Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn tỉnh bình định - Pdf 25

Đ TI: GII PHP TO VIC LM CHO LAO ĐNG NÔNG
THÔN TNH BNH ĐNH
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp, thiếu việc làm đang là mối lo hàng đầu của các quốc
gia, số người thất nghiệp trên toàn thế giới đạt đến mức kỷ lục, tăng từ
190 triệu năm 2007 lên 210 triệu vào cuối năm 2009. Vì vậy giải quyết
việc làm, là một trong những chính sách quan trọng, nó có tác động
không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội
của mỗi quốc gia.
Nước ta, một nước đang phát triển với nguồn lao động còn rất
dồi dào và tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn với 71,1% tổng lực
lượng lao động cả nước. Thế nhưng, tồn tại một thực tế đối với lao động
nông thôn hiện nay là thị trường lao động tại khu vực này chưa thật sự
phát triển, chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, năng
suất lao động và hiệu quả sản xuất thấp, phương thức sản xuất lạc hậu.
Bên cạnh đó tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn còn cao đang kìm hãm
quá trình vận động và phát triển của đất nước. So sánh với năm 2009, tỷ
lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất nghiệp thành thị giảm 0,17%
trong khi thất nghiệp ở nông thôn lại tăng 0,02%. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao
động thiếu việc làm năm 2010 của lao động trong độ tuổi của là 4,5%;
trong đó khu vực thành thị là 2,04%, khu vực nông thôn là 5,47%. Vì
vậy giải quyết việc làm là giải quyết một vấn đề cấp thiết trong xã hội,
một mặt nhằm phát huy tiềm năng của lao động, nguồn lực to lớn của
đất nước, cho sự phát triển kinh tế xã hội. Mặt khác, là hướng để xóa đói
1
giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động góp
phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn
xã hội, là động lực mạnh mẽ cho CNH - HĐH đất nước.
Huyện Hoài Ân những năm qua có nền kinh tế tăng trưởng với

tạo việc làm
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm của lao động nông thôn
trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm, góp phần
tăng thu nhập cho lao động nông thôn huyện Hoài Ân.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về lao động việc
làm, nhu cầu việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hoài
Ân, tỉnh Bình Định.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Nội dung liên quan đến vấn đề việc làm
và tạo việc làm cho người lao động nông thôn trong khoảng thời gian
2009 - 2011. Nội dung nghiên cứu về việc làm là rất rộng nên luận văn
chỉ tập trung nghiên cứu về các giải pháp tạo việc làm cho người lao
động nông thôn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Về không gian nghiên cứu trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh
Bình Định
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu từ năm 2009 - 2011, số liệu sơ
cấp được thu thập năm 2012.
1.5. Cấu trúc khóa luận
Nội dung của khóa luận bao gồm 5 chương:
Chương 1. Mở đầu.
Chương 2. Tổng quan.
Chương 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu.
3
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5. Kết luận.
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Điều kiện tự nhiên

hình phức tạp, dốc, chia cắt bởi nhiều khe suối.
- Vùng đồng bằng thung lũng: Chiếm khoảng 25% diện tích tự
nhiên, nằm ở phía Đông, phía Bắc và trung tâm của huyện. Đây là
vùng sản xuất nông nghiệp chính của huyện.
2.1.2. Thời tiết khí hậu
- Khí hậu của huyện trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa nắng
từ tháng 2 đến tháng 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Mùa
mưa thường gây ra ngập úng, mùa nắng khô hanh gây nhiều bất thuận
cho phát triển nông nghiệp.
- Nhiệt độ bình quân trong năm trên 26
0
C.
- Nhiệt độ tối cao trong năm 37
0
- 40
0
C, thường vào tháng 4 cho
đến tháng 7 trong năm. Nhiệt độ tối thấp trong năm 19
0
- 20
0
C vào các
tháng 11, 12 và tháng 1 năm sau.
- Số giờ nắng trung bình các tháng 36 - 43 giờ/tháng. Ẩm độ
trung bình không khí giữa các tháng trong năm khoảng từ 84,3% - 85,4 %.
- Tổng lượng mưa 2.200mm trở lên, nhưng phân bố không đều,
thường tập trung vào tháng 9 đến tháng 12.
Nhìn chung, điều kiện thời tiết - khí hậu rất thuận lợi cho việc
phát triển và sản xuất nông nghiệp ở địa phương nhất là cây lúa và cây
hàng năm. Mùa mưa thường gây ra ngập úng cho nên cần có những biện

Tiềm năng đất của huyện Hoài Ân còn khá lớn, còn 13.884,75 ha
chưa sử dụng. Đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm từ năm 2010
là 12.572,77 chiếm 22,71% so với tổng diện tích đất nông nghiệp vì sản
6
xuất nông nghiệp chưa đáp ứng đủ nhu cầu về thu nhập nên lao động
đang dần chuyển sang sản xuất phi nông nghiệp.
2.1.3.2. Tài nguyên nước
Huyện Hoài Ân là vùng bán sơn địa nên địa hình đa dạng, đồi núi
xen kẽ với đồng bằng, thung lũng. Trên địa bàn huyện có 2 sông lớn là
Kim Sơn (62km) và An Lão (20 km). Hai dòng sông này chảy quanh co,
uốn lượn nên đã hình thành các bãi bồi và các cánh đồng màu mỡ phù sa
trên địa bàn huyện. Hệ thống sông suối ở Hoài Ân chia cắt mạnh địa
hình, gây khó khăn cho việc giao lưu giữa các vùng, nhất là vào mùa
mưa, song đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước
tưới, bồi đắp phù sa, điều hòa khí hậu để phát triển kinh tế của dân cư
trên địa bàn.
2.1.3.3. Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của huyện khá lớn với 42.991,52 ha
chiếm 57,70% diện tích đất tự nhiên toàn huyện. Diện tích rừng sản xuất
là 21.540,96 vào năm 2011, chiếm 28,91% so với tổng diện tích đất tự
nhiên, nhưng chiếm đến 50,11% so với đất lâm nghiệp huyện. Đây là
tiềm năng rất lớn giúp cho người dân tăng thêm thu nhập từ việc trồng
các loại cây dài ngày, xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp đem lại
thu nhập cao. Tuy nhiên những năm gần đây tình trạng khai thác rừng
bừa bãi trên địa bàn huyện nhất là ở các xã Ân Hảo Đông, Ân Tường
Đông ngày càng gia tăng, làm cho nguy cơ thiệt hại về một số rừng đầu
nguồn, rừng phòng hộ là rất lớn dẫn đến nguy cơ lũ lụt, xói mòn đất diễn
ra. Cần có nhiều biện pháp để ngăn chặn tình trạng này như tăng cường
công tác kiểm tra, kiểm soát rừng, nâng cao chất lượng đội ngủ cán bộ
kiểm lâm. Giao rừng cho nhân dân trồng và chăm sóc vừa tạo việc làm,

mùa mưa thì ngập úng, lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng đến đời sống
của người dân. Bên cạnh đó, mùa khô kéo dài, nhiều nơi cây trồng thiếu
nước nghiêm trọng, độ ẩm trong không khí tương đối thấp nên dể gây
cháy rừng trong những ngày nắng nóng.
8
2.2. Điều kiện kinh tế xã hội
2.2.1. Tình hình dân số và lao động
Theo điều tra dân số toàn huyện năm 2011 là 84.750 người
(thống kê năm 2011), tăng 1% so với năm 2010, mật độ dân số toàn
huyện là 113 người/km
2
. Trong đó, người kinh là 82.511 người, chiếm
97,34%, người Hê Rê, Ba Na là 2,66 người.
Với lực lượng lao động là 58.438 người chiếm 70,13% tổng dân
số huyện. Khu vực nông thôn là 54.037 người chiếm 92,47% lực lượng
lao động toàn huyện. Tuy nhiên, đa số thu nhập không cao, đời sống của
người lao động còn gặp nhiều khó khăn vì công việc không ổn định,
mang tính thời vụ nên thời gian làm việc không được tận dụng tối đa.
2.2.2. Cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của Hoài Ân đã
đạt 11,3%, riêng năm 2011 là 15,5%. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển
dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại -
dịch vụ. Nếu năm 2005, nông - lâm nghiệp - thủy sản chiếm 63,4%,
công nghiệp - xây dựng chiếm 14%, thương mại - dịch vụ chiếm 22,6%;
thì đến năm 2011, con số tương ứng là 57,8 - 16 - 25,8%. Thu nhập bình
quân đầu người năm 2011 đạt 11 triệu đồng/năm, tăng gần 2,5 lần so với
năm 2005 nhưng vẫn chưa xứng tầm với điều kiện kinh tế của huyện.
2.2.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật
2.2.3.1. Giao thông
Mặc dù là huyện trung du, không nằm trên trục quốc lộ 1A,

chứa nước Vạn Hội có năng lực tưới 1.300ha.
2.2.3.3. Khoa học công nghệ
Công tác đầu tư, chuyển giao công nghệ và ứng dụng các tiến bộ
về khoa học kỹ thuật vào đổi mới phương thức sản xuất kinh doanh, tổ
chức quản lý nhằm tăng năng suất, cải thiện và nâng cao chất lượng
cuộc sống đã được quan tâm hơn. Chính vì vậy, nhiều dự án với mục
tiêu chuyển giao công nghệ, hổ trợ khoa học, xây dựng mô hình ứng
dụng khoa học công nghệ đã được triển khai trên địa bàn huyện.
10
2.2.3.4. Dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm
Địa bàn huyện đã có 1 trạm khuyến nông và mỗi xã có một
khuyến nông viên.
Trạm khuyến nông huyện đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến các
tiến bộ khoa học kỹ thuật, thông tin về thị trường giá cả, các gương điển
hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh, phát triển nông lâm nghiệp,
thủy sản. Hướng dẫn và cung cấp thông tin đến người sản xuất bằng
nhiều hình thức như thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tổ
chức hội nghị, hội thảo, hội thi và các hình thức thông tin tuyên truyền
khác.
Đã tổ chức bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề cho người sản
xuất, tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm để nâng cao kiến thức, kỹ
năng sản xuất, quản lý kinh tế trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, thủy
sản.
2.2.3.5. Thương mại, dịch vụ
Hệ thống chợ nông thôn được quan tâm và đầu tư cải tạo nâng
cấp và xây mới, cơ sở giao lưu buôn bán được mở rộng, sản xuất hàng
hóa phát triển. Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ như: Ăn uống công
cộng, kinh tế văn phòng phẩm, cơ khí, phát triển đa dạng. Ngoài ra,
nhà hàng, nhà nghĩ, khách sạn cũng bắt đầu phát triển.
2.2.4. Đời sống văn hóa tinh thần

Trung học cơ sở
Trường học 9 10 10 111,11 100 105,56
Lớp học 184 172 155 93,48 90,12 91,8
Giáo viên 298 286 287 95,97 100,35 98,16
Học sinh 7.327 6.642 5.999 90,65 90,32 90,49
Trung học
Trường học 4 4 4 100 100 100
Lớp học 104 101 108 97,12 106,93 102,02
Giáo viên 130 147 157 113,08 106,80 109,94
Học sinh 4.748 4.761 4.487 100,27 94,24 97,26
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Hoài Ân).
Đến năm 2010, toàn huyện đã có 33 trường học. Trong đó, có 19
trường tiểu học, 10 trường trung học cơ sở, 4 trường trung học phổ
thông với tổng số giáo viên là 837 giáo viên. Tỉ lệ học sinh trong độ tuổi
đến trường đạt 96%. Thực hiện chủ trương kiên cố hóa trường học, toàn
huyện đã đạt 15/15 xã, thị trấn có trường học cao tầng với tổng số 297
lớp học.
12
2.2.4.2. Y tế
Y tế huyện được xây dựng và duy trì hoạt động từ huyện đến xã,
sức khỏe của nhân dân luôn được quan tâm và chữa trị kịp thời. Toàn
huyện có 1 bệnh viện đa khoa, số lượng bác sĩ ngày càng tăng thêm,
năm 2011 có 27 bác sĩ, y sĩ là 96 với 149 giường bệnh. Công tác bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe cho người dân từng bước được mở rộng và nâng cao
chất lượng. Các chương trình mục tiêu y tế Quốc gia, công tác phòng
bệnh, chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, … được thực hiện có
hiệu quả; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác khám, chữa
bệnh ngày càng được quan tâm .
2.2.5. Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội
2.2.5.1. Thuận lợi

3.1.1.2.Khái niệm lao động nông thôn
Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và
hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn.
Lao động nông thôn có đặc điểm:
Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống
thấp. Điều này ảnh hưởng tới năng suất lao động và trình độ phát triển
kinh tế. Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận
thị trường thấp. Đặc điểm này cũng làm hạn chế việc tự tạo việc làm của
lao động. Lao động nông thôn Việt Nam còn mang nặng tư tưởng tiểu
14
nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng
động.
Tất cả những hạn chế trên cần được xem xét kỹ khi đưa ra những
giải pháp về việc làm cho lao động nông thôn.
3.1.2. Nguồn lao động và lực lượng lao động
3.1.2.1. Nguồn lao động
Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý
nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động, việc làm
trong xã hội.
Theo giáo trình kinh tế phát triển của trường Đại học Kinh tế
Quốc dân (2005): Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao
động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng
tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc
trong các ngành kinh tế quốc dân.
Bộ phận dân số trong độ tuổi lao động gồm những người từ 15 -
55 tuổi đối với nữ và 15 - 60 tuổi đối với nam. Người lao động luôn
được xem xét trên hai mặt là số lượng và chất lượng.
Số lượng lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động gồm: Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân
số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng thất nghiệp, đang

thuật khác nhau sẵn sàng tham gia trên thị trường lao động (phía người
lao động);
- Cầu lao động là khả năng thuê số lượng lao động của người sử
dụng lao động trên thị trường lao động với mức tiền lương, tiền công
tương ứng (phía người sử dụng lao động);
- Giá cả lao động là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức
lao động. Hình thức biểu hiện là mức tiền lương, tiền công do thị trường
quyết định;
- Các thể chế về quan hệ lao động: Xác định quyền và nghĩa vụ
các bên; chủ thể đại diện cho các bên; vai trò của Nhà nước trong việc
16
thể chế hóa, tổ chức, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của
các bên trong quan hệ lao động (hòa giải, trọng tài, tòa án lao động);
3.1.4. Việc làm
Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải
quyết việc làm là công việc của tất cả các quốc gia. Cuộc sống của bản
thân, gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ. Sự
tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả
của chính sách giải quyết việc làm.
Theo điều 13 Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã định nghĩa như sau: “Mọi hoạt động nhằm tạo ra thu nhập
và không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là việc làm”. Có thể nói
việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất,
là khâu cơ bản, cần thiết để tạo ra sản phẩm theo mục đích của mình.
3.1.4.1. Phân loại việc làm
- Phân loại việc làm dựa theo mức độ đầu tư cho việc làm:
+ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều
thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác;
+ Việc làm phụ là những việc làm mà người thực hiện dành nhiều
thời gian nhất sau công việc chính;

những người trong gia đình mình tổ chức để tạo ra thu nhập nhưng bản
thân không được hưởng tiền lương, tiền công;
3.1.4.3. Đặc điểm việc làm ở nông thôn
Lao động ở khu vực nông thôn phần lớn hoạt động trong nông
nghiệp. Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và chi phối mạnh
mẽ của quy luật sinh học và các điều kiện tự nhiên từng vùng như:
đất đai, khí hậu, thời tiết,… Quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao
thu hút lao động không đồng đều, việc làm chủ yếu chỉ tập trung tại
thời điểm gieo trồng và thu hoạch, thời kỳ còn lại là thời kỳ nông
18
nhàn. Trong thời kỳ nông nhàn một bộ phận lao động nông thôn
thường chuyển sang làm các công việc khác hoặc đi sang các địa
phương khác tìm việc để tăng thu nhập.
Tính dễ chia sẻ trong công việc: Việc làm trong nông thôn là
những công việc giản đơn thủ công, ít đòi hỏi tay nghề cao, tư liệu
sản xuất chủ yếu là đất đai và công cụ cầm tay, dễ học hỏi dễ chia sẻ.
Vì vậy khả năng thu dụng cao, nhưng sản phẩm có giá trị không lớn
nên thu nhập bình quân của lao động nông thôn không cao, tỷ lệ
nghèo ở nông thôn cao. Bên cạnh đó có một số bộ phần người lao
động ở nhà trông cháu, làm nội trợ, làm vườn,… có tác dụng tích cực
trong việc hổ trợ tăng thu nhập cho gia đình.
3.1.5. Thất nghiệp
Theo ILO: “ Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người
trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc
làm ở mức tiền công thịnh hành”.
Như vậy người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động trong tuần lễ điều tra không có việc làm nhưng có
nhu cầu tìm việc làm và có đăng ký tìm việc theo quy định.
Theo Bộ luật lao động nước ta: Thất nghiệp là khái niệm dùng để
chỉ những người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng lại

viên mới ra trường) không tìm được việc làm ưng ý nên đâm ra chán
nản không chịu đi làm mặc dù có rất nhiều công ty, xí nghiệp đang
tuyển dụng;
+ Trường hợp thất nghiệp do không có trình độ: Loại thất nghiệp
này chủ yếu xảy ra ở khu vực nông thôn, ở đó đa số thanh thiếu niên sau
khi học hết phổ thông thì ở nhà không muốn đi làm mà chỉ tụ tập chơi
bời, cuối cùng cũng dẫn tới thất nghiệp;
- Thất nghiệp do trình độ kĩ thuật:
20
Ở những vùng nông thôn Việt Nam trình độ học vấn chưa cao
nên khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật tiến bộ rất khó khăn (internet,
báo chí,…), chậm chạp trong thông tin nên khó có cơ hội tốt và từ đó họ
cũng có thể trở thành người thất nghiệp;
- Thất nghiệp do không tiếp cận được với nguồn vốn:
Ở nông thôn, đa số là những hộ nông dân có ruộng đất ít (khoảng
0,4 ha trên một hộ), một số ít có ruộng đất nhiều, do đó thu nhập từ
ruộng lúa không đủ để chi trả cho những chi phí hàng ngày và con cái.
Vì thế mà họ sống bằng nghề làm thuê, làm mướn. Có những hộ có lực
lượng lao động nhưng lại không có vốn để sản xuất kinh doanh vì thế
cũng thất nghiệp.
3.1.6. Thiếu việc làm
Khi nguồn lao động được huy động, sử dụng không hiệu quả thì
tình trạng thiếu việc làm xảy ra, dẫn đến thu nhập người lao động thấp.
Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội, thậm chí tạo ra
các xung đột nghiêm trọng ảnh hưởng đến an ninh chính trị. Chính vì
vậy mà việc tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảm
nghèo lại có ý nghĩa to lớn, được quan tâm ở tất cả các quốc gia, đặc
biệt là các nước đang phát triển.
3.1.6.1. Người thiếu việc làm
Bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên làm việc dưới 35 giờ 1

3.1.7. Khái niệm tạo về việc làm và việc làm mới
3.1.7.1. Tạo việc làm
“Tạo việc làm được hiểu là quá trình tạo ra số lượng và chất
lượng tư liệu sản xuất, số lượng, chất lượng sức lao động và các điều
kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động”
(Giáo trình kinh tế lao động của Khoa KTLĐ và Dân số - Trường Đại
học KTQD Hà Nội).
22
Tạo việc làm cho người lao động theo nghĩa chung nhất là đưa
người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao
động và tư liệu sản xuất nhằm tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu
của thị trường. Do đó để tạo việc làm cần:
- Tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất: Điều này phụ
thuộc vào vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất
và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó;
- Tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động: Số lượng lao động
phụ thuộc vào quy mô của dân số, các quy định về độ tuổi lao động và
sự di chuyển lao động. Chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển
của giáo dục đào tạo và sự phát triển y tế, thể thao và chăm sóc sức khỏe
cộng đồng;
- Hình thành môi trường cho sự kết hợp hai yếu tố sức lao động
và tư liệu sản xuất. Môi trường này bao gồm: Hệ thống chính sách phát
triển kinh tế xã hội, chính sách về khuyến khích và thu hút lao động,
chính sách bảo hộ sản xuất, trợ giúp thất nghiệp, thu hút và khuyến
khích đầu tư;
- Thực hiện các giải pháp nhằm duy trì việc làm ổn định và hiệu
quả cao như: Giải pháp về quản lý điều hành, về thị trường các yếu tố
đầu vào và đầu ra của sản xuất, các biện pháp khai thác có hiệu quả
nguồn lực, duy trì và nâng cao chất lượng của sức lao động, kinh
nghiệm quản lý của người sử dụng lao động;

nhập thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn.
3.2.2. Dư thừa lao động nông nghiệp ngày một gia tăng, trong khi
sản xuất nông nghiệp lại mang tính thời vụ nên tình trạng "nông
nhàn" trở nên đáng báo động
Sản xuất nông nghiệp luôn chiệu tác động và sự chi phối mạnh
mẽ của điều kiện tự nhiên của từng vùng, tiểu vùng như: Khí hậu, đất
đai, địa hình,… Do đó mà tính thời vụ trong nông nghiệp rất cao, thu hút
lao động không đều, trong trồng trọt lao động chủ yếu tập trung vào thời
24
điểm gieo trồng và thu hoạch, thời gian còn lại rỗi rãi, đó là thời gian lao
động “nông nhàn” trong nông thôn.
Trong thời gian nông nhàn, một số bộ phận lao động nông thôn
chuyển sang làm công việc phi nông nghiệp hoặc đi sang địa phương
khác để tăng thu nhập. Tình trạng thời gian nông nhàn cùng với thu
nhập thấp trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân đầu tiên gây nên
hiện tượng di chuyển lao động nông thôn từ vùng này đến vùng khác, từ
nông thôn lên thành thị, tạm thời hoặc lâu dài.
Việc làm ở nông thôn thường là những công việc đơn giản, thủ
công, ít đòi hỏi tay nghề cao, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và công
cụ cầm tay, dễ học hỏi, dễ chia sẽ. Vì vậy khả năng thu dụng lao động
cao, nhưng sản phẩm làm ra thường chất lượng thấp, mẫu mã thường
đơn điệu, năng suất lao động thấp nên thu nhập thấp, tỷ lệ nghèo đói ở
nông thôn còn khá cao so với khu vực thành thị.
Năm 2010, lao động nông nghiệp cả nước chiếm 52,63% tổng số
lao động, nhưng giá trị GDP được tạo ra từ ngành này lại thấp nhất
(19,02%). Ngược lại, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp là 29,31%
và trong ngành dịch vụ là 28,06%, nhưng tạo được giá trị GDP mỗi
ngành trên 40%. Điều đó chứng tỏ năng suất lao động ngành nông
nghiệp là rất thấp. Năm 2010 cả nước có 25,91 triệu lao động làm trong
ngành nông nghiệp, nhưng riêng khi vực nông thôn đã có 24,06 triệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status