PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế tư nhân là lực lượng nòng cốt, có vai trò chiến lược trong phát triển
kinh tế của nước ta hiện nay. Những năm qua, kinh tế tư nhân đã có những đóng
góp tích cực vào phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân, góp phần giữ
vững ổn định chính trị - xã hội đất nước, tạo thêm nhiều việc làm và nhiều của cải
Ế
cho xã hội. Nhìn chung, khu vực kinh tế tư nhân có nhiều ưu thế nổi trội, là khu vực
U
có tốc độ tăng trưởng khá ổn định, nhiều năm tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ
́H
tăng trưởng chung của nền kinh tế, huy động được nhiều nguồn nội lực còn đang ở
dạng tiềm năng, đặc biệt là sử dụng nhiều lao động.
TÊ
KTTN trên địa bàn thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên, trong những năm qua
có bước phát triển vượt bậc, hiện nay có hơn 10000 đơn vị KTTN, với các loại hình
H
chủ yếu là DNTN, CTTNHH, CTCP và hộ kinh tế cá thể tiểu chủ. Trong đó, có
IN
thành phố Tuy Hòa nói riêng và tỉnh Phú Yên nói chung cần được nghiên cứu, tìm
kiếm giải pháp khắc phục những hạn chế và phát triển mạnh hơn nữa.
1
Bàn về phát triển kinh tế tư nhân đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu,
hội thảo, các bài viết đăng tải trên trên nhiều tạp chí khác nhau như:
- Nguyễn Minh Phong (2004), Phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nội, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
- Trần Xuân Châu (2008), Phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Huế - Thực
trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Đại học Huế.
- Hồ Văn Vĩnh (2003), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư
nhân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
U
Ế
- Nguyễn Kế Tuấn (2010), Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định
́H
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội…
Riêng tỉnh Phú Yên, chưa có công trình nghiên cứu nào về phát triển kinh tế tư
TÊ
nhân ở thành phố Tuy Hoà. Vì vậy nên, tôi chọn đề tài: “Phát triển kinh tế tư nhân ở
thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Mục đích chung
Thông qua việc nghiên cứu kinh tế tư nhân ở thành phố Tuy Hòa mà khẳng
định thêm vai trò của kinh tế tư nhân và tìm giải pháp thúc đẩy kinh tế tư nhân
phát triển.
3.2. Mục đích cụ thể
Một là, hệ thống hóa những cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư
nhân. Bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân nhằm vận dụng
vào trong phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Tuy Hòa.
2
Hai là, phân tích thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Tuy Hòa.
Ba là, đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế tư nhân trên địa
bàn thành phố Tuy Hòa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chủ yếu nghiên cứu tổng thể quá trình phát triển KTTN, xác định xu hướng và
giải pháp phát triển ở thành phố Tuy Hoà.
Ế
4.2. Phạm vi nghiên cứu
U
4.2.1 Về không gian
O
4.2.4 Về chủ thể nghiên cứu
Chủ yếu tập trung nghiên cứu doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
Đ
A
hữu hạn, công ty cổ phần.
5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp chung là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác-Lênin, đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân, tổ thống kê.
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp phỏng vấn, chuyên gia.
- Phương pháp chọn mẫu.
3
6. Kết quả nghiên cứu dự kiến và những đóng góp mới của luận văn
6.1. Kết quả dự kiến
- Hệ thống hóa vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân.
- Khảo sát thực trạng, đánh giá sự phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Tuy Hòa.
- Tìm kíêm các giải pháp thúc đẩy kinh tế tư nhân ở thành phố Tuy Hòa phát
triển trong những năm tới.
6.2. Những đóng góp của luận văn
- Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân của thành phố Tuy Hoà.
Đ
A
̣I H
O
Tuy Hoà.
̣C
- Chương 3: Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1 Quan niệm, phân loại và những quan hệ kinh tế chủ yếu của kinh tế tư nhân
1.1.1 Quan niệm về kinh tế tư nhân
Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định sự tồn tại của kinh tế tư
Ế
nhân (KTTN) là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
U
O
luật; KTTN bao gồm các hình thức: hộ cá thể; hộ tiểu chủ; hộ tiểu thương, các
̣I H
doanh nghiệp tư nhân (DNTN) dưới nhiều hình thức: xí nghiệp tư doanh; công ty tư
doanh; công ty cổ phần (CTCP),…[3]
Đ
A
Tuy vậy, những năm đầu của công cuộc đổi mới, ảnh hưởng của tư duy cũ về
kinh tế XHCN vẫn chưa hoàn toàn bị xoá bỏ. Tư tưởng về phát triển KTTN còn rất e
dè, chưa được thông thoáng, nhưng đã có bước cải thiện về nhận thức rất đáng kể.
Như xác định: KTTN được phát triển, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước. Hay
xác định: kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài; Giúp đỡ kinh tế cá thể,
tiểu chủ giải quyết khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ
sản phẩm; Khuyến khích tư bản tư nhân (TBTN) đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn
lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi và tăng
cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh.[9]
5
Tư duy về KTTN ngày càng thông thoáng và cởi mở hơn, từ Đại hội IX trở
đi, vai trò của KTTN được khẳng định tầm quan trọng của mình trong sự nghiệp
phát triển chung của đất nước và được khuyến khích phát triển, mở rộng theo quy
định của pháp luật. Trong các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW (khoá IX),
Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 3 năm 2002 (trang 24) lần đầu tiên KTTN được
K
có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội, nguồn lực kinh
̣C
doanh, thông tin và nhận thông tin. Xoá bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi
O
trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình DN của tư nhân phát triển không hạn
̣I H
chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả lĩnh vực kinh doanh quan trọng
của nền kinh tế mà pháp luật không cấm”[10, tr. 86].
Đ
A
Ở Đại hội Đảng lần thứ XI, một lần nữa khẳng định tiếp tục hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN; đổi mới mô hình tăng trưởng và
cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nhanh,
bền vững. Trong đó, chủ trương tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng
XHCN, tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật, đều
là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển
lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. KTTN một lần nữa được xác định như là
một trong những động lực của nền kinh tế và được Đảng và Nhà nước khuyến khích
phát triển mạnh.[11]
H
Nghiên cứu KTTN một cách đầy đủ cần tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau,
IN
tuy nhiên với chuyên ngành kinh tế chính trị học, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
1.1.2.1 Quan hệ sở hữu
K
KTTN chủ yếu trên 3 quan hệ kinh tế cơ bản:
̣C
“Sở hữu là hình thức chiếm hữu của cải vật chất do lịch sử quy định, trong
O
đó thể hiện quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã hội.
̣I H
Sự phát triển các hình thức sở hữu do sự phát triển của lực lượng sản xuất quy
định”[19, tr. 22]. Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người cho đến
Đ
A
nay nhìn chung chỉ có 2 loại hình sở hữu cơ bản là: công hữu và tư hữu. Và mỗi
định các hình thức cấu thành SHTN, nhưng sự phân chia được mặc định dựa vào
TÊ
quy mô đối tượng sở hữu của mỗi chủ sở hữu và cách thức thực hiện quyền sở hữu
gắn với loại hình tổ chức kinh doanh. Theo đó, SHTN có thể có các hình thức sở
H
hữu chủ yếu sau đây:
IN
- Hình thức SHTN gắn với loại hình tổ chức “hộ cá thể”. Loại này thường có
quy mô nhỏ, chủ sở hữu trực tiếp thực hiện quyền sở hữu, đồng thời cũng trực tiếp
K
tham gia với các thành viên trong gia đình, thực hiện tất cả các khâu của quá trình
̣C
sản xuất kinh doanh (SXKD). Hình thức này tồn tại phổ biến trong lĩnh vực sản
O
xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thương và các dịch vụ nhỏ, phân tán. Ưu
̣I H
Ế
Quy mô kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực của chủ sở hữu: quy mô sở
́H
hữu của bản thân họ và khả năng huy động các nguồn lực từ bên ngoài. Chủ sở hữu
có thể trực tiếp thực hiện quyền sở hữu và điều hành quá trình SXKD hoặc uỷ
TÊ
quyền cho người khác thực hiện các công việc này dưới hình thức hợp đồng thuê
quản lý điều hành. Quá trình SXKD chủ yếu do những người lao động làm thuê
H
thực hiện
IN
Ở Việt Nam hiện nay, hình thức sở hữu này được ngầm hiểu tương đồng với
hình thức SHTN tư bản chủ nghĩa (hình thức sở hữu TBTN). Và đến nay vẫn còn
K
những vướng mắc về hình thức sở hữu này. Nhưng không thể phủ nhận, thực tế
̣C
Quan hệ về tổ chức- quản lý
Thứ nhất, quan hệ quản lý của các hình thức KTTN gắn với loại hình tổ
chức “hộ cá thể”, “hộ tiểu chủ”. Quan hệ này dựa trên quyền lực tuyệt đối của
người chủ trong gia đình. Các thành viên có nghĩa vụ phải phục tùng sự phân công,
điều khiển của người chủ trong gia đình đối với các vấn đề SXKD. Tuy nhiên quan
hệ giữa chủ và các thành viên mang tính chất gia trưởng.
Trong quá trình phát triển của SXKD, nhiều hộ hoặc chủ cá thể, do nhu cầu
mở rộng qui mô sản xuất, có tuyển thêm lao động ngoài gia đình và như vậy, bản
U
Ế
chất kinh tế - xã hội của loại hình kinh tế này đã bắt đầu thay đổi. Hộ cá thể đã
tính chất mới giữa người chủ và người làm thuê.
́H
chuyển thành hộ tiểu chủ. Mối quan hệ giữa chủ và các thành viên bắt đầu biểu hiện
TÊ
Thứ hai, quan hệ quản lý của các hình thức KTTN gắn với loại hình
“DNTN”. Đây là quan hệ có chứa đựng sự bóc lột của người chủ sở hữu đối với
H
người lao động. Trong lịch sử, quan hệ này đã tồn tại trong các hình thức kinh tế
Đối với KTTN gắn với loại hình cá thể, tiểu chủ dựa vào sức lao động của
bản thân và gia đình, nên kết quả lao động là thuộc về chính họ. Đối với KTTN gắn
với loại hình DNTN, trước hết dựa trên nguyên tắc chung là: chủ sở hữu chiếm đoạt
phần sản phẩm thặng dư, còn người lao động được hưởng phần sản phẩm tất yếu
(tất nhiên là dựa trên cơ sở thoả thuận, hợp đồng và đúng luật pháp).
10
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, khi mà nhiều đơn vị kinh
tế dựa trên nhiều hình thức sở hữu khác nhau thì quan hệ phân phối càng trở nên
phức tạp hơn. Có nhiều nguyên tắc, nhiều hình thức phân phối tồn tại đan xen lẫn
nhau ở trong từng đơn vị kinh tế, thậm chí đối với cả từng cá nhân. Tuy vậy, khái
quát lại, có thể kể tới 3 nguyên tắc phân phối cơ bản sau:
- Phân phối theo giá trị sức lao động.
- Phân phối thông qua các quĩ phúc lợi và bảo hiểm của doanh nghiệp (có thể
phần này không đáng kể so với DNNN).
Ế
- Phân phối theo tài sản và vốn đóng góp.
́H
U
1.1.3 Những loại hình KTTN
1.1.3.1 Doanh nghiệp tư nhân
Đ
A
1.1.3.2 Công ti cổ phần. Là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người
mua cổ phiếu gọi là cổ đông, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài
sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào DN. Cổ đông có quyền chuyển nhượng,
mua bán cổ phiếu theo Luật và qui định của công ti. Cổ đông có thể là cá nhân, tổ
chức, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.
- CTCP có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng, độc lập với các chủ thể khác và
tài sản của các thành viên công ty. CTCP chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng chính tài sản riêng của mình.
11
- CTCP được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn,
theo qui định của pháp luật về chứng khoán.
- Hội đồng quản trị phải có ít nhất là 7 thành viên, phải nắm giữ đa số cổ phiếu
(51%) hoặc nắm giữ số lượng cổ phiếu khống chế (ít nhất là 20%) và chịu trách
nhiệm pháp nhân về mọi hoạt động của công ty.
1.1.3.3 Công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH)
Đối với CTTNHH có từ hai thành viên trở lên (CTTNHH2)
- CTTNHH2 là doanh nghiệp có hai đến không quá 50 thành viên góp vốn
U
Ế
̣I H
công ty…)
O
phần góp (lợi nhuận, phân chia tài sản khi giải thể, quyết định các chức danh của
Đối với CTTNHH một thành viên (CTTNHH1)
Đ
A
- Là DN do một tổ chức làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn điều lệ.
- Tuy là một chủ sở hữu nhưng là một tổ chức có tư cách pháp nhân, tài sản
của công ty là độc lập với tài sản của chủ sở hữu. Do đó, chế độ pháp lý sẽ khác với
DNTN. DNTN do 1 cá nhân làm chủ và không thể tách bạch rõ giữa tài sản bỏ ra
khi kinh doanh và các tài sản khác của chủ thể, còn đối với CTTNHH1, chủ sở hữu
là 1 pháp nhân và tài sản giữa 2 pháp nhân phải hoàn toàn độc lập với nhau, mặc dù
một bên là chủ sở hữu.
12
- Ngoài yếu tố chịu trách nhiệm, chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng toàn
bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác.
- Quyền định đoạt (tức là quyền quyết định tài sản về mặt pháp lý, như cho,
tặng, đổi, bán) là một trong những quyền cơ bản của chủ sở hữu và chủ sở hữu có
K
1.2.1.1 KTTN mới được hình thành và phát triển
̣C
Do đặc thù riêng của điều kiện kinh tế đất nước, KTTN nước ta mới được
O
khôi phục và phát triển, chủ yếu từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Vì vậy,
̣I H
bản lĩnh và kinh nghiệm kinh doanh của các DN chưa được rèn luyện. Thêm vào
đó, môi trường pháp lý của nước ta mới được tạo dựng còn chứa đựng nhiều yếu
Đ
A
kém, thiếu cơ chế hỗ trợ chặt chẽ về mặt pháp lý cho hoạt động SXKD của DN.
Điều này đòi hỏi nhà nước phải nỗ lực nhiều hơn nữa trong việc hoàn thiện nhanh
chóng các văn bản pháp lý, hỗ trợ tích cực tạo dựng môi trường kinh doanh thông
thoáng, cởi mở, bình đẳng thực sự giữa các lực lượng kinh tế.
KTTN mặc dù được thừa nhận là bộ phận hợp thành quan trọng trong cơ cấu
kinh tế quốc dân, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát
triển, nhưng phải hoạt động theo định hướng XHCN, dưới sự quản lý của nhà nước
XHCN. Và tư duy coi trọng kinh tế nhà nước một cách máy móc, hình thức, cho
đến nay vẫn là rào cản cho sự phát triển của KTTN. Vẫn còn sự phân biệt giữa DN
tính toán từ số liệu điều tra DN của Tổng cục Thống kê, có khoảng gần 90% số DN
IN
của khu vực KTTN có mức vốn dưới 10 tỷ đồng, trong đó 12% số DN có số vốn từ
500 triệu đến 1 tỷ đồng, 49% có số vốn từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng, 10% có vốn từ 5 tỷ
K
đến 10 tỷ đồng. Chỉ có khoảng 3% số DN có vốn từ 50 tỷ đến 200 tỷ đồng, 1% có
̣C
vốn trên 200 tỷ đồng và khoảng hơn 150 DN có vốn kinh doanh hơn 200 tỷ
O
đồng[17, tr. 17]. Như vậy, các DN trong khu vực KTTN chiếm tỷ lệ cao về số
̣I H
lượng, nhưng chủ yếu ở quy mô nhỏ và Việt Nam hiện đang thiếu vắng các DN quy
mô vừa và lớn, có đủ tiềm lực để vươn ra thị trường khu vực và trên toàn cầu.
Đ
A
1.2.1.3 Trình độ công nghệ lạc hậu
Bắt đầu từ sự hạn chế về quy mô, về vốn và theo đó là khả năng tích luỹ
thiếu tầm nhìn chiến lược, lúng túng trong định hướng dài hạn của DN.
TÊ
Ngoài ra, đa số các chủ DN đều ít hoặc chưa qua đào tạo nghề, chủ yếu đi lên
từ sản xuất nhỏ, với lao động thủ công, vì vậy kỹ năng kinh doanh và kỹ năng lao
H
động còn thấp, khả năng nắm bắt thông tin thị trường, tiếp cận công nghệ hiện đại
IN
thiếu nhạy bén, không theo kịp yêu cầu thị trường. Kinh nghiệm, kỹ năng kinh
doanh còn nhiều hạn chế và đa số đều chưa có chiến lược kinh doanh… cho nên sức
K
cạnh tranh thấp.
̣C
1.2.1.5 Ảnh hưởng từ kinh tế thế giới. KTTN Việt Nam tuy mới được khôi phục và
O
phát triển, nhưng phải đối mặt với những trận “bão” khủng hoảng kinh tế trên thế
̣I H
Khu vực FDI
13,76 13,76 14,47 15,13 15,99 16,98 17,96 18,68 18,33
Ế
Khu vực nhà nước
U
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2010[34]
́H
GDP của KTTN từ chiếm 46,97% tổng GDP năm 2008 đã tăng lên khoảng
TÊ
48% trong năm 2010. Về đóng góp ngân sách, sự phát triển của DNTN trong nước và
DN có vốn đầu tư nước ngoài trong những năm qua đã làm tăng thu ngân sách và
thay đổi cơ cấu thu ngân sách. Số thu ngân sách từ khu vực FDI (không kể dầu thô)
H
và khu vực KTTN trong nước đang ngày càng tăng. Trong giai đoạn 2001 – 2007, tỷ
IN
trọng thu từ các doanh nghiệp FDI đã tăng từ 5,49% lên đến hơn 10,55% tổng thu
16
được những kết quả đáng trân trọng ấy, có sự đóng góp to lớn của các loại hình kinh
tế thuộc KTTN.
Trước hết, sự phát triển của KTTN đã góp phần tăng tỷ trọng của công
nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Làm phát triển mạnh các
ngành nghề phi nông nghiệp, giảm bớt lao động trong nông nghiệp, tăng khả năng
tích luỹ cho dân cư. Đây là điều kiện để tái đầu tư, áp dụng các phương thức sản
xuất, công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất, trong đó có cả sản xuất nông nghiệp.
Ế
Sự phát triển của kinh tế hộ gia đình và sự xuất hiện ngày càng nhiều các
U
DNTN làm trung gian cho quá trình sản xuất và tiêu dùng, góp phần xoá bỏ tình
́H
trạng chia cắt về thị trường giữa các vùng; xoá bỏ tình trạng tự cung tự cấp, đặc biệt
là tình trạng tự cung, tự cấp về lương thực của từng vùng, từng địa phương. Góp
TÊ
phần tạo ra thị trường thống nhất giữa các vùng miền trên cả nước.
KTTN góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp
chiếm tỷ trọng khiêm tốn là 4,1%. Do đó, lao động làm việc trong KTTN chiếm tỷ
trọng đa số, 86,9% tổng số việc làm. Từ năm 2002 tới 2007, DNTN đã tạo thêm
trên 2,23 triệu việc làm, các hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp tạo thêm 2,15
triệu việc làm và khu vực FDI tạo thêm 0,99 triệu việc làm[30, tr. 193]. Tính đến
cuối năm, ước tính cả nước có gần bốn triệu hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp,
tăng 60% so với thời điểm năm 2002; 118,8 nghìn trang trại, tăng 40% so với năm
2003. Cho đến thời điểm năm 2010, tổng số lao động làm việc trong các DN thuộc
17
KTTN đạt con số 6,6 triệu người[34]. Sự phát triển nhanh của hộ kinh doanh đóng
góp trực tiếp vào tăng trưởng, tạo việc làm và thu nhập cho nông dân, qua đó tăng
vị thế của lao động nông thôn. Có thể thấy rằng, KTTN đã có những đóng góp quan
trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi. Chính khu vực này, chứ
không phải khu vực DNNN, đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn, cụ
thể nhất là tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, góp
phần giảm hộ nghèo. Đặc biệt tại địa bàn nông thôn, hộ kinh doanh cá thể là lượng
Ế
chủ yếu trong việc thiết lập kênh tiêu thụ nông sản và phân phối vật tư, hàng công
U
nghiệp tiêu dùng cho nông dân. Số lượng các hộ kinh doanh cá thể đang tập trung
́H
nhiều ở các vùng nông thôn (chiếm 57,1%), trong khi hầu hết các DN chủ yếu tập
Đ
A
lực lượng dôi dư. Vì thế, lực lượng lao động này đang trông chờ vào các DNTN.
Việc thu hút lực lượng đáng kể thanh niên mới lớn tham gia lực lượng lao động,
tránh tình trạng thất nghiệp cho các đối tượng này. Đây là nhóm tuổi nhạy cảm, dễ
bị lôi cuốn vào con đường trộm cắp, cờ bạc, rượu chè, nghiện hút, KTTN đã tạo
công ăn việc làm và thu nhập cho họ, tạo điều kiện cho họ phấn đấu, học tập, làm
việc, giao lưu. Chính điều đó góp phần xoá đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã
hội, làm giảm các tệ nạn xã hội do những người thất nghiệp gây ra. Không chỉ vậy,
các DNTN tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm, đưa hàng hoá về nông thôn,
vùng sâu, vùng xa góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Hiện
18
nay, cụm từ “vai trò xã hội của các DNTN” được nhắc đến nhiều hơn khi họ tham
gia ngày càng nhiều vào các hoạt động từ thiện, nhằm khắc phục hậu quả của thiên
tai, lũ lụt, thể hiện vai trò xã hội ngày càng lớn của các DNTN trong xã hội.
1.2.2.4 Phát triển của KTTN thể hiện sự đổi mới tư duy về CNXH, về phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Khi phát triển đất nước theo mô hình CNXH, các nước trong hệ thống
XHCN đều xây dựng rập khuôn mô hình kinh tế kế hoạch hoá, tập trung bao cấp
Ế
của Liên Xô cũ. Trong mô hình này không có sự tồn tại của KTTN, không có sự tồn
U
Khi tóm lược những tư tưởng cơ bản về các thành phần kinh tế qua các kỳ
̣I H
Đại hội Đảng, lý luận về phát triển KTTN ngày càng được thể hiện cụ thể và hoàn
thiện hơn, không còn sự e ngại khi nói đến vai trò và tầm quan trọng của KTTN
Đ
A
trong sự nghiệp phát triển đất nước ở giai đoạn hiện nay. Thể hiện sự đổi mới trong
tư duy về CNXH, về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN của Đảng ta
khi đặt KTTN đúng với tầm vóc của nó trong phát triển kinh tế - xã hội.
Trong mô hình về CNXH, điều quan trọng nhất là phải phát triển được lực
lượng sản xuất, nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Việc phát triển đa dạng các
loại hình sở hữu, thừa nhận sự cần thiết khách quan phải tồn tại KTTN trong giai
đoạn hiện nay chính là thực hiện dân chủ hoá trong kinh tế, là một trong những cách
thức để đạt được yêu cầu về sự phát triển của lực lượng sản xuất và cải thiện đời
sống nhân dân. Nếu ta chỉ tuyệt đối hoá kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể như
19
trước kia (mong muốn nhanh chóng tạo ra một trong những biểu hiện kinh tế của
chế độ xã hội XHCN), chắc chắn sẽ dẫn đến sự nóng vội, chủ quan và duy ý chí
trong quá trình phát triển.
Sự phát triển ngày càng lớn mạnh của KTTN, thể hiện tính chất XHCN
trong quá trình phát triển nền KTTT ở Việt Nam hiện nay không phải thể hiện ở tỷ
lệ chế độ công hữu các tư liệu sản xuất dưới hai hình thức kinh tế nhà nước và kinh
tế tập thể, cao hay thấp, mà chủ yếu thể hiện ở yêu cầu thúc đẩy phát triển lực lượng
1.2.2.5 KTTN góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng hoá Việt Nam
̣C
KTTN ra đời và phát triển, ngày càng tạo thêm nhiều ngành nghề mới, sản
O
phẩm mới, làm tăng khả năng lựa chọn cho người tiêu dùng. Cùng với quá trình
̣I H
hình thành và phát triển nền KTTT, cơ chế định giá theo kiểu quản lý tập trung bao
cấp bị xoá bỏ. Sự vận động và phát triển của KTTN, làm cho giá cả hàng hoá được
Đ
A
hình thành và biến đổi thông qua sự vận động của cung cầu trên thị trường, xoá bỏ
tính độc quyền về giá của các DNNN. Sự năng động của KTTN đã tạo ra ngày càng
nhiều các sản phẩm có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, tạo được uy tín cho thương hiệu
của mình, và có khả năng cạnh tranh cao không chỉ ở thị trường nội địa mà còn cả
trên thị trường thế giới như: café Trung Nguyên, nhãn hiệu giày Bitit, võng xếp Duy
Lợi,… Trên thực tế, có rất nhiều mặt hàng khi Nhà nước cho phép các DNTN tham
gia đầu tư vào đã tạo ra diện mạo mới, một mức giá mới hợp lý, và một sự lựa chọn
mới, đa dạng, phong phú hơn cho người tiêu dùng như: ngân hàng, bưu chính - viễn
thông… Như vậy, thông qua sự tìm tòi, phát triển năng động, đa dạng trong kinh
20
bảng xếp hạng chính là: Bảng 1- TOP 500 DN lớn nhất Việt Nam về doanh thu
IN
thuộc mọi thành phần kinh tế và Bảng 2-TOP 500 DN lớn nhất Việt Nam về doanh
K
thu thuộc KTTN. Trong đó, tổng số lượng các DN trong hai bảng này giảm dần,
trung bình mỗi năm giảm 3%. Nếu trong bảng xếp hạng năm 2007, tổng số DN
Đ
A
̣I H
O
̣C
trong hai bảng là 897 thì đến bảng xếp hạng năm 2010, con số này chỉ là 829.
Biểu đồ 1.1 Tổng số các doanh nghiệp được xếp hạng trong cả hai Bảng xếp
hạng VNR500
21
Tỷ trọng KTTN trong Bảng xếp hạng VNR500 không phân biệt thành phần
và vừa có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế và đang phát
K
huy tác dụng tốt. Các DN nhỏ và vừa hoạt động có hiệu quả, trong đó gần 75% DN
hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ; số DN còn lại hoạt động trong lĩnh vực sản xuất.
O
̣C
Cũng theo báo cáo, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng, qui mô hoạt
̣I H
động, khối DN nhỏ và vừa đã có những đóng góp to lớn trong tăng trưởng kinh tế,
tạo việc làm. Ngay trong thời gian nền kinh tế chịu tác động lớn của khủng hoảng
Đ
A
tài chính, kinh tế thế giới, số DN nhỏ và vừa vẫn tăng rất nhanh. Tổng số DN đăng
ký thành lập giai đoạn 2006-2010 là 547.000 đơn vị[34].
1.2.3.3 Hình thành các tập đoàn kinh tế
Với sự phát triển ngày càng lớn mạnh về số lượng và quy mô, KTTN đã và
đang có nhiều chuyển biến tích cực trong những năm qua, đặc biệt là ngày càng
nhiều DN của KTTN hình thành và phát triển theo hướng mô hình tập đoàn kinh tế.
Bên cạnh các Tập đoàn kinh tế nhà nước với nhiều lợi thế đặc thù và được
pháp luật thừa nhận, các tập đoàn KTTN đều mang một cái tên không chính danh
H
thuộc KTTN với tỷ lệ chiếm gần 30% trong top 500 DN lớn nhất Việt Nam năm
IN
2009 so với tỷ lệ 28% so với năm 2008.
K
Có thể thấy rằng sự hình thành và phát triển của các DN trong KTTN ở Việt
Nam theo hướng tập đoàn kinh tế trong những năm gần đây là một tất yếu khách
O
̣C
quan, không có bất cứ một quyết định hành chính, chuyển đổi hoặc sắp xếp nào mà
̣I H
xuất phát từ chính nhu cầu và lợi ích của bản thân các DN. Bởi trong nền KTTT với
mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc hình thành các tập đoàn là xu hướng
Đ
A
rất cần thiết nhằm giảm chi phí giao dịch và rủi ro trong kinh doanh; phát huy lợi
thế nhờ quy mô; tạo sức cạnh tranh để thống lĩnh và chi phối thị trường trong những
không ở đâu có nhà nước phi kinh tế. Các hoạt động của Nhà nước (đại diện trực
TÊ
tiếp là Chính phủ) đều có thể tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các
hoạt động kinh tế; mặt khác, bất cứ nhà nước nào cũng đều có vai trò quản lý nền
H
kinh tế quốc dân thông qua các công cụ quản lý và thể chế, chính sách để điều khiển
IN
nền kinh tế tự thân vận động nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn và theo quỹ đạo đã
K
lựa chọn. Trước khi đổi mới, nền kinh tế nước ta được vận hành theo mô hình kinh
tế tập trung bao cấp, không thừa nhận sự tồn tại của SHTN, KTTN. Tuy nhiên, thực
O
̣C
tế cho thấy SHTN, KTTN trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp vẫn tồn
̣I H
tại và phát triển như mạch nước ngầm trong lòng đất không bao giờ cạn và thực sự
có những đóng góp quan trọng về hàng hoá cho sản xuất và tiêu dùng cho xã hội.
hỏi phải hình thành một cơ chế có khả năng kích thích con người lao động SXKD,
́H
luôn nỗ lực tối đa để tìm kiếm lợi nhuận làm giàu cho bản thân, gia đình và cho xã
hội. Đó chính là cơ chế thị trường cùng với sự tồn tại khách quan của các hình thức
TÊ
sở hữu đa dạng, trong đó, SHTN và tương ứng với nó là thành phần KTTN được coi
là động lực quan trọng của sự phát triển của các cá nhân trong xã hội.
H
Nhận thức được điều đó, Chính phủ Việt Nam đã chú trọng đến việc cải
IN
thiện môi trường thể chế chính sách nhằm tạo điều kiện cho KTTN phát triển. Cụ
K
thể, đến thời kỳ 1991 – 2000, khung luật pháp cho mọi loại hình DN đã hình thành,
quan trọng nhất là Luật công ty và doanh nghiệp tư nhân (1991); Luật khuyến khích
O
̣C