ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THU HIỀN
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN ĐÁP ỨNG VỚI
YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
01
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TOÀ ÁN VÀ ĐỘI NGŨ
THẨM PHÁN
07
1.1. Một số vấn đề lý luận về Toà án
07
1.1.1. Khái niệm Toà án
07
THẨM PHÁN TRONG THỜI GIAN QUA VÀ YÊU CẦU CẢI
CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 37
2. 1. Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ thẩm phán Việt
nam trong thời gian qua
37
2.1.1. Thực trạng về số lượng, chất lượng của đội ngũ thẩm
phán và tình hình xét xử trong thời gian qua
37
2.1.2. Công tác quy hoạch, tuyển dụng và bổ nhiệm thẩm phán 42
2.1.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán
52
2.1.4. Cơ chế kiểm tra giám sát đội ngũ Thẩm phán
63
2.2. Yêu cầu của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
2.2.1. Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp
70
trong giai đoạn hiện nay
70
93
TÀI LIỆU THAM KHẢO
96
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn và rất quan trọng. Nhờ có sự đổi mới về kinh tế và quyết tâm thực
hiện công cuộc cải cách hành chính mà Việt Nam đang là nước có nền kinh tế
tăng trưởng nhanh trong khu vực và trên thế giới; cơ sở vật chất được tăng cường,
đời sống chính trị - xã hội ổn định, quan hệ quốc tế được mở rộng. Tuy nhiên, khi
nền kinh tế chuyển mạnh sang cơ chế thị trường cùng với các yêu cầu của hội nhập
kinh tế quốc tế thì ngày càng có nhiều vụ việc phức tạp, các loại án hình sự ngày
càng tinh vi, mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày càng lớn, các vụ án dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, lao động... ngày càng gia tăng về cả số
lượng và sự phức tạp, đặc biệt khi nó xuất hiện yếu tố nước ngoài ngày càng
nhiều, giá trị lợi ích vật chất trong các vụ án ngày càng lớn. Do đó, để đưa ra
được phán quyết thấu tình đạt lý, phù hợp với thông lệ, tập quán pháp luật quốc tế
đòi hỏi thẩm phán phải tâm huyết với nghề, không ngừng học tập nâng cao trình
độ, chuyên môn, nghiệp vụ xét xử của mình.
Nghề thẩm phán là nghề xét xử, mục đích là đưa lại sự công bằng cho xã
hội, đảm bảo sự ổn định, phát triển và mang ý nghĩa xã hội to lớn. Chính vì thế
người thẩm phán được Visanhsky, một trong những người xây dựng ngành Tư
pháp Nga sau cách mạng tháng Mười khẳng định “thẩm phán người thầy của cuộc
sỹ của mình là “Xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng với yêu cầu cải cách tư
pháp ở Việt Nam hiện nay”, với mong muốn thông qua việc phân tích, đánh giá
thực trạng đội ngũ thẩm phán ở nước ta hiện nay để góp phần phát hiện những bất
cập, hạn chế của công tác xây dựng đội ngũ thẩm phán ở nước ta, tìm ra những
nguyên nhân của sự bất cập, hạn chế đó. Từ đó, đề xuất một số giải pháp xây dựng
đội ngũ thẩm phán đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, tăng cường hội
nhập kinh tế quốc tế, thì việc xây dựng đội ngũ thẩm phán có phẩm chất đạo đức
và đủ năng lực chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước
trong thời kỳ mới là rất cần thiết. Đây là lĩnh vực được Đảng, Nhà nước đặc biệt
quan tâm. Trong thời gian qua ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu quan
trọng liên quan đến lĩnh vực này như: Sổ tay Thẩm phán; Các phẩm chất cơ bản của
thẩm phán của tác giả Đặng Thị Thanh Nga (Tạp chí Luật học số 5/2002); Kỹ năng
giao tiếp của thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự; ThS. Bùi Thị Kim Chi (Tạp chí
Luật học số 2/2005); Một số suy nghĩ về những việc thẩm phán không được làm quy
định tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm toà án nhân dân năm 2002, Nguyễn Thị
Hồng Tươi (Tạp chí Toà án nhân dân số 1/2003); Một số vấn đề về mô hình nhân
cách thẩm phán, ThS, Bùi Thị Kim Chi (Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 3/2005);
Những phẩm chất, nhân cách của thẩm phán trong giai đoạn hiện nay, ThS. Đặng
Thanh Nga (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội,
2003); Suy nghĩ về những điều thẩm phán phải làm, thẩm phán được làm, chính
sách chế độ đối với thẩm phán, Nguyễn Hồng Tươi (Tạp chí Dân chủ và pháp luật
số 5/2002).
Nhìn chung, các bài viết trên của các tác giả được thể hiện ở nhiều cấp độ
nghiên cứu khác nhau, góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng chủ yếu dưới dạng các bài
nghiên cứu trên các tạp chí chưa có đề cập một cách có hệ thống về xây dựng đội ngũ
thẩm phán để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.
Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ thẩm phán và công tác xây dựng đội
ngũ thẩm phán ở nước ta hiện nay, qua đó chỉ ra những bất cập, hạn chế về chất
lượng, số lượng của đội ngũ thẩm phán cũng như những bất cập trong công tác
tuyển chọn bổ nhiệm thẩm phán ở nước ta hiện nay;
Những yêu cầu, đòi hỏi trong công tác xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng
với yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam. Từ đó đề xuất được một số giải pháp
quan trọng để xây dựng và phát triển đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu xây
dựng một nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác xây
dựng đội ngũ thẩm phán ở nước ta trong công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta
hiện nay.
Nội dung quan điểm chỉ đạo công cuộc cải cách tư pháp hiện nay và công
tác xây dựng đội ngũ thẩm phán, cán bộ tư pháp trong Nghị quyết 08/NQ-TW ngày
02/01/2002, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020.
Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật về thẩm phán, điều kiện, tiêu
chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán và văn bản chính sách của Nhà nước về
xây dựng đội ngũ thẩm phán trong giai đoạn hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
Các phương pháp cụ thể được sử dụng đó là phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp lý luận kết
hợp với thực tiễn.
6. Ý nghĩa và những điểm mới của đề tài
Đề tài “Xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng với yêu cầu cách tư pháp ở
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TOÀ ÁN
VÀ ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN
1.1. Một số vấn đề lý luận về Toà án
1.1.1. Khái niệm Toà án
Cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, để đảm bảo cho sự thực thi
của pháp luật, nhà nước thiết lập một hệ thống cơ quan chuyên xét xử các hành vi
vi phạm pháp luật và giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội
nhằm đảm bảo trật tự xã hội, quyền và lợi ích của nhà nước và xã hội được duy trì,
hệ thống cơ quan đó chính là toà án.
Dưới chế độ phong kiến, nhà vua là người đứng đầu nhà nước nắm trong
tay tất cả các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, chính vì thế những quan lại
cai trị cấp dưới vừa là người thi hành pháp luật đồng thời là người xét xử. Đến khi
nhà nước tư bản ra đời với nhiều học thuyết phân chia quyền lực nhà nước khác
nhau thì các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân chia rõ ràng hơn. Đặc
biệt khi học thuyết “Tam quyền phân lập” của Môngtexkiơ ra đời, ba quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp tách biệt và đối trọng với nhau và ba quyền này được
trao cho ba hệ thống cơ quan khác nhau tương ứng là cơ quan lập pháp, cơ quan
hành pháp và cơ quan tư pháp. Trong hệ thống các cơ quan tư pháp thì việc thực
thi quyền xét xử do một hệ thống cơ quan chức năng riêng biệt đảm nhiệm đó là
toà án với các thẩm phán là công chức nhà nước thực hiện nhiệm vụ xét xử.
Theo cuốn Từ điển Luật học thì Toà án được hiểu là “cơ quan thuộc hệ
thống bộ máy nhà nước, đảm nhiệm chức năng xét xử”. Đây cũng là khái niệm
được sự thống nhất cao của các quốc gia trên thế giới và các nhà nghiên cứu luật
học. Trong đó, tuỳ từng quốc gia khác nhau Toà án - hệ thống cơ quan xét xử có
những đặc thù riêng và được phân chia theo các loại hình, cấp xét xử khác nhau.
Trong hệ thống toà án một số nước phương Tây, ngoài hệ thống các cấp toà
án xét xử vụ án hình sự, dân sự, thương mại, lao động, hành chính, họ còn thành
Khái niệm “Toà án nhân dân” hiện nay chỉ được sử dụng ở các quốc gia
theo chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba. Trong quá khứ việc
sử dụng thuật ngữ “Toà án nhân dân” đã từng tồn tại ở Đức với tên gọi là Toà án
Nhân dân Đức, là toà án do Đảng Công nhân Đức Quốc gia XHCN thành lập từ
năm 1934 như một toà án đặc biệt để xét xử những người chống đối chế độ với các
tội danh “phản quốc” và “tiết lộ bí mật quốc gia” (theo Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia).
Ở Việt Nam, ngay từ khi cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ban hành Sắc lệnh số 33 ngày 13/9/1945 thiết lập Toà án quân sự để “xét
xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì đó có phương hại đến nền độc lập
của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trừ khi phạm nhân là binh sĩ thì thuộc về
nhà binh tự xử lấy theo quân luật”. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển lịch sử,
đến nay theo Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định và Điều 1 Luật Tổ chức Toà
án nhân dân năm 2002 tiếp tục khẳng định: “Toà án nhân dân tối cao, các Toà án
nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là
những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy,
căn cứ vào cách phân chia khác nhau chúng ta có thể phân toà án thành các loại
sau:
Căn cứ vào nguyên tắc cấp và phạm vi xét xử, hệ thống các toà án của nước ta bao gồm:
TANDTC, TAND cấp tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, các TAND cấp huyện, quận, thành
phố trực thuộc tỉnh và các toà án quân sự.
Căn cứ vào tính chất các vụ án do toà án xét xử, toà án nhân được phân
thành các toà tư pháp và toà án hành chính trong đó toà án hành chính để xét xử
các tranh chấp về hành chính. Còn toà tư pháp gồm: Toà hình sự xét xử các vụ án
hình sự; Toà dân sự để xét xử các vụ án tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình;
Toà án kinh tế để xét xử các vụ án tranh chấp về kinh tế, thương mại; Toà án lao
động để xét xử các vụ tranh chấp về lao động. Trong thời gian tới với tinh thần của
công cuộc cải cách tư pháp chúng ta sẽ thành lập Toà hôn nhân và gia đình, Toà
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Các văn bản của cơ quan nhà nước:
5. Chính phủ (2004), Nghị định số 204/2004/NĐ-CP “về chế độ tiền lương
đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang”, ngày 14/12,
Hà Nội
6. Chủ tịch Chính phủ (1945), Sắc lệnh số 33-Sl “về việc thiết lập các Toà
án quân sự”, ngày 13/9, Hà Nội
7. Chủ tịch Chính phủ (1945), Sắc lệnh “quy định sự tổ chức các đoàn thể
Luật sư”, ngày 10/10, Hà Nội
8. Chủ tịch Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 217-Sl , ngày 22/11, Hà Nội
9. Chủ tịch Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 13-SL ngày 24/01, Hà Nội
10. Chủ tịch nước (1950), Sắc lệnh số 158-Sl ngày 17/11, Hà Nội
11. Chủ tịch nước (1950), Sắc lệnh số 76-SL “ban hành quy chế công chức
Việt Nam”, ngày 24/01, Hà Nội
12. Hiến pháp Việt Nam (1946,1959, 1980, 1992) (1995), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội
13. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi
(2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
14. Thủ tướng Chính phủ,(1995), Chỉ thị số 410/CT-TTg “về việc đào tạo,
bồi dưỡng thẩm phán Toà án hành chính các cấp”, ngày 15/7, Hà Nội
15. Thủ tướng Chính phủ,(2003), Quyết định số 137/QĐ-TTg “phê duyệt kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác hội nhập kinh tế
quốc tế giai đoạn 2003 – 2010”, ngày 11/7, Hà Nội
16. Thủ tướng Chính phủ,(2005), Quyết định số 137/QĐ-TTg “về chế độ phụ
cấp trách nhiệm đối với Thẩm phán, Thư ký toà án và Thẩm tra viên
trong ngành Toà án”, ngày 08/7, Hà Nội
17. Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp (1993), Thông tư liên ngành số
26. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm
Toà án nhân dân
27. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2002), Nghị quyết số 131/NQ-UBTVQH11
“về quy định một số điểm về việc thi hành Pháp lệnh Thẩm phán và Hội
thẩm Toà án nhân dân, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân”,
ngày 01/10, Hà Nội
28. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2004), Nghị quyết số 730/2004/NQUBTVQH “về việc phê chuẩn bản lương chức vụ, bảng phụ cấp chức vụ
đối với cán bộ lãnh đạo của Nhà nước; bảng lương chuyên môn, nghiệp
vụ của ngành Toà án, ngành Kiểm sát”, ngày 30/9, Hà Nội
Các tác phẩm, tạp chí, đề tài, công trình khoa học:
29. Bùi Thị Nhàn (2004), “Giới thiệu về hệ thống Toà án Hàn Quốc”, Thông
tin Khoa học xét xử số 4, Viện khoa học xét xử, Toà án nhân dân tối cao
30. Bùi Thị Kim Chi (2005), “Kỹ năng giao tiếp của thẩm phán khi giải
quyết vụ án dân sự”, Tạp chí Luật học số 2
31. Bùi Thị Kim Chi (2005), “Một số vấn đề về mô hình nhân cách thẩm
phán”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 3
32. Đặng Thị Thanh Nga (2002), “Các phẩm chất cơ bản của thẩm phán của
tác giả” Tạp chí Luật học số 5, Hà Nội
33. Đặng Thanh Nga (2003), “Những phâm chất, nhân cách của thẩm phán
trong giai đoạn hiện nay”, Trường Đại học Luật Hà Nội
34. Đỗ Minh, (2007), “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, dân chủ, nghiêm
minh”, Vietnamnet.com.vn, ngày 26/7/2007.
35. Hồ Chí Minh (2002): Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
36. Lê Quang Hoan (2002), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người”, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội
37. Nguyễn Duy Hùng (2008), “Luận cứ khoa học và một số giải pháp Xây
dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
47. Trần Đức Lương (2005), “Bài phát biểu của Chủ tịch nước trần Đức lương tại Lễ kỷ
niệm 60 năm ngày truyền thống của ngành Toà án nhân dân 13/9/1945 – 13/9/2005”,
Tạp chí Toà án nhân dân, tháng 9.
48. Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Lịch sử nhà nước và
pháp luật Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
49. Từ điển luật học (1999), Nxb từ điển Bách Khoa, Hà Nội.
50. V. (2008), “Thiếu thẩm phán - nỗi lo của ngành Toà án”,
doisongphapluat.com.vn, ngày10/4.