1
Đại học quốc gia hà nội
khoa luật
vũ thu hiền
xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng với
yêu cầu cải cách t- pháp ở việt nam hiện nay Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà n-ớc và pháp luật
Mã số : 60 38 01
Luận văn thạc sỹ luật học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: pgs. TS. Hoàng thị kim quế
Luận văn thạc sỹ luật học
Hà Nội - 2008
1
Mục lục
Trang
Mở đầu
37
2.1.1. Thực trạng về số lượng, chất lượng của đội ngũ thẩm
phán và tình hình xét xử trong thời gian qua
37
2.1.2. Công tác quy hoạch, tuyển dụng và bổ nhiệm thẩm phán
42
2.1.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán
52
2.1.4. Cơ chế kiểm tra giám sát đội ngũ Thẩm phán
63
2.2. Yêu cầu của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
70
2.2.1. Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp
trong giai đoạn hiện nay
70
2.2.2. Một số nhiệm vụ trọng tâm của ngành Toà án trong xây dựng
đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
75
Chương 3. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và một số
giải pháp xây dựng đội ngũ thẩm phán HIệN NAY 77
3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng đội ngũ
thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
77
3.2. Một số giải pháp xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng
3
yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
82
3.2.1. Đổi mới cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm thẩm phán
82
ngành Tư pháp Nga sau cách mạng tháng Mười khẳng định “thẩm phán người
thầy của cuộc sống”. Gần 100 năm nay, điều Ông nói vẫn đúng, lời nói đó
vượt qua mọi ranh giới quốc gia và khoảng cách về thời gian.
Thẩm phán với nghề nghiệp xét xử đã và đang thực sự là biểu tượng
cho khát vọng của nhân loại về một sự công bằng cho đới sống xã hội. Vinh
quang của nghề thẩm phán trước hết phải nói đến là nghề nghiệp mang tính
xã hội cao, bởi lẽ công việc của thẩm phán luôn liên quan đến nhiều cá nhân,
5
tổ chức trong xã hội. Nghề nghiệp xét xử của thẩm phán liên quan đến số
phận, danh dự, uy tín. tài sản, thậm chí nó quyết định cả tính mạng của con
người. Toà án, cụ thể hơn là thẩm phán là người đại diện cho quyền lực nhà
nước để đưa ra các phán quyết và khi các phán quyết đó có hiệu lực pháp luật
thì tất cả mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân liên quan đều
phải tuân thủ chấp hành.
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh
đạo ngành toà án, đội ngũ thẩm phán nước ta không ngừng được nâng cao cả
về số lượng và chất lượng, kết quả xét xử của họ đã góp phần quan trọng vào
việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tuy nhiên, so với yêu cầu
của công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, đặc biệt là đứng trước các yêu
cầu, thách thức của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay thì đội ngũ thẩm
phán của chúng ta còn nhiều hạn chế, bất cập, tình trạng “thiếu” về số lượng
và “yếu” về chất lượng vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc. Một bộ phận
không nhỏ thẩm phán suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, yếu
kém về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đã làm sai lệch vụ án, làm
giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Vì vậy, xây dựng đội
ngũ thẩm phán trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất
đạo đức nghề nghiệp và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở
nước ta hiện nay là rất quan trọng, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và ngành toà án
phải tăng cường chỉ đạo và thực hiện quyết liệt hơn nữa nhiệm vụ quan trọng
5/2002).
Nhìn chung, các bài viết trên của các tác giả được thể hiện ở nhiều cấp độ
nghiên cứu khác nhau, góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng chủ yếu dưới dạng các
bài nghiên cứu trên các tạp chí chưa có đề cập một cách có hệ thống về xây dựng
đội ngũ thẩm phán để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
7
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu, tìm ra những luận cứ khoa
học và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp
luật về thẩm phán và công tác xây dựng đội ngũ thẩm phán trong giai đoạn
hiện nay ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thẩm phán và xây dựng đội ngũ
thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Đánh giá đúng đắn, khách quan, toàn diện một số quy định của Pháp lệnh
Thẩm phán và Hội thẩm toà án nhân dân năm 2002 và các quy định của pháp
luật thực định về tiêu chuẩn, điều kiện tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán.
Đánh giá thực trạng công tác xây dựng đội ngũ thẩm phán ở nước ta
hiện nay để làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ
thẩm phán và những yêu cầu, đòi hỏi đối với thẩm phán; chỉ ra được những
bất cập, hạn chế của công tác xây dựng đội ngũ thẩm phán; làm rõ hơn những
yếu tố tích cực, tiêu cực ảnh hưởng đến chất lượng của thẩm phán cũng như
việc tuyển chọn, đào tạo và bổ nhiệm đội ngũ thẩm phán ở nước ta hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
“Xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp
ở Việt Nam hiện nay” là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rất rộng, nội dung
phong phú, đa dạng, phức tạp và tương đối “nhạy cảm”. Vì vậy, trong phạm
vi nghiên cứu của một luận văn thạc sỹ luật học, dựa trên nền tảng các chức
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
Các phương pháp cụ thể được sử dụng đó là phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp lý
luận kết hợp với thực tiễn.
6. ý nghĩa và những điểm mới của đề tài
Đề tài “Xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng với yêu cầu cách tư pháp
ở Việt Nam” được nghiên cứu để đạt được kết quả sau:
9
Đây là luận văn được nghiên cứu ở bậc cao học có tính hệ thống, toàn
diện về công tác xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp ở nước ta hiện nay.
Đề tài có tính hệ thống hoá một cách toàn diện những quy định của
pháp luật nước ta về thẩm phán từ năm 1945 đến nay.
Xác định được hiệu quả sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về
tiêu chuẩn, điều kiện tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán, qua đó chỉ ra các
điểm hạn chế của pháp luật thực định về nội dung này, giúp các nhà lập pháp
hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời giúp cho
ngành Toà án thấy được vị trí, vai trò quan trọng của công tác xây dựng chiến
lược đào tạo thẩm phán cũng như đội ngũ “nguồn” để tuyển chọn, bổ nhiệm
thẩm phán.
Mặt khác, thông qua việc so sánh, tìm hiểu các quy định của pháp luật
một số nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới như Hàn Quốc, Pháp,
Malayxia về điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán cũng
như kinh nghiệm xây dựng đội ngũ thẩm phán, đội ngũ “nguồn” để tuyển
chọn bổ nhiệm thẩm phán của họ. Từ đó, luận văn đề xuất một số giải pháp
quan trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng đội ngũ thẩm phán
đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Đặc biệt là các quy định liên
quan đến trách nhiệm của ngành Toà án trong việc xây dựng kế hoạch chiến
lược đào tạo thẩm phán và đội ngũ “nguồn” để bổ nhiệm thẩm phán đáp ứng
công chức nhà nước thực hiện nhiệm vụ xét xử.
Theo cuốn Từ điển Luật học thì Toà án được hiểu là “cơ quan thuộc hệ
thống bộ máy nhà nước, đảm nhiệm chức năng xét xử”. Đây cũng là khái
niệm được sự thống nhất cao của các quốc gia trên thế giới và các nhà nghiên
cứu luật học. Trong đó, tuỳ từng quốc gia khác nhau Toà án - hệ thống cơ
11
quan xét xử có những đặc thù riêng và được phân chia theo các loại hình, cấp
xét xử khác nhau.
Trong hệ thống toà án một số nước phương Tây, ngoài hệ thống các
cấp toà án xét xử vụ án hình sự, dân sự, thương mại, lao động, hành chính, họ
còn thành lập Toà án hiến pháp để thực hiện chức năng bảo vệ các nguyên tắc
của hiến pháp, kiểm tra tính hợp hiến của các luật hay các văn bản quản lý
khác. Ví dụ:
ở Pháp, Toà án hiến pháp được gọi là Hội đồng bảo hiến. Nhiệm vụ
của Hội đồng này là: phán quyết về tính hợp hiến của các đạo luật, sắc luật và
quy tắc hành chính; Tham gia ý kiến về các đề nghị sửa đổi Hiến pháp do Uỷ
ban Quốc hội chuyển giao; Hội đồng bảo hiến giải quyết các tranh chấp liên
quan đến việc bầu cử Quốc hội và tổng thống cũng như các cuộc trưng cầu
dân ý, kiểm tra tính hợp pháp của sự kiêm nhiệm chức vụ của các nghị sỹ [49,
tr 498] .
ở Đức, Toà án hiến pháp liên bang có thẩm quyền giải thích hiến pháp
khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của liên bang và các địa phương.
Trong lịch sử phát triển, thì toà án còn được thành lập bởi các tổ chức
quốc tế để giải quyết các tranh chấp mang tính quốc tế như Toà án quốc tế là
tổ chức của Liên hợp quốc gồm 15 thẩm phán do Đại Hội đồng và Hội đồng
bảo an bầu ra cùng một lúc, với nhiệm kỳ 9 năm và có thể được bầu lại.
Trong đó thẩm phán được bầu hoàn toàn mang tư cách cá nhân, không đại
diện cho quốc gia và quyền lực nhà nước và thẩm phán là công dân của 15
quốc gia khác nhau. Trong các thẩm phán phải có đủ đại diện của các nền văn
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy, căn cứ vào cách phân chia
khác nhau chúng ta có thể phân toà án thành các loại sau:
Căn cứ vào nguyên tắc cấp và phạm vi xét xử, hệ thống các toà án của
nước ta bao gồm: TANDTC, TAND cấp tỉnh thành phố trực thuộc trung
13
ương, các TAND cấp huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh và các toà án
quân sự.
Căn cứ vào tính chất các vụ án do toà án xét xử, toà án nhân được phân
thành các toà tư pháp và toà án hành chính trong đó toà án hành chính để xét
xử các tranh chấp về hành chính. Còn toà tư pháp gồm: Toà hình sự xét xử
các vụ án hình sự; Toà dân sự để xét xử các vụ án tranh chấp dân sự, hôn
nhân và gia đình; Toà án kinh tế để xét xử các vụ án tranh chấp về kinh tế,
thương mại; Toà án lao động để xét xử các vụ tranh chấp về lao động. Trong
thời gian tới với tinh thần của công cuộc cải cách tư pháp chúng ta sẽ thành
lập Toà hôn nhân và gia đình, Toà án dành cho trẻ vị thành niên nhằm đáp
ứng được những đặc thù của các loại vụ án này, đảm bảo cho quyền và lợi ích
của nhà nước, xã hội và các cá nhân liên quan được thực thi tốt hơn, nâng cao
tính chuyên nghiệp của các thẩm phán trong từng loại hình toà án này.
Hệ thống Toà án quân sự là một hệ thống toà án có đặc thù riêng, nó
chỉ thực hiện chức năng xét xử những vụ án mà bị cáo là những quân nhân tại
ngũ và những vụ án khác theo quy định của pháp luật (chủ yếu là xét xử
người có hành vi phạm tội làm thiệt hại đến quân đội), vì thế nó không chia
thành các toà chuyên trách về dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Toà án
quân sự bao gồm: Toà án quân sự trung ương, các Toà án quân sự quân khu
và tương đương, các Toà án quân sự khu vực.
Tóm lại, với nghĩa rộng Toà án được hiểu là cơ quan đảm nhiệm chức
năng xét xử và giải quyết các tranh chấp về các hành vi vi phạm pháp luật,
quốc gia và quốc tế; vi phạm các thông lệ và tập quán quốc tế được hầu hết
các quốc gia thừa nhận.
lượng, hiệu quả công việc để xứng tầm với chức năng, nhiệm vụ được giao,
khẳng định vị trí, vai trò của mình trong thiết chế “tam quyền phân lập” đang
đè nặng trên vai các cơ quan tư pháp nói chung và Toà án nói riêng.
15
Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào thì Toà án cũng có một vị
trí, vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật và đưa pháp luật vào thực
thi trong đời sống xã hội. Toà án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử, thay
mặt, nhân danh và sử dụng quyền lực của nhà nước để giải quyết các tranh
chấp trong đời sống xã hội và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chính vì
thế, để bảo đảm sự nghiêm minh của nhà nước, giai cấp cầm quyền nào cũng
làm mọi cách để thiết lập vị trí và nâng cao vai trò của toà án, lấy giá trị bảo
vệ pháp luật của nó làm biểu tượng cho công bằng xã hội.
Mặt khác, để thấy được vị trí, vai trò của Toà án chúng ta có thể so sánh
việc giải quyết các tranh chấp trong đời sống dân sự, kinh tế, thương mại qua
con đường tố tụng tại Toà án và tố tụng tại Trọng tài hoặc tổ chức hoà giải cơ sở.
Chúng ta biết rằng, ở các nước có nền kinh tế hàng hoá phát triển thì
các quan hệ kinh tế, thương mại ngày càng phát triển nhanh cả về số lượng và
sự phức tạp của quan hệ do yếu tố nước ngoài xuất hiện và tác động đến các
mối quan hệ đó, cộng với mặt trái của nền kinh tế thị trường là chạy theo lợi
nhuận, đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu nên đã và đang sảy ra nhiều tranh
chấp rất phức tạp mà tự các bên trong mối quan hệ đó không thể tự giải quyết
được, họ cần có một “người thứ ba” đứng ra với tư cách là người trung lập để
giúp họ giải quyết tranh chấp một cách công bằng và nhanh nhất đảm bảo lợi
ích của các bên được tôn trọng và được bảo đảm thực hiện một cách tốt nhất
có thể. “Người thứ ba” mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn đó là toà án
hoặc trọng tài, nói cách khác để giải quyết các tranh chấp trong đời sống dân
sự, kinh tế, thương mại các bên tranh chấp có thể lựa chọn hình thức giải
quyết tranh chấp không qua tố tụng tại toà án mà thông qua tổ chức hoà giải
cơ sở hoặc trọng tài.
doanh ) do đó ngoài nguyên đơn và bị đơn thường trọng tài chỉ triệu tập các
đương sự khác khi cần thiết. Xuất phát từ một số điểm hạn chế trên, trong
thời gian qua ở Việt Nam khi các trung tâm trọng tài, các tổ chức hoà giải cơ
17
sở chưa phát triển mạnh, chưa tạo được uy tín cao, chưa khẳng định được
“chỗ đứng” trong đời sống dân sự, kinh tế, thương mại thì toà án và tố tụng
toà án vẫn đang có một vai trò, vị trí hết sức quan trọng mà các bên tranh
chấp trong đời sống dân sự nói chung thường xuyên sử dụng để bảo vệ quyền
và lợi ích của mình khi bị xâm phạm.
Vị trí, vai trò của toà án còn được thể hiện trong mối quan hệ với các
cơ quan tư pháp khác như: Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành
án. Trong các mối quan hệ này Toà án luôn giữ ở vị trí trung tâm và có sự ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động cuối cùng của hệ thống các cơ quan tư
pháp. Ví dụ như: Để giải quyết một vụ án hình sự nếu Cơ quan điều ta, Viện
kiểm sát đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình mà Toà án không
thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử sẽ dẫn đến kết quả vụ án xử không đúng người,
đúng tội, hình phạt không công bằng và nghiêm minh, không có tính phòng
ngừa chung và phòng ngừa riêng. Mặt khác trong quá trình thụ lý hồ sơ, trước
khi đưa ra xét xử nếu Toà án thấy, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra thực hiện
chưa đủ bằng chứng, chứng cứ để luận tội thì Toà án trả lại hồ sơ yêu cầu
điều tra bổ sung , Đặc biệt khi pháp luật tố tụng đang đặc biệt quan tâm, đề
cao tố tụng tranh tụng thì vị trí, vai trò của Toà án càng được khẳng định rõ
hơn trách nhiệm của mình để đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng trong
việc xét xử một vụ án.
Do vị trí, vai trò quan trọng của Toà án nên ngay khi Cách mạng tháng
Tám thành công vào ngày 19/8/1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời với Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9 của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại
quảng trường Ba Đình thì 11 ngày sau, ngày 13/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ban hành Sắc lệnh số 33 thiết lập Toà án quân sự để “xét xử tất cả những
19
1.2.1. Khái niệm Thẩm phán
Điều 1 Pháp lệnh TP&HTTAND năm 2002 quy định : “Thẩm phán là
người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử
những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án”.
Như vậy, Thẩm phán là những công chức nhà nước được bổ nhiệm
theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự, dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính, lao động và giải
quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án.
Thẩm phán là những người thay mặt cho Nhà nước sử dụng quyền lực
nhà nước để đưa ra các phán quyết nhằm giải quyết sự tranh chấp giữa các
bên hoặc phán quyết việc áp dụng các biện pháp chế tài để xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật trong các vụ án thuộc thẩm quyền, đảm bảo sự tôn trọng và
thực thi pháp luật trong đời sống xã hội, đảm bảo bất kỳ hành vi vi phạm
pháp luật nào cũng bị xử lý: “không để lọt tội phạm” và “không xử oan người
vô tội”. Chính vì thế, trong xã hội người ta đã tôn vinh “thẩm phán là người
thầy của cuộc sống”.
Hiện nay, theo quy định của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt
Nam thì việc nhiệm kỳ của một thẩm phán thường được quy định trong một
khoảng thời gian nhất định. ở Việt Nam nhiệm kỳ của thẩm phán là 5 năm,
Hàn Quốc nhiệm kỳ của thẩm phán là 10 năm. Tuy nhiên, cũng có nhiều nước
nhiệm kỳ của thẩm phán là không thời hạn họ chỉ bị miễn nhiệm khi vi phạm
các quy định của pháp luật ví dụ ở úc thẩm phán toà án liên bang được bổ
nhiệm cho tới khi họ 70 tuổi (đến khi nghỉ hưu).
1.2.2. Vị trí, vai trò của Thẩm phán
“Thẩm phán, người thầy cuộc sống” đó là câu nói nổi tiếng của
Visanhsky, một trong những người xây ngành Tư pháp Nga sau cách mạng
Tháng Mười. Gần 100 năm nay, điều Ông nói vẫn đúng, lời nói đó vượt qua
mọi ranh giới quốc gia và khoảng cách về thời gian.
21
xử gần như thất bại. Chính vì thế trong pháp luật tố tụng hiện nay, tranh tụng
và kết quả tranh tụng tại toà án đang là vấn đề được xã hội hết sức quan tâm
và đòi hỏi ngành tư pháp đặc biệt là các Thẩm phán phải thực hiện tốt hơn
nữa các quy định về thủ tục tranh tụng và sử dụng kết quả tranh tụng tại toà.
Điều này đang đặt ra cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng và hơn hết là thẩm phán, chủ toạ phiên toà phải làm gì, sẽ tổ chức tranh
tụng tại toà như thế nào; việc xem xét chứng cứ, bằng chứng, luận cứ để lý
giải chứng minh cho các tình tiết của vụ án để làm sáng tỏ vụ án mà các bên
tham gia tranh tụng đưa ra sẽ được thẩm phán xử lý như thế nào là vấn đề hết
sức quan trọng để trên cơ sở đó đưa ra phán quyết cuối cùng của Toà án để
giải quyết vụ án.
Trong một vụ án, việc xét xử thành công hay thất bại phụ thuộc vào rất
nhiều giai đoạn của quá tình tố tụng, nhưng quan trọng nhất là hai giai đoạn:
Một là, việc dựng lại toàn bộ sự việc trên cơ sở các chứng cứ trong hồ sơ
được đưa ra xem xét, tranh luận công khai tại phiên toà được người tham gia
tố tụng thừa nhận, được nhân dân tán thành, ủng hộ như thế là thành công.
Hai là, tìm đúng điều luật để áp dụng nhằm giải quyết vụ án, xác định được
sự thật, đúng, sai, những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, động cơ của các
hành vi trong vụ án là gì, yếu tố lỗi chủ quan của các bên trong vụ án như thế
nào, từ đó thẩm phán, hội đồng xét xử đưa ra phán quyết để mọi người “tâm
phục, khẩu phục” đó là thành công. Do vậy, việc xét xử trước “Công đường”,
tổ chức tranh tụng và sử dụng kết quả tranh tụng như thế nào phụ thuộc rất
nhiều vào khả năng, vai trò của người thẩm phán, bởi lẽ họ phải biết điều
khiển dẫn dắt việc tranh tụng để tranh tụng diễn ra một cách có trật tự, đi
đúng trọng tâm những vấn đề mấu chốt, những điểm còn mâu thuẫn cần làm
rõ của vụ án. Thông qua kết quả tranh tụng, thẩm phán đánh giá khách quan
toàn diện và bản chất của vụ án, các chứng cứ, các lý lẽ, lập luận của các bên,
22
Thẩm phán phải không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ áp lực nào, ngoại trừ trí tuệ,
và lương tâm để đánh giá trung thực, khách quan các bằng chứng, các tình tiết
của vụ án và việc áp dụng các quy định pháp luật để xét xử vụ án. Do đó,
trong xét xử và đặc biệt là việc tranh tụng tại Toà thì vai trò, tính “độc lập chỉ
tuân theo pháp luật” của Thẩm phán càng phải được phát huy hơn bao giờ hết,
khi đó Thẩm phán như là một trọng tài không thiên vị, một người phán xử
trung lập, Thẩm phán nghe và tạo điều kiện cho các bên cơ hội thích hợp để
trình bày chứng cứ, luận điểm để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết của vụ
án tại phiên toà, trên cơ sở đó thẩm phán đưa ra các phán quyết cuối cùng một
cách công tâm nhất.
Kinh nghiệm các nước cho thấy để thẩm phán thực hiện, phát huy tính
“độc lập” không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan, tổ chức nào thì bao giờ cũng
được pháp luật quy định rất rõ chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của thẩm
phán, cơ chế, điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện tính độc lập chỉ tuân theo
pháp luật của thẩm phán, ví dụ:
ở Hàn Quốc, để đảm bảo cho các thẩm phán không lệ thuộc vào bất cứ
cơ quan nào khác của Nhà nước, các thẩm phán được pháp luật quy định:
quyền bất khả bãi miễn thẩm phán, quyền tài phán, không thẩm phán nào có
thể bị sa thải khỏi cơ quan trừ khi bị buộc tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự. Các thẩm phán không bị đình chỉ công tác, hạ bậc lương hoặc bị kỷ
luật nếu chưa có Quyết định kỷ luật của Hội đồng kỷ luật tư pháp được thành
lập tại Toà án tối cao.
ở MaLayxia, các Thẩm phán đảm nhiệm công việc cho tới 65 tuổi, nếu
như không bị sa thải do những hành vi sai trái. Lương của Thẩm phán được
quy định bằng văn bản riêng do Nhà vua ban hành sau khi tham khảo ý kiến
của Chánh án Toà án tối cao. Chỉ có thẩm phán mới có quyền tài phán. Với
tính chất độc lập của mình, cơ qua tư pháp không phải chịu một sự kiểm sát
nào của cơ quan hành pháp, trừ cơ sở vật chất, nhân viên do Bộ Tư pháp quản