Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Lời nói đầu
Sinh viên ra trường hiện nay thất nghiệp đang là vấn đề đáng báo
động trong xã hội hiện nay. Câu hỏi đặt ra ở đâuy là nguyên nhân của
tình hình thất nghiệp của sinh viên hiện nay là do đâ? Hậu quả để lại là
gì? Vấn đề đó đã gây thiệt hại gì cho nền kinh tế nước nhà? Và chúng
ta phải làm gì để khâc phục tình trạng trên? Vấn đề này được nhìn từ
nhiều góc độ khác nhau và mỗi người một quan điểm khác nhau. Tuy
nhiên giải pháp nhằm đặt ra gấp để giải quyết vấn đề lao động trong xã
hội cũng như đảm bảo công ăn việc làm cho hàng nghìn sinh viên mỗi
năm ra trường. Vấn đề này cần sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta,
và nó không nằm ngoài sự quan tâm của em vì vậy em chọn đề tài “Vấn
đề thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường” để nghiên cứu.Đề tài
của em gồm 3 chương:
Chương 1:Giới thiệu chung
Chương 2: Cơ sở lý luận về vấn đề thất nghiệp
Chương 3: Thực trạng về vấn đề thất nghiệp của sinh viên sau khi
ra trường
Chương 4: Biện pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp của sinh viên
và Một số ý kiến đóng góp
Chương 5: Kết luận
Do kiến thức của em còn hạn hẹp và vẫn còn tồn tại một số thiếu
xót em mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề
tài của em được hoàn thiện hơn.Em xin chân thành cảm ơn.
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
1
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Chương 1
Giới thiệu chung
1.1.Lý do chọn đề tài
Vấn đề thất nghiệp của sinh vien sau khi ra truờng là vấn đề đáng báo
lợi lao động được quy định trong hiến pháp
Nữ 18->55
Nam 18->60
Người ngoài tuổi lao động = dan số- tuổi lao động
-Người trong tuổi lao động có hai loại
Lực lượng lao động:
+Người có việc làm : làm trong hoạt động kinh tế xã hội
+Người thất nghiệp:người ko có việc làm nhưng mong muốn tìm được việc
làm
1.2.Phân loại thất nghiệp
Theo các nhà khoa hoc thì thất nghiệp được chia thành các loại sau:
Trong các sách báo kinh tế chúng ta thường gặp rất nhiều những tên gọi
khác nhau về các lọai hình thất nghiệp. Thực tế đó bắt nguồn từ những
quan niệm không thống nhất về thất nghiệp hoặc dựa trên những tiêu
chuẩn phân loại khác nhau. Chúng ta hay gặp các thuật ngữ : Thất nghiệp
tạm thời, Thất nghiệp tự nhiên, Thất nghiệp tự nguyện, Thất nghiệp không
tự nguyện, Thất nghiệp cơ cấu, Thất nghiệp công nghệ, Thất nghiệp mùa
vụ, Thất nghiệp hữu hình, Thất nghiệp trá hình, Thất nghiệp ngắn hạn,
Thất nghiệp trung hạn, Thất nghiệp dài hạn, Thất nghiệp từng phần (bán
thất nghiệp), Thất nghiệp toàn phần, Thất nghiệp chu kỳ, Thất nghiệp nhu
cầu, Thất nghiệp kinh niên, Thiếu việc làm hữu hình, Thiếu việc làm vô
hình, Thừa lao động, Lao động dôi dư...
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
3
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
Tuy nhiên nội hàm của những thuật ngữ đã nêu không được phân biệt một
cách rõ ràng. Chẳng hạn, thất nghiệp tự nhiên chủ yếu là do thiếu thông tin
thị trường lao động và do sự di chuyển của người lao động trên thị trường,
như vậy lọai hình này gồm một phần là thất nghiệp tạm thời và một phần là
thất nghiệp cơ cấu. Đến lượt mình, một bộ phận của thất nghiệp cơ cấu lại là
có thể là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía cung
của lực lượng lao động.
Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà
GDP tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí còn
trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo
và với những thành phố lớn.
Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài
hạn do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy
thoái, dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm.
Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà
GDP tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí còn
trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo
và với những thành phố lớn.
Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn
do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái,
dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm.
Thất nghiệp nhu cầu xuất hiện trong những năm đầu của cuộc cải cách kinh
tế ở nước ta (1986 - 1991) và gần đây có xu hướng tăng lên do đình đốn, ứ
đọng sản phẩm ở một số ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng của khủng hỏang
kinh tế thế giới, đồng thời với đó là quá trình cải cách doanh nghiệp nhà
nước và dôi dư lao động
2.Nguyên nhân gắn với loại hình thất nghiệp
Hiệu quả can thiệp của Chính phủ vào lĩnh vực lao động - việc làm để
đảm bảo an sinh xã hội hoặc tạo điều kiện tăng độ linh hoạt mềm dẻo của
thị trường lao động-nhằm mục tiêu việc làm đầy đủ, việc làm bề vững và
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
5
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
có hiệu quả - phụ thuộc trước hết vào việc đánh giá đúng những nguyên
nhân gây ra từng loại hình thất nghiệp và lựa chọn những công cụ, giải
+++ ++
* Lạm phát ++
* Mất đất nông nghiệp do làm
KCN, KCX
++ ++
* Tăng quy mô lực lượng lao động +++
* Trình độ đào tạo không phù hợp
với yêu cầu làm việc
+++
* Cơ cấu nghiệp vụ (nghề) theo +++
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
6
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
vùng về số lượng và chất lượng
không phù hợp
* Áp dụng công nghệ mới +++
* Thay đổi trong hệ thống giá trị + +++
* Thay đổi cơ cấu dân số +++
* Chính sách tiền lương tối thiểu
của Chính phủ
+++ +++
* Đình đốn nhu cầu và suy thoái
kinh tế
++ +++
* Cơ chế sử dụng lao động trong
khu vực nhà nước
++ +++
* Chi phí lao động quá cao +++ +++
* Năng suất lao động thấp +++
* Do tính chất mùa vụ của sản xuất +++
đề cơ cấu và tính không hiệu quả trong thị trường lao động; thất nghiệp cơ
cấu liên quan tới sự không phù hợp giữa cung và cầu đối với lao động có
những kỹ năng cần thiết, đôi khi bị ảnh hưởng bởi công nghệ hỏng hoặc quá
trình toàn cầu hóa. Kinh tế cổ điển hoặc tân cổ điển có xu hướng bác bỏ
những giải thích này, và tập trung nhiều hơn vào những quy định cứng nhắc
áp đặt cho thị trường lao động, chẳng hạn như tổ chức công đoàn, luật về
lương tối thiểu, thuế, và các quy định khác làm giảm việc thuê lao động (thất
nghiệp theo lý thuyết cổ điển). Tuy nhiên những người khác cho rằng thất
nghiệp phần lớn là do sự lựa chọn tự nguyện của những người không có việc
làm và thời gian cần để tìm kiếm một công việc mới (thất nghiệp do chuyển
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
8
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật
nghề). Kinh tế học hành vi nêu bật các hiện tượng như tiền lương cứng nhắc
và tiền lương hiệu quả mà có thể dẫn đến thất nghiệp.
Cũng có bất đồng về quan điểm làm thế nào để đo lường chính xác tỷ lệ thất
nghiệp. Các nước khác nhau có tỷ lệ thất nghiệp khác nhau; Theo truyền
thống, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ thấp hơn so với các nước thuộc liên minh
châu Âu, mặc dù cũng có sự khác nhau về tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước
này, các nước như Anh và Đan Mạch hoạt động tốt hơn Ý và Pháp và tỷ lệ
thất nghiệp cũng thay đổi theo thời gian (ví dụ cuộc Đại suy thoái) trong
suốt chu kỳ kinh tế.
2.1.2.Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp
Mặc dù nhiều người quan tâm đến số lượng người thất nghiệp, nhưng các
nhà kinh tế học chỉ tập trung vào tỷ lệ thất nghiệp. Cách tính này chính xác
khi có sự gia tăng thông thường số lượng người thất nghiệp do tăng dân số
và tăng lực lượng lao động liên quan tới sản xuất. Tỷ lệ thất nghiệp được thể
hiện dưới dạng tỷ lệ %, và được tính như sau:
Tỷ lệ thất nghiệp = Số lượng công nhân bị thất nghiệp/Tổng lực lượng lao
động
đến số lượng người thất nghiệp hàng tháng, những người đến các Phòng lao
động để tìm việc làm. Phương pháp này cũng kể đến cả những người thất
nghiệp mà theo định nghĩa của ILO họ không bị thất nghiệp
Đỗ Văn Dương CĐTCNH 01 - K3
10