghiệp luôn đề cao tính năng
động, cạnh tranh lành mạnh của các ứng viên.
- Không nên phụ thuộc vào internet một cách thái quá
24
- Hãy tận dụng tối đa những mối quan hệ , đồng thời xây dựng, tạo thêm
những mối quan hệ mới, bạn sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn.
- Hãy cho nhà tuyển dụng biết những khả năng nổi trội của bạn so với
những ứng viên khác, bạn có thể mang lại lợi ích gì cho họ nếu như bạn
được tuyển dụng...
- Hãy chủ động tìm việc. Trong thời đại công nghệ số và phát triển như
hiện nay thì các công ty, cơ quan và doanh nghiệp luôn đề cao tính năng
động, cạnh tranh lành mạnh của các ứng viên.
- Không nên phụ thuộc vào internet một cách thái quá
- Hãy tận dụng tối đa những mối quan hệ , đồng thời xây dựng, tạo thêm
những mối quan hệ mới, bạn sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn.
- Hãy cho nhà tuyển dụng biết những khả năng nổi trội của bạn so với
những ứng viên khác, bạn có thể mang lại lợi ích gì cho họ nếu như bạn
được tuyển dụng...