PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Sau khi thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW ngày 24/5/1996 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng khóa VII về phát triển kinh tế hợp tác trong các ngành, các lĩnh vực kinh
tế; Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX lần thứ 5 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập
thể, các HTX nông nghiệp ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã có sự chuyển
Ế
biến quan trọng cả về nhận thức và chất lượng hoạt động, đáp ứng một phần nhu
U
cầu của những người lao động, hộ xã viên. Các HTX hoạt động theo mô hình HTX
́H
kiểu mới đã thay đổi cung cách quản lý, điều hành, tổ chức hoạt động. Nhờ đó, số
TÊ
HTX hoạt động khá ngày càng tăng, một số HTX thật sự năng động, nhạy bén trong
cơ chế thị trường, xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh hợp lý, từng bước
H
hoạt động có hiệu quả.
IN
phải cấp bách đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX
nông nghiệp, nhất là trên địa bàn huyện.
1
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài "Nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Bình
Sơn, tỉnh Quảng Ngãi" để nghiên cứu, làm luận văn thạc sĩ của mình, với mong
muốn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong nông thôn huyện Bình Sơn hiện nay.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích chung
Từ cơ sở lý luận, thực tiễn và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh dịch
Ế
vụ của HTXNN, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
U
kinh doanh dịch vụ của HTX nông nghiệp ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
́H
2.2. Mục đích cụ thể
doanh dịch vụ của HTX nông nghiệp.
TÊ
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về hiệu quả hoạt động kinh
A
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các HTX nông nghiệp trên địa
bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Thời gian nghiên cứu:
+ Các thông tin, số liệu thứ cấp về HTX được thu thập từ năm 2006 đến 2008;
+ Thông tin điều tra hộ được tiến hành trong năm 2009.
+ Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về hiệu quả hoạt động
kinh doanh dịch vụ của 25 HTX nông nghiệp đã thực hiện chuyển đổi, đăng ký lại
theo Luật HTX.
2
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp chung
Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, trên cơ sở xem xét sự vận
động, phát triển của các HTXNN trong bối cảnh lịch sử cụ thể, làm căn cứ để xác
định các giải pháp khả thi.
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
4.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Ế
4.2.1.1 Chọn mẫu điều tra
́H
O
cũng sử dụng, tham khảo một số bài viết, báo cáo khoa học và kết quả nghiên cứu
̣I H
của nhiều tác giả được công bố trên các sách báo, tạp chí, website có liên quan.
+ Thu thập dữ liệu trực tiếp: Đề tài xây dựng các mẫu phiếu điều tra HTX và
Đ
A
hộ xã viên; Chúng tôi tiến hành điều tra các HTX, phỏng vấn ngẫu nhiên một số hộ
nông dân, xã viên.
4.2.2 Phương pháp thống kê - so sánh
Kết quả và hiệu quả hoạt động dịch vụ của HTXNN được lượng hóa, phân
tích và so sánh thông qua các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí, lợi nhuận nhằm đưa ra
kết luận khách quan, khoa học.
4.2.3 Phương pháp chuyên gia
Thực hiện trao đổi, lấy ý kiến của các chuyên gia nhằm tìm kiếm sự thống
nhất trong cách phân tích, đánh giá cũng như đề xuất các giải pháp, xu hướng và
3
kiến nghị. Chuyên gia là các cán bộ chỉ đạo thực tiễn công tác tại Liên minh HTX
tỉnh, Chi cục HTX và PTNT, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài chính - Kế
hoạch huyện và các Chủ nhiệm HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện.
Ngoài ra, chúng tôi sử dụng công cụ phần mềm Excell, SPSS để xử lý và
phân tích số liệu.
6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Ngoài mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
̣C
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch
O
vụ của HTX nông nghiệp.
̣I H
Chương 2. Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX nông nghiệp
Đ
A
ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3. Những giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh dịch vụ của HTX nông nghiệp ở huyện Bình Sơn.
4
PHẦN II. NỘI DUNG CHÍNH
K
Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối
̣C
hợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng
O
thành viên với ưu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề
̣I H
của sản xuất - kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và
lợi ích của mỗi thành viên. Kinh tế hợp tác có hai hình thức, đó là tổ hợp tác (hợp
Đ
A
tác giản đơn) và HTX.
HTX hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Năm 1942, Ivan
Emelianoff, một nhà nghiên cứu về HTX nhận xét rằng sự đa dạng của HTX là muôn
màu muôn vẻ và sự biến đổi của HTX thật sự là không thể đếm xuể. Ngày nay, HTX
có mặt ở hầu hết các quốc gia và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về HTX.
Liên minh HTX quốc tế (International cooperrative alliance - ICA) được
thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh, đã định nghĩa HTX
như sau: HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về HTX, cũng như sự khác nhau về
H
đặc điểm, cơ chế tổ chức, phương thức hoạt động của các mô hình HTX ở các nước
IN
trên thế giới, song các loại hình HTX đều có một số đặc điểm chung, đó là: HTX là
K
một tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự nguyện góp vốn, góp sức hình thành.
Hoạt động của HTX chủ yếu nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh tế của các
̣C
thành viên tham gia với phương châm giúp đỡ lẫn nhau (cũng là giúp đỡ chính
O
mình). Ngoài ra, hoạt động của HTX còn mang tính cộng đồng xã hội - tương trợ,
̣I H
giúp đỡ cộng đồng. Bởi vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của HTX.
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, để tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và
Đ
A
thủ tiêu tính tự chủ sản xuất kinh doanh của các thành viên, chỉ làm những gì mà
mỗi thành viên riêng lẻ không làm được, hoặc làm không có hiệu quả để hỗ trợ cho
TÊ
các thành viên phát triển.
- Sở hữu của HTX là sở hữu đan xen, dựa trên sở hữu của các thành viên và
H
sở hữu tập thể, HTX không tập thể hóa mọi tư liệu sản xuất của các thành viên, mà
IN
tôn trọng sở hữu của các thành viên; Sở hữu tập thể bao gồm các loại quỹ không
K
chia, các tài sản hình thành do quá trình tích luỹ của HTX tạo nên và tài sản trước
đây được giao lại cho tập thể sử dụng làm tài sản không chia.
̣C
- Tổ chức và hoạt động của HTX không bị giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa
O
bàn, trừ một số lĩnh vực có quy định riêng. HTX hoàn toàn tự chủ trong hoạt động
Ế
thành được các doanh nghiệp của HTX; từ HTX phát triển thành các liên hiệp HTX.
U
Với những đặc điểm trên, HTX kiểu mới hoàn toàn khác HTX kiểu cũ được
́H
xây dựng trong thời kỳ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp trước đây (có các đặc
trưng là tập thể hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, không thừa nhận vai trò của kinh tế hộ,
TÊ
phủ nhận vai trò kinh tế hàng hóa, tổ chức theo địa giới hành chính, sản xuất mang
tính chất tập thể hóa, tập trung, phân phối theo ngày công lao động, thực hiện quá
H
nhiều nghĩa vụ xã hội và mô hình được thực hiện đồng loạt trong cả nước, ít chú ý
IN
đến đặc điểm riêng của từng vùng, từng ngành).
K
HTX kiểu mới cũng khác với công ty cổ phần. HTX được thành lập do các
thành viên tự nguyện tập hợp, liên kết nhau lại để cùng kinh doanh hoặc hỗ trợ nhau
mô hình HTX phù hợp. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, để phân loại HTX,
thường căn cứ vào chức năng hoạt động, tính chất trình độ xã hội hóa, quy mô và
đặc điểm hình thành HTX. Với cách phân loại này, có các loại hình HTX sau:
* HTX dịch vụ: bao gồm ba loại: HTX dịch vụ từng khâu; HTX dịch vụ tổng
hợp đa chức năng và HTX dịch vụ đơn mục đích hay HTX chuyên ngành.
- HTX dịch vụ từng khâu còn gọi là HTX dịch vụ chuyên khâu có nội dung
hoạt động tập trung ở từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công
Ế
việc trong quá trình sản xuất và phục vụ cho sản xuất, như HTX tín dụng, HTX mua
U
bán, HTX dịch vụ đầu vào, HTX dịch vụ đầu ra, HTX chuyên dịch vụ về tưới tiêu,
́H
HTX chuyên phòng trừ sâu bệnh.
- HTX dịch vụ tổng hợp - đa chức năng có nội dung hoạt động đa dạng, gồm
TÊ
nhiều khâu dịch vụ cho sản xuất, cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm (đầu ra),
dịch vụ giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu. Tuỳ thuộc đặc điểm, điều kiện, trình độ
H
phát triển sản xuất và tập quán ở từng vùng mà nhu cầu của nông hộ đối với từng loại
xuất là chủ yếu, dịch vụ là kết hợp, phù hợp trong các ngành tiểu thủ công nghiệp,
xây dựng, nghề đánh cá, nghề làm muối (trừ ngành trồng trọt và chăn nuôi).
* HTX sản xuất - kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện:
HTX loại này có cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máy quản lý và chế
độ hạch toán, kiểm kê, kiểm soát, phân phối theo nguyên tắc của HTX kiểu mới và
9
tương tự một doanh nghiệp tập thể; Sở hữu tài sản trong HTX gồm hai phần: sở hữu
tập thể và sở hữu cổ phần. Xã viên HTX tham gia lao động trong HTX được hưởng
lương theo nguyên tắc phân phối lao động và hưởng lãi cổ phần (ngoài phúc lợi tập
thể) của HTX; HTX hoạt động sản xuất - kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm
phát triển kinh tế HTX và đem lại lợi ích cho xã viên [5].
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX
1.1.2.1 Tự nguyện
Ế
Mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định của Luật
U
HTX, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX; không ai, không tổ chức
́H
nào có thể bắt buộc người dân tham gia HTX; xã viên có quyền ra HTX theo qui
định của Điều lệ HTX.
A
Ở HTX, trước khi thành lập, tất cả xã viên đều hiểu biết rõ ràng nhu cầu
chung của mình về kinh tế, văn hóa, xã hội; HTX đáp ứng nhu cầu chung đó (thông
qua cung cấp sản phẩm hay dịch vụ chung) có hiệu quả hơn so với từng xã viên tự
mình đáp ứng. Phương án hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX chính là phương
án tổ chức hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ chung cho mọi xã viên. Mọi xã
viên đều có quyền như nhau bàn bạc về việc thực hiện phương án sao cho có hiệu
quả nhất. Đến khi thành lập HTX, mọi xã viên phải góp vốn dù ít hay nhiều. Khi sử
dụng dịch vụ của HTX, xã viên có thể tiêu dùng nhiều ít khác nhau, nhưng xã viên
nào cũng được lợi. Phần thu nhập còn lại được đưa vào quỹ phúc lợi và quỹ phát
10
triển của HTX mang lại lợi ích chung cho cộng đồng xã viên và mỗi xã viên đều
được hưởng một cách bình đẳng. Với cách thức như vậy, rõ ràng HTX được quản lý
một cách dân chủ bởi tất cả xã viên; mỗi xã viên có một phiếu biểu quyết như nhau;
mọi vấn đề của HTX đều được công khai, minh bạch trước xã viên.
1.1.2.3 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi
HTX tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh; tự quyết định về phân phối thu nhập; lập và mức trích lập các quỹ; mức tiền
Ế
công, tiền lương đối với những người làm việc cho HTX; Sau khi thực hiện xong
U
nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào
O
1.1.2.4 Hợp tác và phát triển cộng đồng
HTX phục vụ các thành viên của mình một cách có hiệu quả và tăng cường
Đ
A
hợp tác với nhau trên bình diện địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế, theo chuyên
ngành hoặc dưới hình thức hiệp hội.
Xã viên nếu đơn lẻ thì yếu kém, thiếu sức cạnh tranh, hợp tác với nhau thông
qua HTX là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu các HTX rời rạc, thiếu sự hợp tác liên kết
thì cũng giống như xã viên đơn lẻ. Vì vậy, HTX chỉ thực sự mạnh và mạnh hơn nữa
nếu chúng được liên kết với nhau trên cơ sở đáp ứng hiệu quả cao hơn nhu cầu
chung của các HTX thành viên.
HTX phải bảo đảm sự phát triển của cộng đồng các thành viên của mình
thông qua các chính sách do HTX quyết định, bao gồm các hoạt động phúc lợi,
11
hoạt động văn hóa - xã hội nhằm cải thiện đời sống mọi mặt của cộng đồng xã
viên HTX.
Xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần xây dựng tập thể và hợp tác với
nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội; Xã viên HTX không chỉ hợp tác thụ
hưởng lợi ích kinh tế mà còn phát triển sinh hoạt văn hóa xã hội cộng đồng của
mình; đồng thời góp phần phát triển đời sống cộng đồng dân cư tại địa bàn, rút ngắn
cách biệt mức sống giữa nông thôn - thành thị và với cộng đồng xã hội khác, giải
khăn, trở ngại do tác động của thời tiết, khí hậu và các yếu tố sâu bệnh phá hoại.
Khi nền sản xuất còn mang nặng tính tự cung tự cấp thì quá trình hợp tác mang tính
O
̣C
chất hợp tác lao động theo mùa vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau nhằm đáp ứng
̣I H
yêu cầu thời vụ, hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết những công việc mà từng
hộ gia đình không có khả năng thực hiện, hoặc làm riêng lẻ không có hiệu quả.
Đ
A
Khi nền nông nghiệp hàng hóa phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá trình tái
sản xuất ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng dịch vụ, như dịch vụ về giống,
phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản, thủy lợi. Trong điều kiện này,
từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ gặp khó
khăn, hoặc không đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp hơn so với hợp
tác. Từ đó nảy sinh nhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, dẫn đến hình thành HTX.
Ở nước ta, sau khi hộ nông dân được xác định là hộ kinh tế tự chủ, giờ đây,
họ đang đứng trước nhu cầu phải tổ chức lại để tạo nên sức mạnh mới trong điều
kiện mới là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, họ
12
IN
Như vậy, trong lĩnh vực nông nghiệp, xuất phát từ mục tiêu kinh tế, nông dân
K
đều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa
ngành. Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan
O
̣C
hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các
hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn.
̣I H
1.1.3.2 Vai trò của HTX trong nông nghiệp
Đ
A
Bên cạnh khu vực kinh tế nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, một lực lượng
lớn cư dân và người lao động nhỏ lẻ vì nhiều lý do họ không thể tham gia, không
thể cạnh tranh với hai khu vực nêu trên. Do đó, họ tự tổ chức sản xuất kinh doanh
theo mô hình hộ cá thể. Dưới tác động của quy luật cạnh tranh và tiến bộ khoa học
kỹ thuật, họ phải liên kết lại với nhau, một mặt nhằm tăng năng lực cạnh tranh, mặt
khác giảm chi phí nhờ hiệu ứng quy mô.
HTX nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với sản xuất nói chung
nghiệp để giúp đỡ các hộ nông dân sản xuất kinh doanh nông sản hàng hoá, đáp ứng
H
nhu cầu thị trường.
IN
Hai là, góp phần mở rộng thị trường nông sản. Cùng với quá trình phát triển
K
sản xuất hàng hoá của các ngành trong nền kinh tế quốc dân, nông sản hàng hoá ở
nông thôn, nhất là các vùng chuyên canh và các hộ trang trại ngày càng tăng lên đòi
O
̣C
hỏi tăng cường khâu tổ chức sản xuất, chế biến nông lâm sản để tăng thêm giá trị
̣I H
kinh tế, nâng cao chất lượng, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, giảm thiểu rủi ro và sự
chèn ép của tư thương, không những chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn
Đ
A
hướng ra xuất khẩu.
́H
nghèo cho người dân nông thôn. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách
nhằm giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người dân nông thôn nói
TÊ
riêng, nhưng tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn chiếm tỷ lệ khá cao. Vì vậy, phát triển
HTX nông nghiệp phù hợp với những đặc điểm cụ thể của từng nơi sẽ có vai trò
H
từng bước giải quyết mâu thuẫn giữa lao động và việc làm ở nông thôn.
IN
Mô hình HTX ở Việt Nam đã trải qua hơn 54 năm hình thành và phát triển
K
với nhiều lần tìm tòi, thử nghiệm, sửa đổi nhằm phù hợp với từng giai đoạn phát
triển khác nhau cũng như tìm kiếm mô hình phù hợp, hiệu quả. Không thể phủ nhận
̣C
những đóng góp của các HTX trong mỗi giai đoạn nhất định nhưng cũng cần thẳng
O
thắn nhìn nhận, vai trò của các HTX hiện nay còn mờ nhạt trong xu thế phát triển
vỡ kinh tế của các hộ thành viên. HTX lấy kinh tế của các hộ thành viên làm cơ sở
Ế
hình thành và mục tiêu phục vụ nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế tự chủ
U
ngày càng phát triển.
́H
Kinh tế hộ và kinh tế HTX có mối quan hệ biện chứng với nhau, là điều kiện
hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển, trong đó kinh tế hộ tự chủ là cái có trước, là hạt
TÊ
nhân, là tế bào, là cái thứ nhất, cái quyết định cho sự ra đời và phát triển kinh tế
HTX. HTX nông nghiệp là sự bổ sung cho kinh tế hộ nông dân, phục vụ nó và vì
H
thế thiếu kinh tế hộ nông dân, HTX sẽ không có ý nghĩa.
IN
HTX trong nông nghiệp đã ra đời, tồn tại, phát triển và ngày càng hoàn thiện,
K
16
phân chia lợi ích. Nó không những không động chạm đến quyền sở hữu của từng hộ
gia đình mà còn tạo điều kiện tăng thêm năng lực sản xuất và lợi ích của từng hộ.
Chính điều này làm cho người nông dân dễ dàng tham gia và chấp nhận một cách tự
nguyện. Kinh tế hợp tác và kinh tế HTX do vậy, là sự cộng sinh tất yếu làm động
lực thúc đẩy kinh tế hộ phát triển [7].
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu hướng đô thị hóa đang diễn ra
ngày càng nhanh ở nước ta đặt ra nhiều vấn đề cho khu vực nông nghiệp, nông
Ế
thôn, nông dân, đặc biệt là vấn đề tụt hậu về khoảng cách phát triển. Thêm vào đó,
U
trong điều kiện Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, trở
́H
thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế (WTO), khu vực nông
nghiệp, nông thôn và người nông dân được coi là đối tượng chịu nhiều áp lực cạnh
TÊ
tranh nhất không chỉ trên thị trường thế giới mà ngay tại thị trường trong nước.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và ưu tiên
H
26/11/1994 về qui chế khoán vốn cho Chủ nhiệm HTXNN, nhằm tạo điều kiện nâng
cao tính chủ động trong quản lý sản xuất kinh doanh của Ban quản lý, thực hiện
mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của tập thể trong HTXNN. Qui chế khoán
vốn được thực hiện theo nguyên tắc bảo tồn vốn với mức sinh lời tối thiểu bằng lãi
suất tiền gửi ngân hàng ngắn hạn cho số vốn được giao khoán đồng thời thực hiện
cơ chế thưởng phạt 100% đối với phần vượt và hụt khoán.
17
Khi thực hiện Quyết định 589/QĐ-UB ngày 24/5/1991, toàn tỉnh có 209
HTXNN, trong đó có 45 HTX loại khá chiếm tỷ lệ 21%, 104 HTX xếp loại trung
bình chiếm tỷ lệ 50% và 62 HTX yếu kém chiếm tỷ lệ 29%. Trong quá trình tổ chức
thực hiện chuyển hướng hoạt động, đổi mới phương thức quản lý điều hành, một số
HTX yếu kém không đủ điều kiện đã tự giải thể 18 HTX. Tính đến cuối năm 1995
còn lại tổng số 191 HTXNN hoạt động.
Thực hiện chuyển đổi theo Luật HTX, tính đến tháng 12/2008 toàn tỉnh còn
Ế
189 HTXNN, trong đó: Có 175 HTXNN (170 HTX đang hoạt động và 05 HTX
U
ngừng hoạt động nhiều năm chờ giải thể); 02 HTX diêm nghiệp; 03 HTX chuyên
́H
canh mía kết hợp chăn nuôi; 01 HTX sản xuất rau an toàn và 08 HTX trong lĩnh vực
thống nhất được kế hoạch sản xuất với xã viên, chỉ đạo hướng dẫn gieo trồng đúng
Đ
A
thời vụ, đáp ứng phần lớn nhu cầu sản xuất cho hộ xã viên; chất lượng dịch vụ được
nâng lên; ngoài các hoạt động dịch vụ mang tính chất phục vụ hộ xã viên, nhiều
HTX dùng vốn nhàn rỗi mở thêm dịch vụ tín dụng nội bộ trong HTXNN mang lại
hiệu quả khá cho HTX và đã giúp xã viên thiếu vốn có vốn để phát triển sản xuất,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao thu
nhập cho xã viên. Các HTX đã rà soát lại các định mức kinh tế kỹ thuật, tổ chức lại
các đội tổ chuyên khâu, quản lý điều hành chặt chẽ hơn đã mang lại hiệu quả rõ rệt.
Chỉ tính riêng kết quả sản xuất kinh doanh năm 2008 cho thấy có trên 80% số HTX
18
kinh doanh sau khi trừ đi các khoản chi phí còn có lãi, số lượng HTX có lãi tăng; lãi
ròng bình quân ở mỗi HTX là 25-30 triệu đồng; Việc thực hiện chia lãi theo vốn
góp và mức độ sử dụng dịch vụ của xã viên đảm bảo đúng qui định của Luật HTX,
tính đến cuối năm 2008, toàn tỉnh có trên 60% số HTXNN thực hiện tốt việc chia
lãi vào cuối năm, xã viên phấn khởi, tin tưởng gắn bó với HTX; riêng các HTX
chuyên canh mía, HTX nuôi trồng thuỷ sản hoạt động kinh doanh kém hiệu quả
không có lãi.
Ế
Ngoài việc mở rộng kinh doanh dịch vụ nhiều HTX đã thể hiện rõ vai trò là
U
hiệu quả xã hội, hiệu quả trực tiếp, hiệu quả gián tiếp, hiệu quả tuyệt đối và hiệu
̣I H
1.2.2. Hiệu quả kinh tế
Từ trước đến nay các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về
Đ
A
phạm trù hiệu quả kinh tế. Tác giả Hồ Vĩnh Đào cho rằng: "Hiệu quả kinh tế còn
gọi là hiệu ích kinh tế, là do sự so sánh giữa chiếm dụng và tiêu hao trong hoạt động
kinh tế (bao gồm lao động vật hóa và lao động sống) với thành quả có ích đạt được"
[28]. Khái niệm này nhấn mạnh đến chất lượng hoạt động kinh tế được biểu hiện
trong quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
TS. Nguyễn Tiến Mạnh lại cho rằng: "Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế khách
quan phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định"
[17]. Khái niệm này thể hiện sự tập trung, sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản
19
ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá
trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu đề ra. Đánh giá vai trò, vị trí và tầm quan
trọng của hiệu quả kinh tế, GS.TS. Ngô Đình Giao cho rằng: "Hiệu quả kinh tế là
tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước" [12].
Về khái quát có thể hiểu rằng hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản
Nếu xét trên phương diện so sánh thì hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa một
̣C
bên là kết quả đạt được và một bên là chi phí bỏ ra. Kết quả đạt được có thể trên
O
phương diện kinh tế, tài chính, cũng có thể trên phương diện xã hội như giảm thất
̣I H
nghiệp, cải thiện môi trường sinh thái. Do đó hình thành nên khái niệm hiệu quả xã
hội và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Đ
A
Hiệu quả xã hội là sự tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra với kết quả mà
xã hội đạt được như tăng thêm việc làm, cải thiện điều kiện sống, cải thiện môi
trường sinh thái, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo.
Hiệu quả kinh tế - xã hội là tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả
thu được cả về mặt kinh tế và xã hội. Phát triển kinh tế và phát triển xã hội có mối
quan hệ mật thiết với nhau, mục tiêu để phát triển kinh tế là để phát triển xã hội và
ngược lại.
20
địa phương, của cơ sở. Trong từng đơn vị cơ sở khi xem xét đánh giá hiệu quả kinh
doanh phải coi trọng toàn bộ các khâu của quá trình kinh doanh.
K
- Bảo đảm tính thực tiễn của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Khi đánh
̣C
giá và xác định biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ đặc điểm,
O
điều kiện kinh tế, xã hội của ngành, của địa phương và của HTX trong từng thời kỳ.
̣I H
- Đảm bảo thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị, xã hội với nhiệm vụ kinh tế
trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trước hết ta phải nhận thấy rằng sự ổn
Đ
A
định của một quốc gia, địa phương là một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh. Trong khi đó chính sự ổn định đó lại được quyết định bởi mức
độ thoả mãn lợi ích của quốc gia. Do vậy, theo quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh phải được xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của đất nước, của địa phương.
- Đánh giá hiệu quả kinh doanh phải căn cứ vào cả mặt hiện vật lẫn giá trị
giảng viên tồn tại và hướng tới sự hoàn thiện hơn trong sự lặp lại hoạt động của
H
mình.
IN
- Tính vô hình hay phi vật chất: Các dịch vụ đều vô hình. Người ta không thể
K
nhìn thấy, thử mùi vị, nghe hay ngửi chúng trước khi tiêu dùng chúng. Người tiêu
̣C
dùng dịch vụ buộc phải tin vào người cung cấp dịch vụ - Người mua buộc phải tin
O
vào người bán.
̣I H
Để giảm bớt sự không chắc chắn khi mua dịch vụ, người mua phải tìm kiếm
các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng dịch vụ cung ứng đó như: thương hiệu, điểm bán,
Đ
A
giữ được của dịch vụ không phải là vấn đề lớn nếu nhu cầu ổn định, được biết
trước. Nhưng thực tiễn nhu cầu dịch vụ không ổn định, luôn dao động thì công ty
TÊ
dịch vụ sẽ gặp những vấn đề trở ngại về mức độ sử dụng nhân lực và cơ sở vật chất
kỹ thuật.
H
* Dịch vụ nông nghiệp là những điều kiện, những yếu tố cần thiết hoặc cần
IN
có cho một quá trình sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong nông
K
nghiệp (ví dụ cung cấp giống cây trồng, con gia súc, làm đất, tưới, tiêu nước, bảo vệ
và phòng trừ sâu bệnh...), mà người sản xuất không có sẵn, không thể làm hoặc tạo
O
̣C
ra được, hoặc nếu tự làm cũng không có hiệu quả, cho nên họ phải tiếp nhận các
̣I H
U
Trong thị trường dịch vụ nông thôn, các thành phần kinh tế khác nhau tham gia dịch
́H
vụ ngày càng đông đảo. Do đó, cạnh tranh giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị
trường ngày càng khốc liệt. HTX muốn mở rộng dịch vụ có hiệu quả, không có
TÊ
cách nào khác là phải tìm mọi cách cạnh tranh thắng lợi, phù hợp với thế mạnh của
mình như nâng cao chất lượng, hạ giá dịch vụ, cung cấp kịp thời, thuận tiện và có
H
cách tiếp thị phù hợp v.v...
IN
Trong cơ chế thị trường, người ta chia thị trường thành 2 loại: thị trường
K
người bán và thị trường người mua.
Trong điều kiện sức sản xuất nhỏ bé, sản xuất không đủ ăn, cung nhỏ hơn
̣C
gây ra những tác động đáng kể đến sức khỏe con người và của cải (ví dụ: phun
thuốc trừ sâu, bệnh; tiêm, thiến gia súc, gia cầm...) thì HTX cần phải đảm nhiệm.
- Dịch vụ nông nghiệp chỉ có hiệu quả cao khi được thực hiện đồng thời và
trên phạm vi rộng lớn. Những loại dịch vụ này đòi hỏi sự hợp tác trong cung cấp và
Ế
sử dụng dịch vụ. Vì vậy, đây là những loại dịch vụ HTX không chỉ cần ưu tiên
U
trong lựa chọn và tổ chức hoạt động, mà còn cần khuyến khích xã viên sử dụng dịch
́H
vụ của HTX để giảm thấp chi phí sản xuất của hộ gia đình.
- Nhiều loại dịch vụ nông nghiệp rất khó định lượng chính xác (cân, đong,
TÊ
đo, đếm...) như dịch vụ tưới tiêu, bảo vệ thực vật, khuyến nông... Vì vậy, sẽ rất khó
khăn cho việc xác định nhu cầu, lập kế hoạch, ký kết hợp đồng. giao khoán và đặc
H
biệt là hạch toán, thanh toán hợp đồng. Đây cũng là vấn đề khó, dễ đưa đến thiệt
IN
văn hóa, giáo dục, khám chữa bệnh. Số lao động dôi dư trong sản xuất nông nghiệp
đuợc chuyển sang làm dịch vụ sẽ tạo điều kiện tập trung ruộng đất, hình thành các
25