Giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất ở huyện điện bàn, tỉnh quảng nam - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHÙNG HOÀNG VIỆT

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở
HUYỆN ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số

: 60.31.01.05

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng - Năm 2015


Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. BÙI QUANG BÌNH

Phản biện 1: GS. TS. Võ Xuân Tiến
Phản biện 2: TS. Lâm Minh Châu
.

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Kinh tế chuyên ngành Kinh tế phát triển họp tại
Đại học Đà Nẵng vào ngày 19 tháng 12 năm 2015.

40 khu dân cư đô thị được quy hoạch đầu tư xây dựng với tổng diện
tích hơn 1.117 ha, KCN Điện Nam - Điện Ngọc đã cơ bản lấp đầy
diện tích 390 ha với 49 dự án đầu tư, 11 cụm công nghiệp đã quy


2
hoạch chi tiết do huyện quản lý chiếm diện tích là 92,525 ha, nhu cầu
giải quyết cho khoảng 25.900 lao động.
Tuy nhiên, việc giải quyết việc làm cho lao động sau khi Nhà
nước thu hồi đất sản xuất ở huyện Điện Bàn vẫn còn nhiều bức xúc.
Thực tế cho thấy, người lao động trong vùng thu hồi đất không tìm
được việc làm, hoặc tìm được việc làm không ổn định, tình trạng các
doanh nghiệp sau khi tuyển dụng lao động nhưng trả lương quá thấp
khiến người lao động tự bỏ việc không phải là ít. Vì vậy, việc tìm giải
pháp giải quyết việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động
vùng bị thu hồi đất sản xuất để phát triển các khu, cụm công nghiệp và
đô thị là vấn đề cấp thiết có tính bức xúc trên địa bàn huyện Điện Bàn.
Với những lý do nêu trên, đề tài: “Giải quyết việc làm cho lao
động thuộc diện thu hồi đất ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” đã
được chọn để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về giải quyết việc làm cho lao
động
- Đánh giá được thực trạng về giải quyết việc làm cho lao
động bị thu hồi đất ở huyện Điện Bàn trong thời gian qua, tìm ra
nguyên nhân của những hạn chế.
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để giải quyết việc
làm cho người lao động bị thu hồi đất ở huyện Điện Bàn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giải quyết việc làm cho

Chương 1: Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động
thuộc diện thu hồi đất ở huyện Điện Bàn.
Chương 3: Giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động
thuộc diện thu hồi đất ở huyện Điện Bàn.
7. Tổng quan nghiên cứu


4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM
1.1.1. Những vấn đề chung về việc làm
a. Khái niệm
Khái niệm việc làm là tiền đề cơ bản giúp chúng ta nhận dạng
một cách chính xác và thống nhất về mối quan hệ giữa lao động và việc
làm trong nền kinh tế thị trường.
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự
kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng
lao động theo mục đích con người.
Theo các khái niệm trên, hoạt động được coi là việc làm cần
thỏa mãn hai điều kiện:
+ Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho
người lao động và cho các thành viên trong gia đình.
+ Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật
cấm.
Tóm lại, việc làm là trạng thái trong đó các điều kiện được đảm
bảo để lao động có thể kết hợp với các yếu tố sản xuất khác để tạo ra sản
phẩm, việc làm do các doanh nghiệp và tổ chức tạo ra theo tìn hiệu cầu

lớn không được đào tạo;
- Lao động chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và
thu nhập chính từ nông nghiệp;
- Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của họ;
- Thu nhập thấp nên khả năng tích lũy thấp;
- Tỷ lệ hộ nghèo chiếm tỷ lệ lớn;
- Dễ bị tồn thương trước những biến động của tự nhiên, kinh
tế và xã hội.
1.1.2. Những vấn đề chung về giải quyết việc làm


6
a. Khái niệm
Giải quyết việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao
động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân,
gia đình, cộng đồng và xã hội.
Giải quyết việc làm cần phải được xem xét cả từ ba phía:
người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước.
Giải quyết việc làm cho người lao động theo nghĩa chung nhất
là các cơ chế chính sách việc làm được đưa ra để tạo môi trường thuận
lợi để kết hợp yếu tố lao động với các nhân tố sản xuất khác như: vốn
sản xuất, tài nguyên và công nghệ nhằm tạo ra hàng hoá và dịch vụ
theo yêu cầu của thị trường đồng thời bảo đảm lợi ích của người sử
dụng lao động.
b. Tầm quan trọng của giải quyết việc làm
Đối với từng cá nhân thì việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi
sống bản thân và gia đình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn
bộ đời sống của cá nhân.
Đối với nền kinh tế, lao động là nguồn lực quan trọng, tạo nên
tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, duy trì mối quan hệ hài hòa

Xuất khẩu lao động chính là một hình thức tạo việc làm từ
nước ngoài hay là quá trình đưa lao động ra nước ngoài kết hợp với
các nhân tố và điều kiện sản xuất ở nước ngoài từ đó tạo ra thu nhập
cho lao động.
Tuy nhiên chính sách này cũng chỉ tập trung vào một số đối
tượng chứ không phải dành cho toàn bộ lao động.
Do thị trường lao động nước ngoài thường yêu cầu lao động
có tay nghề và sức khỏe do đó để đáp ứng được yêu cầu này để ra
nước ngoài làm việc thì lao động cần trải qua quá trình đào tạo nghề.
Nghĩa là phải có chi phí đào tạo nghề cho lao động mà những đối
tượng này thường nghèo và khó khăn.
Có thể có nguồn tài trợ từ vốn vay tạo việc làm hay ngân hàng
chính sách xã hội. Đã có nhiều mô hình mà cơ quan xuất khẩu lao


8
động có thể ứng vốn cho vay và người lao động sẽ trả lại bằng cách
trích từ lương sau này.
Việc xuất khẩu lao động nông nghiệp không thể do địa
phương đơn phương làm được mà cần có sự phối hợp giữa ngành lao
động địa phương và cục xuất khẩu lao động của Bộ Lao động thương
binh và xã hội cũng như các công ty chuyên xuất khẩu lao động.
Tiêu chí:
- Số lao động nhận được hỗ trợ để tham gia XKLĐ
- Số lao động được XKLĐ trong thời kỳ
1.2.3. Tổ chức dạy và đào tạo nghề
Từ đặc điểm của lao động nông nghiệp mất đất thường không
được đào tạo nghề hay chỉ biết nghề gắn với sản xuất nông nghiệp. Do
đó việc đào tạo nghề sẽ cung cấp những kiến thức, kỹ năng nghề
nghiệp nào đó cũng như chuẩn bọ cho họ tầm lý để có thể tham gia

nghiệp
1.2.5. Thực hiện công tác xúc tiến tạo việc làm từ doanh
nghiệp
Xúc tiến tạo việc làm là quá trình các cơ quan quản lý nhà
nước và các tổ chức nhằm cung cấp thông tin giới thiệu về lao động có
nhu cầu tìm việc cùng với những thông tin về chất lượng của những
lao động này để họ lựa chọn tuyển dụng.
Với điều kiện sản xuất có sẵn và nhu cầu tuyển dụng lao động
của các doanh nghiệp trong các ngành thâm dụng lao động thì công tác
xúc tiến tạo việc làm có ý nghĩa lớn.
Việc xúc tiến này rất quan trọng vì lao động cho dù có được
đào tạo, có chuyên môn đi nữa nhưng nếu không làm tốt công tác này
thì doanh nghiệp cũng không nắm bắt được, ngoài ra thông qua xúc
tiến còn giúp doanh nghiệp hiểu và bỏ qua mặc cảm khi tuyển dụng
lao động nông nghiệp mất đất này.
Xúc tiến có thể được tiến hành thông qua nhiều hình thức như:
(1) các hội chợ việc làm của địa phương tổ chức thường xuyên; (2)


10
Khi ban hành các chính sách khuyến khích sử dung lao động nông
nghiệp có kèm theo các thông tin về đối tượng lao động này; (3) Đăng
trên web của sở Lao động và TBXH; (4) Qua các hội nghị về lao động
việc làm của địa phương; (5) cung cấp thông tin cho các trung tâm tư
vấn việc làm.
1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
1.3.2. Trình độ phát triển kinh tế xã hội
1.3.3. Trình độ kỹ thuật và chính sách sử dụng lao động

2.1.4. Tâm lý của ngƣời lao động bi thu hồi đất
Yếu tố tâm lý ảnh hưởng không nhỏ tới thành công của việc
giải quyết việc làm cho đối tượng này.
Tâm lý của người nông dân đã ăn sâu vào trong suy nghĩ, hành
động của người lao động nông nghiệp thuộc diện thu hồi đất ở đây.
Cộng với những khó khăn về kinh tế nên thường quyết định lâu dài
căn cơ thường không có thay vào đó là những quyết định ngắn hạn.
Cũng số liệu điều tra cho thấy số lao động có nhu cầu làm việc
tại địa phương sau khi tốt nghiệp khóa học nghề là 77,3%, làm việc tại
các địa phương khác là 21,3%, có dự định đi xuất khẩu lao động chỉ
chiếm 1,6%.
Tâm lý ăn sổi ở thì của lao động thuộc diện thu hồi đất còn thể
hiện ở việc sử dụng tiền đền bù cho sinh kế lâu dài. Từ chỗ không có
tiền khi nhận được một khoản đền bù kha khá họ không biết làm gì với
nó mà không hiểu đó là nguồn vốn cho sinh kế của họ, con cái họ sau
này vì đã hết đất nông nghiệp.
Tâm lý ỷ lại trồng chờ sự hỗ trợ của chính quyển cũng xuất
hiện khá phổ biến khi số người chủ động tự tìm kiếm việc làm, chuyển
đổi nghề nghiệp không nhiều hay tìm kiếm cơ sở dạy nghề và lựa chọn


12
nghề để học.
Tâm lý muốn thoát khỏi và chuyển đổi nghề từ nông nghiệp
cũng thấy rất rõ khi nhiều người có điều kiện phát triển kinh tế gia
đình từ nghề nông nhưng vẫn muốn học nghề phi nông nghiệp khác
như điện tử hay dịch vụ.
2.2. TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM CỦA NHỮNG ĐỐI
TƯỢNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở HUYỆN ĐIỆN BÀN
2.2.1. Tình hình lao động nông nghiệp ở huyện Điện Bàn

25.370

Tỷ trọng Lao
động trong
nông nghiệp
(%)
36.01
31.85
29.24
24.83
21.00

(Nguồn: Phòng LĐ và TBXH TX Điện Bàn)
2.2.2. Tình hình việc làm của lao động nông nghiệp thuộc
diện thu hồi đất
Bảng 2.5. Tình hình việc làm của lao động nông nghiệp thuộc diện
thu hồi đất
Lao động trong
Diện tích đất
Số lao động mất
Năm
nông nghiệp
nông nghiệp thu đất cần việc làm
(ngƣời)
hồi (ha)
(ngƣời)
2011
41.144
86.24
1120

2011
1120
991
88.5
2012
1135
944
83.2
2013
1201
1082
90.1
2014
1792
1634
91.2
2015
1840
1702
92.5
(Nguồn: Phòng LĐ và TBXH TX Điện Bàn)
2.3. TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG NGHIỆP THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở ĐIỆN BÀN
2.3.1. Tình hình hỗ trợ vốn để giải quyết việc làm
Số lao động có việc làm nhờ vay vốn tăng liên tục từ năm 2011
tới 2015. Nếu năm 2011 là 221 người thì năm 2015 đã tăng lên 422
người. Tỷ lệ số lao động được giải quyết nhờ vay vốn so với tổng số
người được giải quyết việc làm tăng lên theo thời gian nhưng nhìn
chung ổn định trong khoảng từ 22- 25%. Với tỷ lệ này cũng có thể
khẳng định, cho vay vốn để giải quyết việc làm đang là một chính sách

+ Các doanh nghiệp đào tạo
648 720

2013
2.306
250
410
1.646

2014
2.667
320
420
1.927

2015
2.784
400
500
1.884

Tổng
11.050
1.320
2.150
7.580

336

547

2013

2014

2015

991

944

1082

1634

1702

7
0.71

10
1.06

11
1.02

13
0.80

15
0.88

việc làm lao động nông thôn cho 20 xã, phường.
- UBND thị xã đã chỉ đạo Ban chỉ đạo, các ngành, địa phương
cùng với sự chung tay của các ban, hội, đoàn thể phối hợp, khảo sát
lực lượng lao động trong độ tuổi nhưng chưa có việc làm, chưa được


16
đào tạo nghề để tuyên truyền, tư vấn về chọn nghề, học nghề, lập
nghiệp và việc làm nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
CHƢƠNG 3
NHỮNG GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NGƢỜI LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở
HUYỆN ĐIỆN BÀN
3.1. CƠ SỞ ĐỂ ĐƢA RA GIẢI PHÁP
3.1.1. Định hƣớng phát triển kinh tế
Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - thương mại dịch vụ.
Phấn đấu xây dựng Điện Bàn trở thành trung tâm thương mại - dịch vụ
của tỉnh và khu vực.
Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề gắn với giải
quyết việc làm; từng bước nâng cao chất lượng nguồn lao động, thúc
đẩy kinh tế - xã hội phát triển, góp phần xây dựng thị xã ngày càng
vững mạnh.
a. Đào tạo nghề
Phấn đấu giai đoạn 2016-2020 phải đào tạo 10.000 lao động
theo kế hoạch Đề án đề ra.
Dự kiến kinh phí đào tạo nghề giai đoạn (2016-2020) là:
8.200.000.000 đồng.
Trong đó:

và đào tạo phát triển các mô hình có hiệu quả ở khu vực nông thôn
theo hướng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn và cơ cấu kinh tế
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn.
b. Mục tiêu cụ thể
Cơ cấu các thành phần kinh tế có xu hướng chuyển đổi mạnh


18
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa toàn diện, nhưng chủ yếu
tập trung chuyển đổi hóa nông nghiệp sang công nghiệp - xây dựng và
thương mại - dịch vụ.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở HUYỆN ĐIỆN BÀN
3.2.1. Phát triển công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
- Tập trung công tác giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng tại khu công nghiệp, các cụm công nghiệp; có nhiều cơ chế,
chính sách ưu đãi, phù hợp tạo môi trường thông thoáng nhằm thu hút
các nhà đầu tư trong và ngoài nước để phát triển các ngành có lợi thế.
- Đẩy mạnh việc thực hiện các Đề án, chương trình xây dựng
nông thôn mới, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống
nhằm giải quyết việc làm hiệu quả cho lao động tại địa phương.
3.2.2. Phát triển các ngành Thƣơng mại - Dịch vụ
Tập trung đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh các
hoạt động khuyến khích thương mại, phát triển du lịch, khai thác có
hiệu quả các loại hình du lịch biển, du lịch sinh thái - ẩm thực, du
lịch văn hóa lịch sử. Hình thành các Trung tâm thương mại ở các khu
dân cư, khu cụm công nghiệp, khu đô thị, khu Trung tâm các xã,
phường để kết nối các chuỗi đô thị, hình thành các Trung tâm thương
mại nằm trên các tuyến quốc lộ.

việc làm cho lao động.
+ Đẩy mạnh đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực: phấn đấu
hàng năm đào tạo 2.000 lao động ở nông thôn.
+ Thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng theo quy định
của Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông
thôn đến năm 2020”.
+ Tích cực huy động các nguồn lực tại chỗ gắn với nguồn
ngân sách của tỉnh, Trung ương và các dự án để hỗ trợ cho lao động
học nghề theo các chương trình mục tiêu Quốc gia, của tỉnh và thị xã.


20
+ Hàng năm trích một phần ngân sách của thị xã (200 triệu) để
hỗ trợ cho hoạt động dạy nghề và các hoạt động khác của Đề án việc
làm.
- Đối với những hộ lựa chọn phương án tiếp tục sản xuất nông
nghiệp
+ Trong quy hoạch, chỉnh trang đô thị của thành phố cần gắn
kết với quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp áp dụng khoa học, công
nghệ để giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp không
chuyển đổi được ngành nghề.
- Đối với những lao động lựa chọn phương án chuyển sang
ngành nghề phi nông nghiệp
+ Lao động ở lứa tuổi trung niên (35 tuổi trở lên): cần phải
hướng dẫn cho họ những công việc giản đơn mang tính dịch vụ.
+ Lao động ở lứa tuổi thanh niên (dưới 35 tuổi), cần phải được
đào tạo và đào tạo lại đảm bảo tay nghề cơ bản, lâu dài nhằm tạo thu
nhập ổn định.
Có chính sách hợp lý trong sử dụng lao động qua đào tạo nghề

đó là: Xuất khẩu lao động trực tiếp và xuất khẩu lao động gián tiếp hay
là xuất khẩu lao động tại chổ.
3.2.7. Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp
- Thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách của nhà nước,
đẩy mạnh cải cách hành chính, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cơ chế,
chính sách, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, nhằm đẩy mạnh thu
hút đầu tư trong và ngoài nước.
- Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ; đẩy mạnh các hoạt
động xúc tiến thương mại; khuyến khích đầu tư phát triển các dịch vụ:
Tài chính, tín dụng, bảo hiểm, kiểm toán... để thu hút đầu tư vào ngành
thương mại - dịch vụ; xúc tiến triển khai các dự án phát triển du lịch dịch vụ trong chương trình tập trung phát triển du lịch và các dịch vụ
mà thành phố có thế mạnh, tạo ra nhiều việc làm.
- Kêu gọi khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ, đẩy


22
nhanh tiến độ xây dựng các khu công nghiệp trên địa bàn quận để đưa
vào khai thác, vận hành.
- Thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách của nhà nước,
đẩy mạnh cải cách hành chính, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cơ chế,
chính sách, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, nhằm đẩy mạnh thu
hút đầu tư trong và ngoài nước.
- Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ; đẩy mạnh các hoạt
động xúc tiến thương mại... để thu hút đầu tư vào ngành thương mạidịch vụ.
- Phát huy lợi thế không gian đô thị, các khu, cụm công
nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp sử dụng năng lượng sạch,
công nghệ cao.
3.2.8. Điều tra cung - cầu và tổ chức các hoạt động dịch vụ
việc làm
Hàng năm tiến hành các cuộc điều tra cung - cầu lao động để

tình trạng thiếu công bằng trong công tác đền bù. Hiện nay, đứng giữa
các quy định chính sách cũ và mới, mức giá đền bù đã chênh nhau
đáng kể. Nhiều người dân bị thu hồi đất trước trở nên thiệt thòi.
- Điện Bàn là địa phương có tốc độ đô thị hóa tương đối cao
so với các địa phương khác trong tỉnh. Đi liền với nó là tình trạng
thiếu việc làm, không tìm được việc làm của lực lượng lao động bị thu
hồi đất là rất lớn. Trước tình trạng đó, Điện Bàn đã sử dụng nhiều biện
pháp để giải quyết việc làm cho người lao động như thực hiện các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện các chương trình đào



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status