Đánh giá hiệu quả kinh tế các công thức luân canh cây trồng chủ yếu tại vùng đồng bằng huyện mộ đức Tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 39

PHẦN I. MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, hộ nông dân đã thực sự trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong sản
xuất nông nghiệp và đang quá độ sang nền sản xuất hàng hoá. Điều này làm cho sản
lượng hàng năm tăng lên đáng kể đời sống người nông dân được cải thiện. Tuy
nhiên, trong quá trình đưa nông nghiệp và nông thôn đi lên sản xuất hàng hoá còn

Ế

gặp nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp còn chứa đựng nhiều yếu tố thiếu bền

U

vững mà nổi cộm nhất là vấn đề lựa chọn phương thức canh tác hợp lý. Làm thế nào

́H

để sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả cao, năng suất tăng nhưng vẫn đảm bảo



được các vấn đề về môi trường và độ phì nhiêu của đất đai.

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, việc sản xuất nông nghiệp áp

H

dụng nhiều biện pháp khoa học kỹ thuật để giảm bớt công lao động và tăng năng

IN


Mộ Đức là một huyện đồng bằng ven biển thuộc tỉnh Quảng Ngãi, toàn
huyện có 11 xã đồng bằng, một thị trấn (Thị trấn Mộ Đức ) và một xã miền núi (xã

1


Đức Phú) với tổng diện tích tự nhiên là 21.226,52 ha chiếm 4,13 % tổng diện tích
toàn tỉnh. Trong đó đất canh tác 9.070,65 ha chiếm 42,73 % diện tích toàn huyện.
Không chỉ sản xuất độc canh cây lúa, huyện đã chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật
nuôi, mở rộng kinh tế trang trại sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá có giá
trị kinh tế cao.
Ngoài ra, toàn huyện đã thực hiện Nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ IX phát
triển nông nghiệp đi đôi với công nghiệp và dịch vụ. Trong những năm vừa qua sản
xuất nông nghiệp tại huyện đã đạt được nhiều kết quả đáng kể nhờ đưa các công

Ế

thức luân canh cây trồng vào sản xuất làm tăng năng suất và sản lượng. Tuy nhiên

U

theo đánh giá của các nhà chuyên môn thì năng suất và sản lượng đạt được vẫn thấp

́H

hơn so với tiềm năng.

Diện tích đất canh tác trong huyện chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng diện



Đ
A

Nghiên cứu đề tài chúng tôi nhằm:
Mục tiêu chung: Giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng các công thức luân canh
cây trồng cho nông dân vùng đồng bằng huyện Mộ Đức.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá các vấn đề lí luận, thực tiển về các công thức luân canh cây trồng.
- Tìm hiểu thực trạng, đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế do các công thức
luân canh mang lại tại huyện Mộ Đức.
- Tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả các công thức luân canh
cây trồng. Từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng công thức luân
canh cây trồng tại huyện.

2


Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng
- Hệ thống sử dụng đất canh tác.
- Hộ nông dân áp dụng các công thức luân canh cây trồng chủ yếu.

Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đi sâu nghiên cứu phạm vi của 2 xã đồng bằng Đức Hiệp
và Đức Nhuận. Trong đó xã Đức Nhuận là xã có đất đồng bằng thuần tuý, đất phù

Ế

sa bằng phẳng và là xã có đất hạng I cao nhất huyện.


O

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng các công

Đ
A

̣I H

thức luân canh cây trồng tại huyện Mộ Đức.

3


PHẦN II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU
QUẢ CÁC CÔNG THỨC LUÂN CANH CÂY TRỒNG
1.1.1.Quan điểm về hiệu quả kinh tế (HQKT)

Ế

Quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và kết quả

U

thu được, kết quả mối quan hệ này thể hiện tính hiệu quả của sản xuất. Một phương


̣I H

giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra. Hay xác định hiệu quả kinh tế bằng tỷ số
giữa kết quả tăng thêm với chi phí tăng thêm để đạt kết quả tăng thêm đó. Từ đó

Đ
A

cho thấy, hiệu quả kinh tế là mối quan hệ so sánh giữa một bên là kết quả đạt được
với một bên là chi phí bỏ ra. Kết quả đạt được là doanh thu, lợi nhuận .... còn chi
phí là nhân lực, vốn, nguồn lực khác …. HQKT là phạm trù kinh tế - xã hội phản
ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ tổ chức, hoạt
động của một doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.
Nâng cao hiệu quả kinh tế nghĩa là tăng cường độ lợi dụng các nguồn lực về
kinh tế, tự nhiên sẵn có trong hoạt động kinh tế để phục vụ cho lợi ích con người,
đó là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Mục đích của sản xuất là
thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho xã hội. Mục đích đó được thực hiện

4


khi nền sản xuất xã hội tạo ra những kết quả hữu ích ngày càng cao cho xã hội. Sản
xuất đạt mục tiêu về hiệu quả kinh tế khi có một nguồn lực nhất định tạo ra khối
lượng sản phẩm hữu ích lớn nhất.
Hiệu quả kinh tế là một đại lượng để đánh giá xem kết quả hữu ích được tạo
ra như thế nào, từ nguồn chi phí bao nhiêu, trong các điều kiện cụ thể nào, có thể
chấp nhận được hay không. Như vậy, HQKT liên quan đến các yếu tố đầu vào và
việc sử dụng nó với các yếu tố đầu ra của sản xuất.
Người sản xuất mong muốn tăng nhanh kết quả hữu ích, đồng thời mục tiêu


̣C

xuyên bằng tiền, chi phí khấu hao, chi phí lãi vay… mà chủ thể sản xuất phải bỏ ra

O

để mua và thuê các yếu tố đầu vào và các khoảng chi phí dịch vụ trong thời kỳ sản

̣I H

xuất ra tổng sản phẩm đó.

Trên cơ sở các chỉ tiêu kết quả và hao phí mà tính ra các chỉ tiêu hiệu quả

Đ
A

kinh tế phù hợp với mục đích của vấn đề nghiên cứu:
Thu nhập hỗn hợp (MI) là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra trong thời kỳ

sản xuất đó, chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả việc đầu tư các yếu tố chi phí.
MI được tính:

MI = GTSX – CPSX

Lợi nhuận là chỉ tiêu HQKT tổng hợp, nhưng thực tế sản xuất trong nông hộ
hiện nay việc xác định chi phí gia đình thường gặp khó khăn. Mặt khác lợi nhuận
không phải là mục tiêu duy nhất của sản xuất nông hộ, do đó ở đây không quan tâm
nhiều đến lợi nhuận trong nghiên cứu sử dụng đất canh tác.


H

Ở nước ta do những chính sách về sử dụng đất canh tác , diện tích đất đai sử

IN

dụng cho sản xuất được giao cho các thành phần kinh tế khác nhau sử dụng lâu dài,
nhà nước nắm quyền sở hữu và chỉ thực hiện thu thuế sử dụng đất canh tác nên việc

K

đánh giá đất chưa được quy định cụ thể, do đó chỉ tiêu kết quả sản xuất trên một

̣C

đơn vị diện tích trở thành chỉ tiêu chung và quan trọng nhất để đánh giá, so sánh

O

giữa các loại cây trồng, giữa các thuở đất canh tác, giữa các địa phương hay giữa
các chủ thể sử dụng đất.

̣I H

Nghiên cứu HQSD các công thức luân canh cây trồng chủ yếu vừa mang tính
lý luận sâu sắc vừa là vấn đề cần đặt ra trong thực tiễn sản xuất. Nghiên cứu HQKT

Đ
A

U

của các quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao. Tập quán canh tác cũng ảnh

́H

hưởng đến việc lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn các chủng loại cây trồng
và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt mục tiêu kinh tế, cần loại bỏ những phương




thức canh tác lạc hậu gây tác hại cho đất mang lại hiệu quả kinh tế thấp.
Quy hoạch và bố trí hệ thống cây trồng

H

Hệ thống cây trồng là nhân tố ảnh hưởng lớn đến năng suất, sản lượng và

IN

chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Do đó việc lựa chọn cây trồng nào thích hợp để
lợi dụng tốt nhất điều kiện khí hậu và đất đai ở mỗi vùng là trọng tâm cơ bản của
Trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh

̣C



K



Một số yếu tố đầu vào trong sản xuất nông nghiệp rất lớn (giá cả phân bón,
thuốc trừ sâu…) dẫn đến chi phí sản xuất tăng lên, bên cạnh đó đầu ra lại thiếu ổn
định có lúc không tìm được thị trường tiêu thụ nông sản vì thế hiệu quả kinh tế kém,
thu nhập của người nông dân thấp. Yêu cầu đặt ra là cấn có sự quan tâm giải quyết
kịp thời của các cấp lãnh đạo bằng cách hổ trự giá vật tư phân bón và các yếu tố đầu
vào sản xuất nông nghiệp cho người nông dân nhằm mục đích nâng cao hiệu quả
kinh tế cải thiện đời sống cho các hộ nông dân.

Ế

 Nhân tố cơ chế chính sách và tổ chức quản lý sản xuất

U

Để đẩy nhanh quá trình tập trung đất đai thành những vùng chuyên canh

́H

nông sản hàng hoá lớn, ngoài việc đảm bảo các quyền cơ bản về sử dụng đất canh
tác cần khuyến khích khả năng chuyển đổi, chuyển nhượng theo phương thức “dồn



điền, đổi thửa”. Đồng thời đẩy nhanh việc miễn giảm thuế nông nghiệp, nhằm
khuyến khích nông dân đầu tư phát triển sản xuất.

H


Trong khi các nhu cầu đối với thịt và sữa hữu cơ (thực phẩm không sử dụng
hóa chất nhân tạo) đang gia tăng lên khoảng 20% mỗi năm ở Mỹ thì hầu hết các hạt
ngũ cốc và thức ăn cho vật nuôi cung cấp cho các ngành công nghiệp này ở vùng
Trung Đại Tây Dương đều được nhập khẩu từ các khu vực khác. Do đó, để đáp ứng
được nhu cầu ở địa phương này, các nông dân trong vùng cần thông tin về các sản

8


lượng cây trồng mong đợi và những lựa chọn quản lý hiệu quả. Các nhà nghiên cứu
đã thu thập dữ liệu về sản lượng cây trồng, sự hấp thụ khí nitơ, các mật độ cỏ, và số
lượng cây trồng từ Dự án các hệ thống trồng trọt của Beltsville (viết tắt là FSP).
Đây là cuộc thử nghiệm các hệ thống trồng trọt dài hạn với hai hệ thống theo tập
quán và 3 hệ thống hữu cơ của sự phức tạp luân canh được thiết lập vào năm 1996.
Cuộc nghiên cứu cho thấy rằng sản lượng ngô và đậu nành trong các hệ
thống hữu cơ trung bình là 76% và 82% tương ứng với sản lượng ngô và đậu nành

Ế

trong các hệ thống theo tập quán trong các năm với điều kiện thời tiết bình thường.

U

Sản lượng lúa mì vụ đông ở các hệ thống đều tương tự như nhau trong khi đó sản

́H

lượng ngô ở hệ thống hữu cơ thấp hơn ở hệ thống theo tập quán ban đầu là do lượng



khí nitơ có sẵn và việc giảm sự xâm lấn của cỏ với việc tăng thời gian và tính phức
tạp của luân canh. Thời gian và sự phức hợp của luân canh không ảnh hưởng đến

Đ
A

sản lượng của đậu nành và của lúa mì.
Tiến sĩ Michel Cavigelli – trưởng cuộc nghiên cứu - cho biết “Những kết quả

nghiên cứu này cho thấy rằng luân canh lâu hơn và phức hợp hơn có thể giúp cho
chúng ta hướng vào hai thách thức sản xuất quan trọng nhất trong việc sản xuất
cây ngũ cốc hữu cơ: đó là cung cấp đủ khí nitơ cho nhu cầu của cây trồng và làm
giảm đi sự xâm lấn của cỏ”. Nghiên cứu này giúp ích cho những người nông dân và
những người xem xét việc chuyển tiếp đến việc lựa chọn trồng trọt hữu cơ luân
canh thích hợp nhất cho vùng trung Đại Tây Dương.

9


Một nghiên cứu khác cho thấy: Người Mỹ gọi những giống cây trồng lấy hạt
để chiết xuất ra dầu thực vật là cuphea. Trước khi trồng lúa mỳ, người ta thường
trồng cây lấy dầu vì cho rằng cây lấy dầu giúp cải tạo đất, như vậy sẽ tốt cho việc
trồng lúa mỳ. Thậm chí các nhà khoa học Mỹ còn đo được hàm lượng protein tăng
thêm trong mỗi hạt lúa mỳ vào khoảng 8%. Nhà thực vật học Russ Gesch và các
cộng sự của ông đã khám phá ra hiện tượng này sau 4 năm liền dày công nghiên
cứu. Họ đã thử nghiệm trồng luân canh cây lấy dầu, ngô, đậu tương và lúa mỳ trên

Ế

những cánh đồng ở Morris. Trên cơ sở những kết quả thu được, Gesch (hiện đang


̣C

1.2.2 Một số thành tựu áp dụng các công thức luân canh tại Việt Nam

̣I H

Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi từ tập quán canh
tác độc canh cây lúa kém hiệu quả, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật thâm canh cây

Đ
A

trồng, bố trí các công thức luân canh cây trồng hợp lý. Năm 2009, trạm Khuyến
nông Vĩnh Thạnh tỉnh Bình Định đã triển khai mô hình chuyển đổi cơ cấu cây
trồng. Công thức luân canh được đưa vào thực hiện tại mô hình là trồng ớt xen lạc ở
vụ Đông xuân, chăm sóc thu hoạch ớt vụ hè và trồng ngô lai vụ mùa. Ở vụ Đông
xuân trên chân đất thịt nhẹ pha cát, được sự hướng dẫn của các cán bộ kỹ thuật trạm
Khuyến nông Vĩnh Thạnh, 8 hộ nông dân tại thôn Định Quang đã tiến hành trồng
xen canh lạc- ớt với giống được sử dụng là giống lạc LDH- 01 và giống ớt lai F1.
Để trồng lạc, bà con đã thực hiện lên luống rộng 1,2m, chiều cao luống 20cm
để trồng lạc, hai bên luống thực hiện trồng xen hai hàng lạc với mật độ hàng cách

10


hàng 75 cm, cây cách cây 40 cm, sau đó tiến hành trồng 2 hàng lạc ở hai bên mép
luống với mật độ cây cách cây 15- 17 cm. Sau khi thu hoạch lạc Đông xuân, bà con
nông dân tiếp tục chăm sóc cây ớt để thu hoạch trong vụ hè, vụ 3 được trồng với
giống ngô lai LVN 61.


K

Bình định thực hiện với công thức luân canh lạc xen ớt - khổ qua cũng cho thu nhập
hơn 150 triệu đồng/ha/năm. Các mô hình đều đạt kết quả tốt, có sức thuyết phục cao

O

̣C

với bà con nông dân, mà bằng chứng hiện ở các xã Vĩnh Thịnh, thị trấn Vĩnh Thạnh

̣I H

và xã Vĩnh Quang nhiều hộ đã chuyển sang trồng các loại rau màu theo hướng sản
xuất hàng hóa, nhiều hộ đã biết ứng dụng kỹ thuật sản xuất rau màu theo hướng an

Đ
A

toàn được Trạm khuyến nông hướng dẫn qua các lớp tập huấn và các mô hình trình
diễn trạm đã triển khai.
Có thể nói, việc thực hiện thành công các mô hình chuyển đổi, luân canh cây

trồng theo hướng nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích mà Trạm Khuyến nông
huyện Vĩnh Thanh đã thực hiện trong các năm qua đã mở ra hướng đi mới trong
thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ. Điều này đã giúp bà con nông dân
của huyện tổ chức sản xuất có hiệu quả, nâng cao thu nhập và cải thiện đởi sống,
từng bước xóa đói, giảm nghèo. Chính vì vậy trong thời gian qua Phòng Nông
nghiệp& PTNT huyện và Trạm khuyến nông đã xây dựng kế hoạch đẩy mạnh


H

ven thành phố, khu công nghiệp và ở những vùng chuyên canh rau đã sản xuất rau

IN

trái vụ quanh năm. Song do thiếu hiểu biết trong việc áp dụng đồng bộ các giải pháp

K

kỹ thuật khiến sâu bệnh phát sinh, phát triển. Để hạn chế sâu bệnh, ngoài các biện
pháp như sử dụng giống chịu bệnh, vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, trồng trong nhà lưới

̣C

thì biện pháp hiệu quả là luân canh cây trồng hợp lý.

O

1.2.3 Một số thành tựu áp dụng công thức luân canh cây trồng tại Quảng Ngãi

̣I H

Trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp để khắc phục tình trạng thiếu nước ở thời
điểm cuối vụ hè thu hàng năm cho cây lúa trên các vùng đất thuộc huyện miền núi,

Đ
A


Nhận thấy đây là mô hình có tiềm năng, hiệu quả trong năm 2008 và 2009,
Trạm khuyến nông Ba Tơ tiếp tục trình diễn ở những xã khác trên địa bàn huyện.



Năm 2008 mô hình được trình diễn ở xã Ba Cung, với quy mô 2 ha, 12 hộ đồng bào
dân tộc Hre tham gia. Kết quả năng suất đậu đạt bình quân 22 tạ/ha, trừ các chi phí

H

mô hình còn lãi 14.580.000 đồng, cao hơn cây lúa cùng vùng 13.670.000 đồng. Với

IN

đặc điểm là loại cây trồng dễ canh tác, nhu cầu nước tưới không cao, lại thích ứng

K

trên chân đất không cần độ dinh dưỡng cao (kể cả trên ruộng bậc thang cát bạc
màu), cây đậu phụng nhanh chóng được nông dân đón nhận.

O

̣C

Trong năm 2008, theo Trạm Khuyến nông Ba Tơ cho biết toàn huyện đã áp

̣I H

dụng nhân rộng thực hiện mô hình này lên đến 30 ha. Năm 2009 mô hình tiếp tục

U

huyện đồng bằng mà đã nhân rộng đến các huyện miền núi. Những đặc điểm ưu việt

́H

vượt trội của các công thức luân canh giúp nâng cao năng xuất, sản lượng cây trồng,
hạn chế sâu bệnh, tiết kiệm chi phí đầu vào thuốc và phân bón giúp cải thiện đời



sống người nông dân một cách đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm được
nêu trên, phương thức canh tác áp dụng các công thức luân canh cây trồng cũng còn

H

khá nhiều hạn chế đối với nông dân. Những yêu cầu khắt khe về mặt kỹ thuật: phối

IN

hợp loại cây gì, vào thời gian nào là hợp lý, phương phương canh tác cụ thể như thế

K

nào để đạt được hiệu quả kinh tế tối ưu … đặt ra cho nông dân những thách thức
không nhỏ. Để đảm bảo đáp ứng những yêu cầu nêu trên, cần có sự phối hợp giữa

O

̣C

vị liên quan thực hiện thành công nhiều mô hình khuyến nông tại các xã - thị trấn

Ế

như: Sản xuất rau an toàn, luân canh cây trồng trên đất màu, luân canh cây trồng

U

trên đất lúa để thực hiện chủ trương "xây dựng cánh đồng có thu nhập trên 50 triệu

́H

đồng/ha". Các mô hình khuyến nông có hiệu quả ở huyện từng bước được nhân
rộng, xuất hiện ngày càng nhiều cánh đồng "không cho đất nghỉ". Nhiều mô hình



trồng trọt, chăn nuôi mới đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo nên những điểm nhấn
quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở huyện. Thực hiện chủ trương mỗi xã xây

H

dựng 01 cánh đồng luân canh có thu nhập cao. Đến nay, huyện Mộ Đức đã xây

IN

dựng được 9 cánh đồng đạt doanh thu trên 70 triệu đồng/ha/năm, với tổng diện tích

K



CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1 Vị trí địa lý
Mộ Đức là một huyện đồng bằng ven biển thuộc tỉnh Quảng Ngãi, có toạ độ địa
lý từ 14052'511'' đến 15005'49'' vĩ độ Bắc, từ 108047'24'' đến 108057'18'' kinh độ Đông.

Ế

- Phía Đông giáp biển Đông.

U

- Phía Tây giáp huyện Nghĩa Hành.

́H

- Phía Nam giáp Đức Phổ.



- Phía Bắc giáp Tư Nghĩa.

Toàn huyện có 11 xã đồng bằng, 1 thị trấn (Thị trấn Mộ Đức), 1 xã miền núi

H

(xã Đức Phú) với tổng diện tích tự nhiên là 21.226,52 ha, chiếm 4,13% tổng diện


Mộ Đức nằm trong dãi đồng bằng nhỏ hẹp thuộc vùng duyên hải miền
Trung, tiếp cận biển Đông và vùng đồi núi thấp nối tiếp với Đông Trường Sơn.
Nhìn chung địa hình huyện có hình lòng chảo từ xã Đức Chánh vào giáp huyện Đức
Phổ với 2 dạng địa hình: vùng trung du miền núi và vùng đồng bằng ven biển.
- Vùng trung du miền núi : Nằm ở phía tây Nam của huyện có diện tích gần
8.000 ha. độ cao trung bình từ 15 - 20 m (không kể các đỉnh núi), có độ dốc khá lớn

16


do ảnh hưởng xói mòn nghiêm trọng khi mưa lũ, ngoài sản xuất nông nghiệp thế
mạnh của vùng là phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả.
- Vùng đồng bằng ven quốc lộ 1A và ven biển: nằm ở trung tâm và phía
Đông của huyện chiếm diện tích khá lớn khoảng 13.000 ha. Độ cao bình quân từ
2 - 4 m, vùng ven biển cao từ 7 - 9 m, tạo thành lòng máng về phía Đông từ Đức
Thắng đến Đức Phong, Đức Lân do đó thường xuyên bị ngập úng. Dọc bờ biển
Đông là các sườn dốc hướng về đất liền. Do đó các vùng đất giáp biển hàng năm

Ế

thường bị cát xâm lược. Đường giao thông vùng này thuận lợi cho việc giao lưu

U

kinh tế giữa trong và ngoài huyện. Đây là vùng kinh tế chủ yếu của huyện phát triển

́H

tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ , trồng lúa, hoa màu và nuôi trồng
thuỷ sản.

nên nền nhiệt độ cao và phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn huyện.
:

25,70 C.

- Nhiệt độ tối cao

:

410 C.

- Nhiệt độ trung bình thấp

:

18.50 C.

Đ
A

- Nhiệt độ trung bình hàng năm

Các tháng có nhiệt độ cao nhất từ tháng 3 đến tháng 8 ( cao nhất các tháng
6,7,8) Nhiệt độ tối cao từ 40 - 410 C.
Các tháng có nhiệt độ tối thấp từ tháng 11 đến tháng 12 và tháng 1 năm sau,
nhiệt độ trung bình từ 21 - 230C.
Độ ẩm trong năm có sự chênh lệch khá lớn, mùa khô độ ẩm rất thấp nhưng
lại tăng nhanh vào mùa mưa. Độ ẩm cao nhất là vào tháng 11 : 89,5 %

17


- Các tháng có số giờ nắng cao nhất từ tháng 3 đến tháng 8, trung bình đạt từ

́H

218 - 253 giờ/tháng ( cao nhất vào tháng 6).

- Các tháng có số giờ nắng thấp nhất từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, trung



bình đạt từ 124 giờ/tháng ( thấp nhất vào tháng 12).

Hướng gió thịnh hành trong năm là hướng Đông - Bắc và Đông - Nam, vận

H

tốc gió trung bình trong năm là 2,8 m/s. Tốc độ gió lớn nhất là 20 - 40.

IN

Bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động mạnh vào tháng 9,10,11 hàng năm gây ra

K

những trận mưa lớn kéo dài. Trung bình một năm có 1,4 cơn bão.
Lượng mưa trung bình khoảng 1.800 - 2.300 mm/năm nhưng phân bố không

O


cao 1,5 – 3 m tuỳ theo hướng và vận tốc gió. Hiện tượng phân dòng khá rõ rệt đối
với tất cả sông ở vùng hạ lưu. Phần hạ lưu chịu ảnh hưởng của thuỷ triều và bị nước
mặn xâm nhập (sự xâm nhập và mức độ mặn của biển ở những khu vực này phụ

Ế

thuộc vào lưu lượng dòng chảy trong sông và biên độ của thuỷ triều).

U

* Đánh giá chung những lợi thế và hạn chế về điều kiện tự nhiên

́H

Nhìn chung, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên huyện Mộ Đức có nhiều tiềm
năng cho phát triển các ngành kinh tế - xã hội. Lợi thế về vị trí địa lý: Là huyện



đồng bằng ven biển có các tuyến giao thông huyết mạch xuyên Việt (quốc lộ 1A,
quốc lộ 24 từ Kontum đi Quảng Ngãi, đường sắt thống nhất Bắc Nam), thuận lợi

H

cho trao đổi hàng hoá với bên ngoài, có điều kiện tiếp thu và ứng dụng các tến bộ

IN

khoa học kỹ thuật.




(chiếm 22,84 %). Theo phương pháp phân loại FAO – UNESSCO, trên địa bàn
huyện Mộ Đức có 4 nhóm đất chính và được chia thành 11 đơn vị đất cụ thể ta xem
xét bảng 1 (diện tích cơ cấu các loại đất theo nguồn phát sinh).

Tổng số (ha)

Cơ cấu (%)

1. Nhóm đất cát biển.

AR

1.975

9,300 %

- Đất cồn cát trắng vàng.

ARl

1250

- Đất cát điển hình.

ARh

337,5


467,5

GLe

187,5

GLC

280

AC

6.550

ACh

1.615

ACf

442,5

ACfa

4492,5

H
IN

- Đất Glây ít chua.



Loại đất

Ế

Ký hiệu

U

Bảng 2. 1: Diện tích, cơ cấu các loại đất theo nguồn phát sinh.

21.226,52

2,202 %

30,85 %

100%

(Báo cáo qui hoạch sử dụng đất huyện Mộ Đức năm 2005-2010)

Qua bảng 1 ta thấy nhóm đất chính của huyện là nhóm đất phù sa với diện

tích 10.540 ha chiếm 49,65 %, phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng, nhóm đất này
được tạo thành chủ yếu do lắng đọng phù sa của các sông Vệ, sông Thoa. Do địa
hình phức tạp cá dãy núi xen kẽ, các đồng bằng, các vật liệu phù sa còn được bổ
sung bởi các sản phẩm dốc tụ. Tuy nhiên do đặc tính nước lũ về và rút đi nhanh nên
đất phù sa có thành phần cơ giới nhẹ và trung bình, đất tơi xốp. Nhóm đất này tập
trung chủ yếu ở tất cả các xã trong huyện như: Đức Thắng, Đức Nhuận, Đức Hiệp,


H

núi đâm ra biển. Đất này phù hợp cho trồng các loại cây: lạc, dưa, khoai lang, dâu.

IN

Nhóm đất Glây có diện tích 467,5 ha chiếm 2,2 % phân bố ở các xã Đức

K

Phong, Đức Thắng, Đức Nhuận, Đức lân thường gặp ở địa hình trũng vùng đồng
bằng, thích hợp cho gieo trồng lúa nước, công thức luân canh thích hợp nhất là

O

̣C

2 lúa – 1 màu để cải thiện tính khử của đất.

̣I H

2.2.2. Hiện trạng sử dụng đất đai
Với tổng diện tích 21.393 ha, Trong đó diện tích đất chưa khai thác sử dụng

Đ
A

chiếm tỷ lệ khá cao 1.886 ha (chiếm 8,82 % quỹ đất toàn huyện). Phần diện tích đã
khai thác và đưa vào sử dụng cho các mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, chuyên

Đất lâm nghiệp

5.069

Đất chuyên dung

2.960

Ế

Diện tích (ha)

Đất khu dân cư
Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá

23,69
1,38

796

3,72



́H

U

LOẠI ĐẤT


Đ
A

23,69 % tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở hầu hết các xã thị trấn trong huyện (trừ
Đức Thạnh). Do đặc thù về địa hình nên diện tích đất đang sử dụng vào mục đích
lâm nghiệp được khoanh định khá rõ thuộc các khu đồi núi, gò bãi, phòng hộ ven
biển trên địa bàn toàn huyện với các loại cây trồng như bạch đàn, keo, phi lao…
Trong những năm qua, dưới sự hổ trự của các dự án PAM, chương trình 327,
dự án 661, chính sách về đất đai… với các lợi ích kinh tế xã hội về trồng rừng ngày
càng rõ nét đã kích thích và thu hút được nhiều tầng lớp trong xã hội tham gia trồng
và bảo vệ rừng. Nhiều tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã mạnh dạng đầu tư thâm
canh, giao nhận, chăm sóc bảo vệ và trồng rừng đạt kết quả. Tuy nhiên, công tác

22


phòng chống cháy rừng chưa được các ngành các địa phương và nhân dân quan tâm
đúng mức nên vẫn còn hiện tượng cháy rừng làm thiệt hại một phần vốn rừng và
ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Việc duy trì bảo vệ vốn rừng hiện có, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tăng
độ che phủ của rừng, góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan và cân bằng
sinh thái là việc làm cấp bách trong chiến lược phát triển kinh tế.
Tổng diện tích đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá là 1.886 ha chiếm 8,82%
tổng diện tích đất rự nhiên. Diện tích đất chưa sử dụng trong huyện còn khá cao điều

U

Ế

này đã hạn chế khả năng khai thác đất của huyện dẫn đến mức tăng trưởng kinh tế

người, chiếm 5,8 % dân số toàn huyện, dân số nông thôn là 133.988 người, chiếm

̣I H

94,24 % dân số toàn huyện. Mật độ dân số trung bình là 687 người/km2. Dân số cơ
cấu theo nông nghiệp là 96.619 người, chiếm 65,73 %, theo phi nông nghiệp là

Đ
A

50.361 người chiếm 34,27 %.
Mật độ dân số thuộc loại cao so với các huyện khác trong tỉnh nhưng lại

phân bố không đều giữa các xã trong huyện. Dân số tập trung ở những nơi có lợi thế
về vị trí địa lý, nơi đầu mối giao thông thuận, nơi trung tâm kinh tế, văn hoá của
huyện như TT Mộ Đức (987 người/km2), Đức Nhuận (1.391 người/km2). Các xã
miền núi dân cư thưa thớt do giao thông khó khăn, đất đai kém màu mỡ cộng vào
đó diện tích tự nhiên lớn nên mật độ thưa thớt Đức Phú (197 người/km2) Đức Lân
(524 người/km2). Đại bộ phận dân cư trong huyện là người Kinh chiếm 99,98 %
dân số và một bộ phận nhỏ là người H’re ở xã Đức Phú chiếm 0,02 % dân số

23


Tình hình gia tăng dân số ở huyện Mộ Đức chủ yếu là tăng tự nhiên, tỷ lệ
tăng dân số không đồng đều giữa các vùng. Được sự chỉ đạo của các cấp Uỷ Đảng,
UBND huyện và các xã, phong trào thực hiện KHHGĐ ở những năm gần đây được
triển khai tích cực, bước đầu thu được kết quả khả quan. Tỷ lệ tăng dân số những
năm trước 1,45 % đến năm 2008 còn 0.96 %.
Kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào sản xuất Nông – Lâm – Ngư nghiệp,

Nhìn chung, lực lượng lao động trên địa bàn huyện đa phần là lao động phổ
thông, chủ yếu làm việc trong các ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp (51.801 người).

O

̣C

Mức thu nhập của người dân trong huyện 6.500.000/người/năm khá thấp, chất

̣I H

lượng cuộc sống chưa cao.
Vấn đề việc làm của huyện hiện nay đang là vấn đề khá bức xúc. Hàng năm

Đ
A

có khoảng 16,46 % lực lượng lao động nông nghiệp phải đi các tỉnh khác (Tây
Nguyên, TP Hồ Chí Minh) để tìm việc làm thêm. Đây là vấn đề nan giải đòi hỏi
huyện phải tìm cách tháo gỡ bằng cách mở rộng đa dạng hoá ngành nghề công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống. Chú trọng phát triển ngành
du lịch - dịch vụ, tạo điều kiện để người lao động chuyển từ nông nghiệp sang phi
nông nghiệp mà không di dân đến các đô thị lớn, giải quyết việc làm tại chổ cho
người lao động .
Trong tương lai, khi nền kinh tế ở huyện phát triển mạnh, ngành công nghiệp
– tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ chiếm ưu thế trong cơ cấu kinh tế của

24



IN

thành theo 4 cấp quản lý: Trung ương, tỉnh, huyện và xã với các tuyến: Quốc lộ 1A

K

chạy dọc từ bắc vào Nam, quốc lộ 24, tỉnh lộ 628, tỉnh lộ 629 với các huyện lộ
(gồm 8 tuyến) và 150 km đường xã (gồm 73 tuyến)… được phân bố đều khắp trong

̣C

toàn huyện.

O

Tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua địa bàn huyện có chiều dài 14,3 km với 1

̣I H

ga nhỏ cách trung tâm TT Mộ Đức 2,3 km về phía Tây, tạo điều kiện cho việc đi lại
vận chuyển hàng hoá của người dân trong huyện.

Đ
A

Với thuận lợi có 22 km bờ biển với một Cửa Lỡ song khả năng phát triển

mạng lưới giao thông đường thuỷ còn nhiều hạn chế, mới chỉ mang tính chất nội
khu vực với qui mô nhỏ.
Để có hệ thống giao thông hoàn chỉnh, đáp ứng được nhu cầu giao thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status