LUẬN VĂN:
Phòng, chống tham nhũng trong các
cơ quan hành chính nhà nước cấp
tỉnh ở Sơn La
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất
nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, chính
trị và ngoại giao,… được nhân dân tin tưởng, hưởng ứng. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang
phải đối mặt với những nguy cơ và thách thức, một trong những nguy cơ cản trở công cuộc
đổi mới đất nước chính là tệ tham nhũng. Tham nhũng cùng với lãng phí đã gây thiệt hại
lớn về tài sản của Nhà nước, làm băng hoại đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên;
xâm hại trực tiếp công lý và công bằng xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, là nguy
cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta.
Nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và những hậu quả nguy hại của tham nhũng.
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh nhằm ngăn ngừa, phát
hiện và xử lý các hành vi tham nhũng và đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên nạn
tham nhũng vẫn diễn ra hết sức phổ biến, ngày càng tinh vi, xảo quyệt ở nhiều cấp, nhiều
ngành. Thậm chí, tham nhũng đã ăn sâu vào tư duy và tác phong làm việc hàng ngày của
một số cán bộ, công chức, làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, gây bất bình
trong nhân dân. Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
nêu rõ: Điều làm cho nhân dân còn nhiều bất bình, lo lắng, bức xúc nhất hiện nay là tình
trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng, chính trị và phẩm chất đạo
đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn nghiêm trọng; kỷ cương phép
nước trong nhiều việc, nhiều lúc chưa nghiêm… Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức đầy
đủ tính chất, mức độ, những tác hại và biến quyết tâm chính trị thành những biện pháp cụ
thể để ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng.
Trong các cơ sở đào tạo cũng đã có một số luận văn nghiên cứu về tham nhũng,
lãng phí như luận văn: "Một số giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng
cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ĐakLak", của Phạm Xuân
Lĩnh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006; luận văn: "Giải pháp phòng, chống
thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Thanh
Hóa", của Lê Văn Tuấn, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2008...
Riêng đề tài phòng, chống tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước cấp
tỉnh tại Sơn La chưa được nghiên cứu một cách bài bản và hệ thống.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
hiện tượng tham nhũng trong xã hội hiện nay. Đánh giá thực trạng phòng, chống tham
nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại Sơn La từ đó đề xuất các giải pháp
thiết thực, hiệu quả, khả thi nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng
nói chung và trong cơ quan hành chính nhà nước tại Sơn La nói riêng.
Với mục đích trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu cách nhìn nhận của thế giới, quan điểm của Đảng ta về vấn đề tham
nhũng hiện nay. Quan niệm của C. Mác, V.I. Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tham ô lãng
phí, nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh chống tham nhũng ở một số nước, đặc biệt là bài
học kinh nghiệm của Singapo.
- Tập trung làm rõ những đặc điểm, tình hình, mức độ nghiêm trọng của tham
nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước hiện nay qua thực tiễn Sơn La.
- Nghiên cứu tính hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh xử lý một số vụ
tham nhũng của công chức trong những năm gần đây ở Sơn La.
- Đưa ra các giải pháp phòng ngừa đấu tranh chống tham nhũng hiện nay: trên cơ
sở định hướng chung của Nhà nước, đề tài kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả công tác phòng chống tham nhũng tại Sơn La.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Các hình thức thủ đoạn tham nhũng; Công tác phòng,
1.1. THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Quan niệm về tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước
1.1.1.1. Quan niệm về tham nhũng
Tham nhũng là hiện tượng xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người được nhiều học
giả và các tổ chức quan tâm nghiên cứu.
Những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, nguồn gốc sâu xa của tệ
tham nhũng là sự gặp nhau của hai nhân tố: quyền lực công và lòng tham của cá nhân. C.
Mác cho rằng, để tồn tại và phát triển trong xã hội còn phân chia giai cấp xuất hiện những
cơ quan quyền lực có chức năng điều hòa những lợi ích của những nhóm người khác nhau,
thậm chí đối lập nhau để hình thành một trạng thái cân bằng chung. Tuy nhiên, quyền lực
của những cơ quan đó lại chỉ có thể hiện diện và được thực thi thông qua hành động của
những con người cụ thể nắm quyền lực trong các cơ quan đó. Trong khi đó mỗi con người
đều hành động dưới sự hướng dẫn của nhu cầu cá nhân mà nhu cầu cá nhân lại luôn lớn
hơn khả năng có thể tự thỏa mãn của họ. Vì thế, một số người nắm quyền lực nảy sinh
động cơ tận dụng đến mức cao nhất quyền lực do địa vị xã hội, chức vụ nhà nước giao để
thỏa mãn một cách không chính đáng nhu cầu của họ. C. Mác nói rằng: "Lịch sử loài
người là lịch sử của những con người hành động nhằm theo đuổi những mục đích của
mình, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình". Sự lạm dụng quyền lực công cho để thỏa
mãn nhu cầu cá nhân là tham nhũng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần đề cập đến hiện tượng tham nhũng. Người
cho rằng, tham ô "là lấy của công làm của tư. Là gian lận tham lam", "tham ô là trộm
cướp". Theo Hồ Chí Minh, đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: ăn cắp của công làm
của tư; đục khoét của nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của
chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình cũng là tham ô.
Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là "ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế" [18, tr.
488].
Điểm đặc trưng của hành vi tham ô theo Hồ Chủ tịch chính là việc biến "của công"
thành "của tư". "Của công" chính là tài sản của nhân dân, do nhân dân đóng góp, phục vụ
vốn vay của các tổ chức quốc tế có lợi cho nhóm hối lộ nhà nước, biến tấu tài sản của Nhà
nước thành tài sản của công ty cổ phần, làm tiền trên cơ sở nắm được thông tin về sự kết
cấu của các tổ chức, đơn vị phạm pháp, lợi dụng việc nắm rõ thông tin về chính sách của
Nhà nước để đầu cơ trục lợi…
Theo định nghĩa của Ban Nghiên cứu thuộc Hội đồng Châu Âu thì tham nhũng
bao gồm hành vi hối lộ và bất kỳ một hành vi nào khác của những người được giao thực
hiện một trách nhiệm nào đó trong khu vực nhà nước hoặc khu vực tư nhân, nhưng đã vi
phạm trách nhiệm được giao để thu bất kỳ một thứ lợi ích bất hợp pháp nào đó cho cá nhân
hoặc cho người khác.
Trong cuốn "Poliical Corrupion: A han Book" (Oxford,1989) Giáo sư J. Nai quan
niệm rằng: Tham nhũng bao hàm trong nội dung của nó cả tệ nạn hối lộ (nấp dưới hình
thức "thù lao" để quyến rũ những người đang bị mắc nợ), tệ gia đình chủ nghĩa (sự ban ơn,
bao che trên cơ sở những quan hệ cá nhân) và sự chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản công
cộng để biến tài sản đó thành của riêng cá nhân.
Ở nước ta hiện nay thuật ngữ tham nhũng được sử dụng phổ biến trong đời sống
hàng ngày, nhưng vẫn chưa đạt tới sự thống nhất về quan niệm. Từ điển Tiếng Việt ghi
rằng, "tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của" [37]. Theo
quan niệm này tham nhũng gồm hai hành vi phối hợp với nhau: nhũng nhiễu của người có
quyền hành và thu lợi bất chính từ lạm dụng quyền hành đó.
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng, "tham nhũng là hành vi của người có chức
vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì mục đích vụ lợi" [26, Điều 1 khoản 2].
Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu vực nhà nước (các cơ
quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà
nước).
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau như vậy nhưng nhìn chung, có hai loại quan
niệm khá phổ biến về tham nhũng.
Quan niệm thứ nhất hiểu tham nhũng theo nghĩa rộng bao gồm mọi hành vi của
bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn đã lợi dụng
theo đúng quy định. Đây là loại tham nhũng trực tiếp phổ biến và ít nguy hiểm nhất trong
các cơ quan hành chính nhà nước.
- Công chức phụ trách thụ lý giải quyết thủ tục cấp các loại giấy phép (xây dựng, hoàn
công, đăng ký kinh doanh, nhất là các ngành nghề nhạy cảm, v.v...) cố ý gây khó dễ, tạo ra
các khó khăn giả tạo như bắt "khổ chủ" đi lại xác nhận và chỉnh sửa hồ sơ nhiều lần, kéo
dài thời gian trả hồ sơ với lý do không chính đáng, đưa qua nhiều bộ phận, các bộ phận xử
lý tắc trách chồng chéo kéo dài thời gian gây phiền hà cho "khổ chủ". Tất cả những hành
vi đó là nhằm buộc "khổ chủ" phải "biết điều", tức phải kèm theo một bao thư (có tiền) để
"lót tay" cán bộ công chức khi nộp hồ sơ. Khi đó hồ sơ sẽ được giải quyết nhanh chóng tùy
theo số tiền trong bao thư nhiều hay ít. Đây là loại tham nhũng điển hình và khá lộ liễu
trong các cơ quan hành chính ở Việt Nam hiện nay. Khi xếp vào loại tham nhũng trực tiếp
người ta thường gọi loại tham nhũng này là nhũng nhiễu, gây phiến hà để vòi tiền. Cách
thức thực hiện tham nhũng là tạo ra các tiền lệ, các loại lệ thỏa thuận ngầm, không công
khai về "phí dịch vụ nhanh" mà cá nhân và pháp nhân khi đến cơ quan hành chính để giao
dịch phải tự hiểu, hoặc có "chân gỗ" hướng dẫn, chỉ bảo.
- Một loại tham nhũng phổ biến nữa trong cơ quan hành chính là thông qua thỏa
thuận giữa cá nhân hoặc pháp nhân với người trung gian thường gọi là "cò hành chính". Cá
nhân, pháp nhân phải chi một số tiền tùy theo thỏa thuận với "cò" để thực hiện các giao
dịch hành chính một cách thuận lợi. Đây là loại tham nhũng trực tiếp nhưng có sự tham gia
của người trung gian. Cũng có trường hợp cán bộ công chức trực tiếp thỏa thuận ngoài giờ
làm việc để kiếm thêm thu nhập mà lẽ ra trách nhiệm này anh ta phải thực hiện trong giờ
hành chính.
- Đáng báo động trong cơ quan hành chính hiện nay và có thể đưa vào tham nhũng
trực tiếp đó là tham nhũng trong việc "mua quan, bán chức", là mối quan hệ giữa cấp trên
với cấp dưới trong công tác tổ chức cán bộ. Cán bộ lãnh đạo cấp trên sẽ thông tin lấp lửng
cho một vài cấp dưới biết, rằng hiện nay đang có nhu cầu bổ nhiệm một chức danh lãnh
đạo trong cơ quan, họ gợi ý cho một vài công chức biết và nói "tôi thấy cậu có thể đảm
đương được chức danh đó... hãy cố gắng lên nhé...". Thế là các công chức hám danh được
chúng vào Nhà nước, thậm chí có thể làm lung lay cả thể chế và chế độ chính trị. Tham
nhũng gián tiếp thường biểu hiện dưới các hình thức sau:
- "Bẻ cong pháp luật". Đây là hành vi cố tình thay đổi các quy định của pháp luật
có lợi của những kẻ tham nhũng. Ví dụ, một số công chức cấp cao có thể bằng các quy
định của pháp luật để ưu tiên phân cấp, xây dựng quy chế và quy hoạch cho một hòn đảo
hoang vu, một vùng đất khô cằn thành một quần thể du lịch, một nhà máy, hay một khu
công nghiệp sầm uất nhằm nâng giá trị đất đai lên gấp hàng trăm lần, qua đó nâng giá tài
sản của mình bằng cách tăng giá các lô đất đã mua của họ trong khu vực đó.
- Tác động đến nội dung chính sách nhà nước có lợi cho một số người nào đó. Ví
dụ, các chính khách nhận tiền của nhóm đầu cơ chính trị hoặc nhóm doanh nhân rất có
thế lực để hướng đại biểu Quốc hội thông qua các điều luật có lợi cho họ. Nói cách khác,
các chính khách này nhận tiền để lèo lái cơ quan nhà nước ban hành các chính sách phục
vụ một thiểu số những kẻ có thế lực và tiền chứ không phải phục vụ lợi ích của nhân
dân nói chung.
Việc ráo riết vận động hành lang Quốc hội là một hoạt động được coi là hợp pháp
và chính đáng ở nhiều nước. Tuy nhiên, nếu lợi dụng sự vận động đó để có được các chính
sách gây thiệt hại cho lợi ích xã hội, nhất là người được vận động lại nhận tiền, quà từ
người đi vận động thì đó là hành vi tham nhũng, hành vi xấu cần phải phòng ngừa.
Cả hai loại tham nhũng trực tiếp và gián tiếp trong cơ quan hành chính nhà nước ở
nhiều nước rất nghiêm trọng khiến công chúng phẫn nộ. Để xây dựng một nhà nước tốt,
trong sạch, chiếm được lòng tin của nhân dân, cần phải chống tham nhũng với quyết tâm
cao.
1.1.3. Nguyên nhân tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước
Dù có sự khác nhau trong cách lý giải về nguồn gốc tham nhũng, nhưng đa số các
nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng, tham nhũng là một hiện tượng có tính chất phổ biến
của mọi nhà nước, dưới mọi chế độ khác nhau, là căn bệnh bẩm sinh của quyền lực. Tham
nhũng là nơi gặp gỡ của lòng tham và quyền lực công, khi quyền lực công không được
kiểm soát chặt chẽ. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được một số nguyên nhân dẫn đến
luật, nhất là pháp luật trừng trị "quan tham" thì các nhóm lợi ích này sẽ thiết lập mạng lưới
thực hiện hành vi tham nhũng một cách hệ thống và có tổ chức nhằm lũng đoạn xã hội.
Thông qua sự dọa nạt đi đôi với hối lộ nhóm lợi ích này sẽ bao vây, phong tỏa công chức,
buộc công chức phải làm việc cho họ.
Ngoài ra, nếu kỷ luật trong cơ quan nhà nước lỏng lẻo, công chức, do không sợ bị
trừng phạt, dễ đồng lòng cùng kẻ hối lộ khiến tham nhũng nảy sinh.
* Quá trình chuyển đổi cơ chế, sự tồn tại và đan xen không rõ ràng giữa cái mới
và cái cũ cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tham nhũng
Quá trình chuyển đổi cơ chế sẽ dẫn đến sự mất dần đi của cái cũ và sự lớn dần lên
của cái mới. Tuy nhiên, khi các nhân tố mới còn yếu ớt, nhân tố cũ còn mạnh thì cuộc đấu
tranh cũ, mới sẽ rất khó khăn. Các công chức ủng hộ cái cũ sẽ nhân cơ hội mà thu hoạch
và vơ vét. Công chức ủng hộ cái mới còn chưa tạo dựng được cơ sở để nuôi quân mình nên
dễ làm cho những người ủng hộ hoang mang. Tình trạng "tranh tối tranh sáng" khiến cho
nhiều công chức tham lam, lợi dụng sự chưa rõ ràng của pháp luật để nghiêng về quyền lợi
của cá nhân, phường, hội và làm nảy sinh hành vi tham nhũng.
* Nguyên nhân xuất phát từ sức cám dỗ của các cơ hội có thể tham nhũng trong
nền kinh tế thị trường hiện đại
Trong nền kinh tế thị trường, lợi ích cá nhân được coi trọng và động lực tìm kiếm
lợi nhuận tối đa của giới kinh doanh được ủng hộ. Trong bối cảnh đó, một số nhà kinh
doanh, vì muốn được Nhà nước trao cho cơ hội tốt hơn đối thủ cạnh tranh nên tìm mọi
cách mua chuộc, hối lộ công chức.
Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước tham gia sau vào điều
tiết, quản lý nền kinh tế. Thậm chí Nhà nước còn xuất hiện với tư cách người mua lớn,
người bán lớn. Nếu có được mối quan hệ thân thiện với các cơ quan nhà nước, các doanh
nghiệp sẽ có được lợi thế trong vận động chính sách cũng như trong chiếm lĩnh thị trường
nhà nước. Đây là cơ hội để công chức có thể sử dụng quyền lực ban hành chính sách hay
quyết định mua bán có lợi hay không có lợi cho một nhóm lợi ích nào đó. Để đảm bảo
chính sách của Nhà nước luôn có lợi cho mình, doanh nghiệp dùng tiền vận động hành
chức
Về mặt lý thuyết quản lý, để tạo môi trường giảm cơ hội tham nhũng và gây sức ép
buộc công chức phải tự kiểm soát mình nhằm chống lại sự cám dỗ của tiền bạc, phải thiết lập
và vận hành hiệu quả hệ thống kiểm tra, giám sát công chức. Trong thực tế, kiểm tra, giám sát
công chức là việc làm phức tạp, nhiều cơ quan nhà nước có xu hướng buông lỏng. Khi không
bị giám sát, kiểm tra, nhắc nhở và xử phạt, công chức dễ sa ngã, dễ bị mua chuộc để đi vào
con đường tham nhũng. Hơn nữa, khi đã trót tham nhũng một lần, công chức có thể bị áp lực của
người đi hối lộ mà ngày càng dấn sâu thêm vào con đường tham nhũng.
Ở các nước mà hệ thống chính trị chậm được đổi mới, hoạt động kiểm tra, giám
sát của bộ máy nhà nước kém hiệu quả thì công chức khó bị kỷ luật, khó bị bãi miễn nên
dễ dàng đi vào tham nhũng hơn. Một quốc gia quản lý tốt phải có bộ máy kiểm tra nhà
nước tốt. Khi đó mọi lỗi lầm của công chức đều bị trừng phạt nên công chức sẽ tự kiềm
chế hơn trước các cơ hội tham nhũng.
* Nguyên nhân từ sự thiếu rèn luyện và trau dồi đạo đức của công chức
Phẩm chất đạo đức của công chức là biển chỉ đường giúp cho công chức không
đi chệch vào con đường tham nhũng. Tuy nhiên, nếu môi trường công tác trong cơ quan
nhà nước và môi trường đạo đức xã hội chung không coi trọng việc tuân thủ các nguyên
tắc đạo đức công chức thì người công chức sẽ sao nhãng việc rèn luyện và trau dồi đạo
đức làm xuất hiện các công chức thoái hóa. Đối với những công chức thoái hóa, tiêu
chuẩn đạo đức bị đảo ngược, họ coi quyền lực của Nhà nước là quyền lực của riêng họ,
coi mình đứng trên người khác, tự cho phép hành động theo suy nghĩ và nhu cầu của họ.
Hành vi của những người này gây nên tình trạng tham nhũng cố ý, rất nguy hiểm cho
Nhà nước và xã hội. Đồng thời với việc xuất hiện công chức cố ý tham nhũng, cũng xuất
hiện những kẻ a dua, vụ lợi ủng hộ, che giấucho công chức tham nhũng để cùng nhau
chia lợi. Đây là nguyên nhân không phổ biến, nhưng thường là nguyên nhân chính của
các vụ tham nhũng nghiêm trọng.
* Nguyên nhân từ công tác quản lý công chức
Công chức là một nghề đặc biệt, ở đó người công chức không hành động nhân
Trong các xã hội thiếu dân chủ, công chức không phải thực thi trách nhiệm công
khai, minh bạch và giải trình trước công dân sẽ có môi trường an toàn khi tham nhũng vì
hành vi tham nhũng của họ khó được phát hiện. Việc kiểm soát và minh bạch hóa thu nhập
và tài sản của công chức nếu thiếu cơ chế thực hiện hiệu quả thì không hỗ trợ đủ mức cho
việc xử phạt công chức tham nhũng do đó không đủ mạnh để ngăn chặn tệ tham nhũng trong
công chức.
Ngoài ra, tình trạng yếu kém của các cơ quan ngôn luận, điều tra, xử án, thái độ
thờ ơ của dân chúng cũng là những chất xúc tác làm cho tệ tham nhũng khó bị loại trừ.
* Nguyên nhân từ quyết tâm chính trị của cá nhân và cơ quan chống tham nhũng
Tham nhũng là căn bệnh của chính nhà nước và công chức. Khi trị bệnh, có thể
dẫn tới suy giảm uy tín nhà nước cũng như ảnh hưởng tới đời sống của công chức. Do đó
nhiều cơ quan nhà nước và công chức ngại đấu tranh chống tham nhũng. Vì thế, nếu cơ
quan chống tham nhũng không đủ quyền lực, quyết tâm chính trị của cơ quan chống tham
nhũng không đủ mức thì tệ tham nhũng không được chữa trị kịp thời, ngược lại càng có cơ
hội tác oai, tác quái hơn.
1.2. PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC
1.2.1. Tác hại của tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước
Tham nhũng là căn bệnh nguy hiểm tiềm ẩn ngay trong cơ thể của Nhà nước, nếu
không được chữa trị kịp thời thì có thể gây rất nhiều tác hại mà một số tác hại chính là:
* Tham nhũng làm sai lệch hoạt động của cơ quan nhà nước dẫn đến nhiều hệ lụy
không tốt
- Tham nhũng có thể làm cho công chức không thực hiện đúng nhiệm vụ do nhà
nước giao. Ví dụ, để làm lợi cho ai đó, công chức có thể vạch chính sách, kế hoạch, quy
hoạch không hiệu quả dẫn đến lợi ích chung của xã hội bị suy giảm. Hoặc tham nhũng làm
cho cán bộ thuế đối xử không công bằng đối với người nộp thuế, vừa làm mất uy tín của
Nhà nước, vừa làm thất thu ngân sách nhà nước…
- Tham nhũng dẫn tới hậu quả nghiêm trọng như nghiệm thu cầu, đường không
đó miễn là thay đổi cung cách hành động của nhà nước hiện tại.
* Tham nhũng làm tha hóa đội ngũ công chức
Về bản chất, công chức là những người đại diện cho dân chúng hoặc được dân
chúng thuê để làm các công việc có lợi cho xã hội. Nhưng khi tham nhũng công chức đã
không thực hiện đúng chức năng của mình, đã ăn cắp thời gian và quyền lực được ủy
quyền để làm lợi cho cá nhân hoặc bè nhóm. Do bản chất xấu của tham nhũng nên nó phải
bị loại trừ. Hay nói cách khác, tham nhũng là hành vi trái đạo đức của công chức.
Hơn nữa, nếu công chức tham nhũng không bị trừng phạt về mặt đạo đức và về mặt
luật pháp, vô hình chung mọi người đều coi hành vi tham nhũng đó là "bình thường". Khi đã
coi là bình thường thì nhiều công chức khác sẽ cho phép mình thực hiện. Tình trạng tham
nhũng phổ biến, vì thế, báo động tình trạng xuống cấp đạo đức nghiêm trọng của công
chức và cơ quan nhà nước.
* Tham nhũng làm giảm sức cạnh tranh của môi trường kinh doanh quốc gia
Công chức tham nhũng sẽ khiến các nhà đầu tư phải chi phí nhiều hơn mức cần
thiết cho hoạt động quản lý nhà nước. Điều này làm giảm khả năng thu hút đầu tư của môi
trường kinh doanh quốc gia. Hơn nữa, tình trạng tham nhũng phổ biến tiềm ẩn nguy cơ rủi
ro lớn cho nhà kinh doanh. Thứ nhất là rủi ro do sự thay đổi tỳ tiện của công chức tham
nhũng; thứ hai là rủi ro do thành quả của việc chống tham nhũng; thứ ba là rủi ro do đối
thủ cạnh tranh hối lộ nhiều hơn…
Nhìn chung, tham nhũng là yếu tố ảnh hưởng xấu đến hành vi kinh doanh lành
mạnh. Vì thế tình trạng tham nhũng cao là lý do đầy sức thuyết phục làm cho môi trượng
cạnh tranh quốc gia bị giảm cấp.
* Tham nhũng làm giảm uy tín và vị thế quốc gia trên trường quốc tế
Quan hệ quốc tế đa phương và song phương chỉ có hiệu quả nếu dựa trên tín
nhiệm và mức độ nghiêm túc khi thực hiện cam kết. Một quốc gia có nhiều cơ quan nhà
nước tham nhũng là mối e ngại cho quốc gia và tổ chức quốc tế muốn thiết lập quan hệ.
Hơn nữa, để quan hệ với các quốc gia có độ tham nhũng cao, các nước, các tổ chức quốc tế
thường tốn kém chi phí hơn cho việc thiết lập và thực thi các cam kết, đồng thời khó dự
công chức cũng là công dân nên có thể có sự nhầm lẫn đối tượng phục vụ hoặc làm sai
trách nhiệm được giao phó. Do quyền và trách nhiệm của công chức có thể thay đổi theo
hoàn cảnh lịch sử nên quy định công chức được làm gì, được sai khiến ai là công việc càng
phức tạp hơn. Hơn nữa, sự giao phó quyền cho công chức là do cộng đồng dân cư tự
nguyện dưới hình thức một quyết nghị chung. Để công chức không lạm dụng quyền lực,
việc giao phó, ủy quyền đó phải thể chế thành luật càng cụ thể càng tốt. Khi đã có luật,
phạm vi sử dụng quyền của công chức là làm theo luật chứ không phải làm theo những gì
công chức muốn. Nếu không luật hóa phạm vi sử dụng quyền lực của công chức thì không
có cơ sở để xem xét công chức đó làm đúng hay sai.
Luật hóa phạm vi sử dụng quyền lực của công chức cũng là đưa ra một giới hạn phạm
vi mà công chức không thể vượt qua. Khi đó, hành vi của công chức là hành vi của luật pháp
đã có hiệu lực, nhân danh luật pháp chứ không phải nhân danh công chức. Bất cứ hành vi
nào của công chức không nhân danh luật pháp vì mục tiêu luật pháp đã chế định thì không
được coi là đúng.
* Nguyên tắc giám sát của người giao quyền hoặc ủy quyền
Mặc dù quyền lực công đã được giới hạn và giao phó cho từng cá nhân công chức
và cơ quan nhà nước, nhưng trong quá trình sử dụng vẫn có thể xuất hiện sự sai lạc nếu
công chức không chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Sự kiểm tra của người giao quyền
hoặc ủy quyền là cần thiết để một mặt tạo môi trường định hướng công chức, mặt khác tạo
áp lực và răn đe các công chức nào có ý định sử dụng quyền lực công không đúng mục
đích.
Hơn nữa, kiểm tra, giám sát còn để phát hiện kịp thời sai lệch nhằm điều chỉnh kịp
thời, ngăn ngừa công chức phạm sai lầm nghiêm trọng hoặc dấn quá sâu vào con đường
tham nhũng mà không bị phát hiện.
* Nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước
Sự công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước khiến công chức khó che
giấuđược hành vi không đúng của mình do đó giảm động cơ tham nhũng. Công khai, minh
bạch còn cung cấp cơ chế tự giám sát công chức của người dân và của đồng nghiệp nên
Về mặt lý thuyết có thể phòng, chống tham nhũng bằng cách khắc phục các
nguyên nhân dẫn đến tham nhũng. Song, nguyên nhân cuối cùng, hay nguồn gốc của
tham nhũng là sự kết hợp khăng khít giữa lạm dụng quyền lực công và lòng tham mang
tính bản năng của con người. Do đó không thể khắc phục triệt để tham nhũng, chỉ có thể
hạn chế tham nhũng đến mức có thể bằng cách ngăn ngừa và giảm thiểu cơ hội tham
nhũng của công chức. Có nhiều biện pháp thuộc diện như vậy, ở đây chỉ nêu một số biện
pháp cơ bản.
* Quy định quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng của từng công chức và thường xuyên
kiểm tra, giám sát hoạt động của công chức
Để công chức tốt có cơ sở thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của mình và
để công chức xấu không có cơ hội chối tội, trong các cơ quan nhà nước cần tiến hành phân
tích công việc, chuẩn hóa các chức danh và thực hiện tuyển chọn, bố trí, đào tạo cán bộ
theo đúng các chức danh đó. Trong khung cảnh ai cũng có công việc rõ ràng, công việc
vừa đủ với năng lực và không có sự chồng chéo lẫn nhau, bản thân công chức buộc phải
làm đúng chức trách của mình, khó che giấusai lầm của mình cũng như không có thể đổ
trách nhiệm cho người khác.
Sau khi đã phân tích công việc và bố trí công chức một cách khoa học, cơ quan
nhà nước còn phải xây dựng các quy chế phối hợp để công việc thông suốt, hạn chế các
khâu ách tắc đáng tiếc. Khi toàn bộ công việc được thiết kế và thực hiện trôi chảy, hiệu
quả, bất cứ một sự chen ngang hoặc thay đổi quy trình có tính chất vụ lợi nào cũng sẽ bị
phát hiện và bị lên án bởi chính các công chức tốt và bởi công dân.
* Công khai các quy định pháp lý và quy trình thủ tục hành chính của cơ quan nhà
nước với người có liên quan
Công khai các quy định và thủ tục hành chính đến tận người dân khi họ có công
việc tiếp xúc với cơ quan hành chính nhà nước, nhằm cung cấp thông tin cho người dân để
họ tự quyết định cách ứng xử hợp lý cũng như để đa số người dân không có khả năng hối
lộ và tham gia kiểm soát công chức.
Nên đưa các quy định và thủ tục công khai ở những điểm tiếp xúc của công dân