PHẦN I
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội (KT-XH) của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Thực hiện chủ trương của Đảng
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn, trong
Ế
những năm gần đây bộ mặt nông thôn nước ta đã có những đổi thay lớn, đời sống của
U
người nông dân ở mọi địa phương trên cả nước đã được nâng cao không ngừng, cả về
́H
vật chất, văn hóa và tinh thần. Tuy nhiên, những chuyển biến phức tạp của nền kinh
TÊ
tế: cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới lan tràn đã ảnh hưởng đến mọi quốc
gia; nền nông nghiệp lạc hậu, trình độ sản xuất và phân công lao động xã hội kém phát
H
triển, dân số tăng nhanh đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, trở lực và thách thức, việc làm
IN
trở thành vấn đề “nóng” đặt ra cho xã hội những yêu cầu cần quan tâm giải quyết.
lao động nông thôn trên địa bàn huyện Đức Thọ.
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng việc làm cho lao động nông thôn trong thời gian qua để
tìm ra các giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa
bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề việc làm cho người lao động.
Ế
- Phân tích đánh giá thực trạng việc làm trên địa bàn huyện Đức Thọ từ năm
U
2006 - 2010.
́H
- Đề xuất những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết
việc làm cho lao động nông thôn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh có hiệu quả trong
TÊ
thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng một số phương pháp sau:
4.1. Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu
Nguồn số liệu thứ cấp:
- Thu thập từ các số liệu đã công bố như niên giám thống kê các năm 20062010 của huyện Đức Thọ, các báo cáo, tài liệu của các cơ quan, các cấp chính
quyền huyện Đức Thọ... và tài liệu ở các xã có mẫu điều tra.
2
- Các thông tin, bài viết từ các tạp chí, báo, tài liệu và các trang web liên quan
đến vấn đề lao động, việc làm.
Nguồn số liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu thông qua
phương thức phỏng vấn trực tiếp đối tượng được phỏng vấn bằng phiếu điều tra.
Quá trình điều tra tác giả đã chọn ra 3 xã đại diện cho 3 vùng kinh tế:
Xã Đức Lạng đại diện cho vùng đồi núi - bán sơn địa.
Xã Trường Sơn đại diện cho vùng đất phù sa.
Ế
Xã Đức Lâm đại diện cho vùng lúa.
O
̣C
khảo để lấy ý kiến của các đối tượng bổ sung dữ liệu cho quá trình nghiên cứu.
̣I H
thống kê kết hợp phân tích nhằm đưa ra những đánh giá định tính về mức độ, xu
hướng, tính chất và quan hệ giữa các biến số. Phương pháp này sử dụng phần mềm
Đ
A
hỗ trợ Excel.
+ Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp
thống kê kinh tế, phương pháp xã hội học…
5. Những đóng góp của luận văn
- Góp phần làm sâu sắc cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề việc làm và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng việc làm cho lao động nông thôn ở
huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, qua đó xác định nguyên nhân, thành công và hạn chế
của nó trong thời gian qua.
3
̣I H
O
̣C
K
IN
H
nông thôn ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
4
PHẦN II
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
Ế
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM VÀ VIỆC LÀM CHO
U
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
̣I H
thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem
ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó [1, tr. 41] ”.
Đ
A
Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động còn lao động là sự tiêu dùng
sức lao động trong hiện thực, thông qua quá trình lao động con người tích lũy được
kinh nghiệm sản xuất, làm giàu tri thức của mình, hoàn thiện cả thể lực và trí lực.
Theo C.Mác: “ Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ
thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi
giới cho sự trao đổi giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của
con người [6, tr. 61] ”.
Ph.Ăngghen khẳng định rằng: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải. Lao
động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho
5
lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì đó vô cùng lớn
lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài
người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: “lao
động đã sáng tạo ra bản thân con người [7, tr.641]”.
Vì vậy, theo nghĩa chung nhất thì “lao động chính là hoạt động có mục đích,
có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu
của con người, hoạt động lao động không những biến đổi tự nhiên mà còn hoàn
̣C
mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ
O
thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp, và thu nhập của dân cư thấp hơn thành thị.
̣I H
+ Những đặc trưng cơ bản của nông thôn:
“Nông thôn là một phân hệ xã hội đặc thù với những đặc trưng cơ bản:
Đ
A
(i), chủ thể đại diện của nó là những người nông dân (họ chiếm đa số trong
dân số của tiểu khu vực xã hội này), gắn chặt với hoạt động truyền thống là
hoạt động sản xuất nông nghiệp; (ii), bao gồm những tụ điểm quần cư thường
có qui mô nhỏ về mặt số lượng; (iii), mật độ dân cư thấp; (iv), ở nông thôn có
một môi trường tự nhiên ưu trội; (v), nông thôn có một lối sống đặc thù - lối
sống nông thôn; (vi), có tính cố kết cộng đồng cao; (vii), cung cách ứng xử xã
hội nặng về tục lệ nhiều hơn là tính pháp lý; (viii), văn hóa nông thôn - một
loại hình văn hóa đặc thù mang đậm nét dân gian, nét truyền thống dân tộc [5,
tr 154]”.
6
IN
Thứ ba: Lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp. Sản xuất
K
nông nghiệp có nhiều việc gồm các khâu với các tính chất khác nhau. Hơn nữa việc
áp dụng máy móc thiết bị vào sản xuất còn thấp vì thế mà sản xuất nông nghiệp chỉ
̣C
đòi hỏi về sức khỏe, sự lành nghề và kinh nghiệm. Mỗi lao động có thể đảm nhận
O
nhiều công việc khác nhau nên lao động nông thôn ít chuyên sâu hơn lao động trong
̣I H
các ngành công nghiệp và một số ngành khác. Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông
nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh
Đ
A
nghiệm và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công cụ lao động cũng thô sơ,
mang tính tự chế cao. Lực lượng lao động chuyên sâu, lành nghề, lao động chất xám
không đáng kể, phân bố lao động không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất lao động
thấp, khó khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất.
- Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp. Điều này
nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “việc làm là gì?”. Ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng
của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về
H
việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát
IN
nhất về việc làm.
+ Tại điều 13, chương II trong Bộ luật lao động của nước Cộng hòa Xã hội
K
chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ: “Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
̣C
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm [4, tr. 42]”.
O
+ Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao
̣I H
động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.
Cũng có thể hiểu: “Việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật
́H
- Hạn chế thứ hai: Khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa các quốc gia
với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc
TÊ
vào luật pháp, phong tục tập quán… Có những nghề ở quốc gia này thì được cho
phép và được coi đó là việc làm nhưng ở quốc gia khác lại bị cấm. Ví dụ: đánh bạc
H
ở Việt Nam bị cấm nhưng ở Thái Lan, Mỹ đó lại đựơc coi là một nghề thậm chí là
IN
rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu.
K
Như vậy, một hoạt động được xem xét có phải là việc làm hay không phải là
việc làm chủ yếu dựa trên tính hợp pháp của hoạt động đó. Từ khái niệm trên một
O
̣C
hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:
Ế
công việc chính.
U
* Phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động
́H
+ Việc làm đầy đủ: Với cách hiểu chung nhất là người có việc làm là người
đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân
TÊ
và gia điình mà không bị pháp luật ngăn cấm. Tuy nhiên việc xác định số người có
việc làm theo khái niệm trên chưa phản ánh trung thực trình độ sử dụng lao động xã
H
hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm. Trên thực tế nhiều người lao
IN
động đang có việc làm nhưng chỉ làm việc nửa ngày, việc làm có năng suất thấp thu
K
nhập cũng thấp. Đây chính là sự không hợp lý trong khái niệm người có việc làm
và cần được bổ sung với ý nghĩa đầy đủ của nó đó là việc làm đầy đủ .
hoặc thất nghiệp trá hình là hiện tượng người lao động có việc làm ít hơn mức mà
mình mong muốn [19, tr. 17]”.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khái niệm thiếu việc làm được biểu
hiện dưới hai dạng sau:
- Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm làm đủ thời gian,
thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao
động thấp điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động
U
Ế
thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn.
Thu nhập thực tế
K=
́H
Thước đo của thiếu việc làm vô hình là:
x 100%
TÊ
Mức lương tối thiểu hiện hành
- Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời
Đ
A
Theo Samuelson - nhà kinh tế học thuộc trường phái hiện đại cho rằng: “Thất
nghiệp là những người không có việc làm, nhưng đang tìm việc làm [9, tr. 279]”.
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Thất nghiệp là tình trạng
tồn tại khi số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không tìm được
việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành.
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dần đối tượng của thất nghiệp: “là những người
trong độ tuổi lao động, có sức khỏe, hiện đang chưa có việc làm nhưng đang tích
cực tìm kiếm hoặc đang chờ đợi trở lại làm việc [10, tr. 381]”. Khái niệm trên có
tính quy ước thống kê và có thể khác nhau giữa các quốc gia
11
Ở nước ta, theo khái niệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: “Người
bị coi là thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh
tế, hiện tại đang đi tìm việc làm hay không đi tìm việc làm do không biết đi tìm việc
ở đâu; và những người trong tuần lễ trước thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc
dưới 8 giờ, có mong muốn sẵn sàng làm thêm giờ nhưng không tìm ra việc [3,
tr.142]”.
Thất nghiệp được chia thành nhiều loại:
Ế
- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do di chuyển không ngừng của sức lao động
O
ngày có dăng ký thất nghiệp hoặc thời điểm điều tra trở về trước.
̣I H
Thất nghiệp ngắn hạn là thất nghiệp dưới 12 tháng trở xuống tính từ thời
điểm đăng ký thất nghiệp hoặc thời điểm điều tra trở về trước.
Đ
A
1.1.7. Vai trò của việc làm
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối
với cá nhân cũng như toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi xuyên suốt trong các
hoạt động kinh tế đồng thời có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi
phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Đối với cá nhân thì việc làm đi đôi với thu nhập để nuôi sống bản thân mình,
ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân. Việc làm ngày nay
gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy
12
những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng
đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng…), vào những nhóm
người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hóa thấp…).
Không có việc làm dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao
trình độ kỹ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có.
Qua đó có thể thấy, giải quyết việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với người
̣C
lao động đặc biệt là đối tượng lao động nông thôn. Tại nhiều làng quê, vấn đề dư
O
thừa lao động trở nên đáng báo động. Tình trạng thanh niên ở các làng quê không
̣I H
có việc làm thường xuyên chơi bời, lêu lổng, dẫn đến sa ngã vào tệ nạn xã hội;
nhiều thanh niên phải rời bỏ làng quê lên thành phố vất vưởng tìm việc làm thuê;
Đ
A
nhiều làng nghề truyền thống ngày càng bị mai một, đẩy nhiều lao động nông thôn
đến tình cảnh thất nghiệp... Không có việc làm hoặc việc làm bấp bênh, năng suất
lao động thấp, hiệu quả sản xuất kém, dẫn đến thu nhập không ổn định, khiến cho
việc đầu tư tái sản xuất ở khu vực nông thôn gặp nhiều khó khăn.
Tạo việc làm cho người lao động là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, nó thể
hiện vai trò của xã hội đối với người lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sống
vật chất và tinh thần của người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và hạn chế được
những phát sinh tiêu cực cho xã hội do thiếu việc làm gây ra.
13
hoạt động sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - ngư nghiệp và các mặt hàng nhu yếu
IN
phẩm cho đời sống dân cư nông thôn, là khu thu hút đáng kể lao động nông thôn và
K
tạo ra thu nhập cao cho lao động.
Ở nông thôn, có một lượng lớn công việc không định trước được thời gian
O
̣C
như: Trông nhà, trông con, cháu, nội trợ, làm vườn… có tác dụng hỗ trợ tích cực
̣I H
trong việc tăng thêm thu nhập cho gia đình. Thực chất đây cũng là việc làm có khả
năng tạo thu nhập và lợi ích đáng kể cho người lao động.
Đ
A
Tóm lại, sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực tạo việc làm truyền thống và thu
hút nhiều lao động của nông dân tại các vùng nông thôn, nhưng diện tích đất đai
canh tác giảm đã hạn chế khả năng giải quyết việc làm trong nông thôn. Hiện nay,
những việc làm trong nông thôn chủ yếu là những công việc đơn giản, thủ công, ít
TÊ
Việc làm phi nông nghiệp là những công việc được thực hiện ở khu vực
nông thôn bao gồm những ngành nghề ngoài nông nghiệp chẳng hạn như: sơ chế,
H
chế biến các sản phẩm nông, lâm, thủy sản, các hoạt động gia công cơ khí, sữa chữa
IN
các vật tư nông nghiệp, các hoạt động vận tải và dịch vụ có liên quan, sản xuất đồ
K
gỗ, gốm sứ, đồ thủ công mỹ nghệ...
So với việc làm thuần nông, việc làm phi nông nghiệp thường đưa lại thu
̣C
nhập cao và khá ổn định, tận dụng tối đa sức lao động xã hội. Mặt khác, do yêu cầu
O
của công việc người lao động làm việc trong các ngành nghề này ít nhiều phải có
̣I H
tay nghề và đòi hỏi tay nghề ngày càng cao.
U
thiên nhiên rất đa dạng và phong phú, là nguồn của cải vật chất nguyên khai, được
́H
hình thành và phát triển trong tự nhiên như đất đai, nước, rừng, khoáng sản… và là
dạng hàng hóa đặc biệt bởi chúng không phải đi qua quá trình sản xuất.
TÊ
Tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động sản xuất và là
một trong những căn cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế
H
của mỗi quốc gia, đồng thời góp phần phân công lại lực lượng lao động xã hội để
IN
khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm phát triển KT-XH của mỗi
K
quốc gia.
- Khí hậu, đất đai, địa hình thủy văn cũng ảnh hưởng rất lớn đến các ngành
O
quả thì sẽ làm tăng sức sản xuất của đất đai, từ đó làm tăng năng suất của cây trồng vật
nuôi. Nếu đất đai sử dụng một cách manh mún, phân tán không những gây khó khăn
Ế
cho sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng tới việc làm của lao động nông thôn. Bên
U
cạnh đó, do tính chất công việc, thời tiết không thuận lợi sẽ làm cho thời gian nông nhàn
ở nông thôn tăng cao. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc làm của lao động nông thôn.
́H
1.2.2. Dân số và lao động
TÊ
Dân số và lao động là những yếu tố vận động theo những quy luật khác nhau
trong quá trình tái sản xuất xã hội nhưng lại có quan hệ hữu cơ với nhau. Một trong
H
những mối quan hệ quan trọng giữa dân số và lao động là vấn đề tăng trưởng lao
IN
động và cơ hội tạo việc làm phù hợp. Sự gia tăng dân số quá nhanh đồng nghĩa với
K
17
Nhân tố này tác động có tính chất hai mặt của nó. Nếu quá trình di dân phát
triển vùng kinh tế mới một cách có tổ chức của chính phủ, nhà nước thì nó sẽ góp
phần quan trọng đến điều chỉnh phân bố dân cư, khai thác mọi tiềm năng lợi thế
của đất nước để phát triển KT-XH, giải quyết việc làm cho lao động. Ngược lại
nếu quá trình di dân, du canh du cư mang tính chất tự phát bùng nổ không thể kểm
soát được thì nó sẽ là nhân tố ảnh hưởng trở ngại đến quá trình phát triển KT-XH.
Làm cho các vấn đề khác liên quan đến di dân tự do như: vấn đề nhà ở, vấn đề an
Ế
ninh trật tự, vấn đề đất đai sẽ bị đảo lộn và khó kiểm soát, ảnh hưởng đến sự phát
U
triển kinh tế xã hội. Thực tế cho thấy hằng năm dòng người di dân lên các thành
́H
phố lớn để tìm việc làm, dân cư di dân để tìm đất canh tác đã ảnh hưởng đến nhà
ở, an ninh, đảm bảo trật tự đô thị xã hội, vấn đề việc làm không ổn định chỉ mang
TÊ
tính chất thời vụ. Do vậy, trong quá trình phát triển kinh tế, giải quyết việc làm
cho lao động cần quan tâm đến sự ảnh hưởng tác động của nhân tố này để có
H
1.2.4. Vốn đầu tư, cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ trong
sản xuất nông nghiệp
Vốn là nhân tố quan trọng để đầu tư mở rộng sản xuất. Trong nông thôn, vốn
bình quân trên đầu người không cao, ngoài ra phần lớn các hộ dân đều có vay thêm
từ các nguồn khác nhau như tư nhân, tập thể, hệ thống Ngân hàng Nhà nước, các
18
Đoàn thể xã hội. Vốn được đầu tư vào sản xuất và dùng vào mục đích khác như nhu
cầu sinh sống trước mắt. Nếu vốn được sử dụng có hiệu quả sẽ tạo được nhiều việc
làm và tăng thu nhập.
Hiện nay vốn ở nông thôn đặc biệt thiếu nghiêm trọng. Tình hình các nhà
đầu tư chỉ chú trọng vào các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ sớm mang lại lợi nhuận.
Còn sự tác động trực tiếp của vốn vào lĩnh vực nông nghiệp còn nhiều hạn chế.
Lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chủ yếu dựa vào các chương trình của Nhà nước,
Ế
chưa tập hợp được mọi nguồn lực trong các thành phần kinh tế chung sức làm thay
U
đổi kinh tế nông nghiệp nông thôn.
́H
Thêm vào đó, muốn có việc làm với năng suất lao động và thu nhập cao thì phải
có kỹ thuật máy móc thiết bị công cụ lao động, công nghệ tiên tiến. Việc sử dụng
A
sản xuất kinh doanh không chỉ có tác dụng làm chuyển biến kinh tế nông nghiệp
nông thôn, mà còn mở ra nhiều cơ hội tìm việc làm và tạo việc làm tăng thu nhập.
1.2.5. Các chính sách của nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn
Chính sách Nhà nước là các công cụ nhằm định hướng điều tiết KT-XH. Nếu
có những chính sách phù hợp thì mang lại hiệu quả to lớn đối với phát triển KT-XH.
Trong đó chính sách nông nghiệp nông thôn là một tổng thể các biện pháp kinh tế,
hoặc phi kinh tế của Nhà nước, có liên quan đến nông nghiệp và các ngành có liên
quan đến nông nghiệp, nông thôn nhằm tác động vào nông nghiệp nông thôn theo
những mục tiêu nhất định, trong một thời hạn nhất định.
19
Chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò quan trọng và là yếu
tố bao trùm có tác động mạnh mẽ, đảm bảo sự thành công của chiến lược phát triển
KT-XH nông thôn. Chính sách đúng sẽ tạo cho người nông dân tham gia tích cực
vào phát triển sản xuất, mở rộng kinh doanh, từ đó tạo ra nhiều việc làm có thu nhập
và thu nhập cao.
1.2.6. Nhu cầu của lao động và thị trường lao động
Có thể nói nhu cầu học nghề đang rất lớn nhưng thực tế, nhiều bộ, ngành, các
Ế
cấp và cả người lao động cũng chưa nhận thức, chưa thực sự quan tâm tới việc học
U
nghề. Trong khi đó, các cơ chế, chính sách về dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông
tuyển dụng, lao động sau khi học xong nghề đều có việc làm tương đối ổn định, có
̣I H
cơ hội phát triển nghề nghiệp mà mình đã chọn.
Ngoài ra còn nhiều yếu tố tác động đến chính sách việc làm cho lao động
Đ
A
nông thôn như: cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học, đội
ngũ quản lý và giảng viên dạy nghề…
1.3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
Ở nước ta, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức xúc liên quan
đến việc làm và chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Đây là tiền
đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần tích cực vào sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
20
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi
quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như
Việt Nam. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ
trương, đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình
CNH, HĐH tạo nhiều việc làm cho người lao động. Qua đó, giảm được tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập
quyết việc làm tại chỗ với phân bố lại lao động theo lãnh thổ, xây dựng các khu
kinh tế mới, hình thành các cụm kinh tế - kỹ thuật, dịch vụ nhỏ ở nông thôn, ở các
̣C
thị trấn, thị tứ, đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động, đa dạng hóa việc làm có thu
O
nhập để thu hút lao động [12, tr.76]”.
̣I H
Đặc biệt từ ngày 1/1/1995, Bộ luật lao động đầu tiên của nước ta bắt đầu có
hiệu lực, quan điểm chủ trương, chính sách và cơ chế về vấn đề việc làm của Đảng
Đ
A
được thể chế hóa một cách có hệ thống, đồng bộ; tạo ra hành lang pháp lý để phát
triển việc làm trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996), vấn đề việc làm trong cơ
chế thị trường đã được nhận thức rõ hơn. Đại hội xác định: “Nhà nước đầu tư tạo
thêm chỗ làm việc và tạo điều kiện cho mọi người tự mình và giúp đỡ người khác
tạo việc làm [13, tr.114]”. Lần đầu tiên, những phác thảo quan trọng của thị trường
lao động định hướng xã hội chủ nghĩa đã được vạch rõ: “Mọi công dân đều được tự
do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật, phát triển dịch vụ việc làm [13,
tr.15]”.
nông nghiệp, nông dân và nông thôn xác định: Giải quyết việc làm cho nông dân là
IN
nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế - xã hội của
cả nước; bảo đảm hài hòa giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các
K
vùng, giữa nông thôn và thành thị. Có kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính
̣C
sách bảo đảm việc làm cho nông dân, nhất là ở các vùng chuyển đổi mục đích sử
O
dụng đất. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông thôn… Hình thành Chương trình
̣I H
mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm hằng năm
đào tạo khoảng một triệu lao động nông thôn; phấn đấu đến năm 2020 lao động
Đ
A
nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo
đạt trên 50%.
TÊ
sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao
chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
H
nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho
IN
lao động nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội
học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện
K
để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
̣C
Thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định
O
1956/QĐ-TTg, trong năm qua Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ động phối
̣I H
hợp với các bộ, ngành triển khai một cách đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thực hiện
U
nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam.
́H
1.4. NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN VIỆT NAM
TÊ
Có nhiều thách thức đối với vấn đề việc làm cho lao động nông thôn Việt nam.
Việc giải quyết những thách thức này không thể thực hiện ngay trong một khoảng
H
thời gian ngắn, cũng không thể dựa vào từng hoạt động cụ thể của các cơ quan, tổ
IN
chức độc lập. Nó đòi hỏi một chiến lược mang tính tổng thể, dài hạn với sự phối
K
hợp chặt chẽ giữa nhiều bộ, ngành. Chính vì vậy, làm rõ những hạn chế đối với vấn
đề lao động, việc làm tại khu vực nông thôn sẽ là cơ sở quan trọng cho việc xây
̣C
dựng chiến lược việc làm giai đoạn 2010-2020.
coi là tương đối hoàn chỉnh để phát triển một thị trường lao động năng động, hiệu
quả nhưng trên thực thế như nhiều hệ thống chính sách xã hội khác ở Việt Nam, các
chính sách về lao động việc làm vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế đôi khi cản
Ế
trở trực tiếp tới việc phát triển thị trường lao động.
U
Thiếu kỹ năng lao động là một trong những hạn chế lớn nhất của lực lượng lao
́H
động. Hạn chế này không chỉ giảm khả năng chuyển dịch lao động mà còn ảnh
TÊ
hưởng tới việc tăng năng suất lao động. Do đó, có rất nhiều các chính sách liên quan
tới dạy nghề đã ra đời, đặc biệt là Luật dạy nghề. Tuy nhiên, vẫn còn một số nội
H
dung của Luật cho đến nay chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện.
IN
Hệ thống chính sách dạy nghề và tạo việc làm tuy đa dạng nhưng lại đang bộ
lộc những sự chồng chéo nhất định từ khâu thiết kế, thực hiện, quản lý… thậm chí