Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học kinh doanh và công nghệ hà
nội
------------
NGUYễN HữU NAM
HOàN THIệN Kế TOáN CHI PHí SảN XUấT Và TíNH GIá THàNH
SảN PHẩM TạI CÔNG TY Cổ PHầN SUPE PHốT PHáT
Và HóA CHấT LÂM THAO
Chuyên ngành: kế toán
Mã số: 60.34.03.01
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS NGHIÊM VĂN LợI
Hà nội - 2015
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nghiêm Văn
Lợi. Học viên trân trọng cảm ơn Thầy giáo đã định hướng và chỉ dẫn mẫu mực
trong suốt quá trình nghiên cứu của học viên.
Học viên xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong trường Đại học
Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã đào tạo giúp đỡ khoa học trong quá
trình hoàn thiện nghiên cứu này.
Học viên xin cảm ơn tới các anh chị em đồng nghiệp đã giúp đỡ và hỗ trợ
thông tin để có những phân tích sâu sắc các nội dung liên quan đến đề tài nghiên
cứu này.
HỌC VIÊN
đặc điểm là một đất nước có nền nông nghiệp truyền thống từ lâu đời, với
những ưu đãi về điều kiện thiên nhiên, khí hậu và con người nền kinh tế nông
nghiệp đã mang lại nguồn thu khá lớn cho ngân sách nhà nước. Chính vì vậy
các ngành sản xuất phục vụ, hỗ trợ cho ngành nông nghiệp cũng đóng một vai
trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển như hiện nay. Một trong số đó là ngành sản xuất kinh doanh
phân bón phục vụ cho nông nghiệp mà không thể không kể đến sự đóng góp
to lớn của Công ty Cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, một trong
những ngọn cờ đầu của ngành sản xuất kinh doanh phân bón, hóa chất nước
ta, cung ứng gần 20 triệu tấn phân bón cho đồng ruộng, sát cánh cùng nông
dân cả nước làm nên những vụ mùa bội thu, góp phần đưa nước ta trở thành
nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới.
Để thực hiện được mục tiêu hàng đầu là giữ vững và phát triển các sản
phẩm truyền thống phục vụ nông nghiệp, tạo sự phát triển ổn định lâu dài và
vững chắc, tối đa hóa lợi nhuận, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho cổ đông,
làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, đưa sản phẩm đến rộng rãi với tất cả bà
con nông dân thì công tác quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính trở nên rất
quan trọng.
Quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm chí phí sản xuất, góp phần hạ giá
thành sản phẩm là những biện pháp cơ bản giúp doanh nghiệp nâng cao lợi
1
nhuận, giúp đưa sản phẩm đến tay đông đảo người tiêu dùng. Mà Kế toán là
một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế tài
chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt
động kinh tế. Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế, tài chính - kế toán là một
lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính đảm nhiệm hệ thống tổ chức
thông tin có ích cho các quyết định kinh tế đặc biệt là thông tin về chi phí và
giá thành sản phẩm.
thành, giúp nhà quản lý kịp thời đưa ra các quyết định về sản xuất kinh doanh.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Công ty Cổ phần Supe Phốt
phát và Hóa chất Lâm Thao.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để đạt mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề vừa toàn diện, vừa cụ thể, có hệ thống
đảm bảo tính logic của vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp qui
nạp, diễn giải, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so
sánh, các phương pháp chuyên môn kế toán... để phân tích vấn đề, đánh giá
và rút ra kết luận.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty Cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty Cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao.
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
tế được xếp chung vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát sinh ở địa điểm
nào và chúng được dùng vào mục đích gì trong quá trình sản xuất.
Theo Chế độ kế toán hiện hành, với cách phân loại này, chi phí sản
xuất được chia làm 5 yếu tố:
+ Chi phí nguyên vật liệu bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… xuất dùng cho quá
trình sản xuất kinh doanh;
+ Chi phí nhân công bao gồm tiền lương công nhân viên và các khoản
trích theo tiền lương của công nhân viên;
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố
định phải trích trong kì của các tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh;
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua
ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh;
+ Chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền
ngoài các yếu tố chi phí kể trên dùng vào sản xuất kinh doanh;
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có căn cứ lập dự toán chi phí,
kiểm tra tình hình sử dụng chi phí trong doanh nghiệp. Từ đó đánh giá đúng
đắn kết quả kinh doanh và đưa ra các biện pháp tác động kịp thời vào quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
* Phân loại chi phí theo công dụng và đặc điểm chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất bao gồm các khoản mục:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí nguyên liệu, vật
liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ.
5
+ Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản phải trả cho
công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ như tiền lương,
tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương (Bảo hiểm xã
phí và chi phí hỗn hợp.
- Biến phí (chi phí biến đổi):
Biến phí là những khoản mục chi phí xét về tổng số thì có quan hệ tỷ lệ
thuận với biến động về mức độ hoạt động, còn khi tính cho một đơn vị sản
phẩm thì ổn định, không thay đổi khi có thay đổi về mức độ hoạt động. Trong
một doanh nghiệp sản xuất thì biến phí bao gồm các khoản chi phí như chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và một số khoản của chi
phí sản xuất chung như chi phí nhiên liệu, động lực…
Xét về tính chất tác động, biến phí chia làm 2 loại: biến phí tỷ lệ và
biến phí cấp bậc.
+ Biến phí tỷ lệ: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực
tiếp với biến động về mức độ hoạt động, như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp, …
+ Biến phí cấp bậc: là những khoản chi phí chỉ thay đổi khi mức độ
hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng. Biến phí loại này không thay đổi khi
mức độ hoạt động chưa đạt đến một giới hạn nhất định. Như vậy, biến phí cấp
bậc có quan hệ tỷ lệ nhưng không tuyến tính với mức độ hoạt động thay đổi,
cho phép chi phí thay đổi để tương ứng với mức độ hoạt động mới. Biến phí
cấp bậc gồm những khoản chi phí như chi phí tiền lương của bộ phận bảo
dưỡng, sửa chữa máy móc thiết bị...
- Định phí (chi phí cố định):
Định phí là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động
thay đổi. Nếu xét về tổng số thì tổng định phí không đổi khi mức độ hoạt
động thay đổi trong phạm vi phù hợp, còn nếu xét trên một đơn vị sản phẩm
thì định phí trên một đơn vị sản phẩm thay đổi khi thay đổi mức độ hoạt động.
Trong các doanh nghiệp sản xuất thì định phí thường là một số khoản của chi
7
- Theo yêu cầu sử dụng chi phí trong việc lựa chọn dự án đầu tư, chi
phí được phân loại như sau:
+ Chi phí chênh lệch:
Những khoản chi phí có ở phương án này nhưng không có hoặc chỉ có
một phần ở phương án khác gọi là chi phí chênh lệch.
Chi phí chênh lệch là một trong các căn cứ quan trọng để lựa chọn
phương án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh.
+ Chi phí cơ hội:
Chi phí cơ hội là lợi ích tiềm tàng bị mất đi do chọn phương án hành
động này thay vì chọn phương án hành động khác. Hành động khác là phương
án tối ưu có thể lựa chọn so với phương án được chọn.
Như vậy, ngoài những chi phí sản xuất kinh doanh đã được tập hợp
và phản ánh trên hệ thống sổ sách kế toán, trước khi lựa chọn phương án
sản xuất kinh doanh, nhà quản trị còn phải xem xét chi phí cơ hội phát sinh
do những yếu tố kinh doanh đó có thể sử dụng theo cách khác nhưng vẫn
mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Chi phí chìm:
Chi phí chìm là loại chi phí mà doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu bất kể
doanh nghiệp đã lựa chọn phương án hành động nào.
Chi phí chìm không bao giờ thích hợp với việc ra quyết định và chúng
không có tính chênh lệch do chi phí chìm có ở mọi phương án.
1.2. Khái niệm giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm
1.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản xuất sản phẩm được xác định bao gồm những chi phí về
lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác được dùng để sản xuất
hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định.
9
+ Giá thành định mức:
Được tính toán trên cơ sở những định mức kinh tế, kĩ thuật hiện hành.
Nó được xem là thước đo chính xác kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư,
tiền vốn trong doanh nghiệp để đánh giá các giải pháp mà doanh nghiệp đã áp
dụng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Giá thành định mức do bộ phận kế hoạch lập trước khi sản xuất. Trong
trường hợp có sự thay đổi về định mức kinh tế, kĩ thuật thì giá thành định
mức được lập trong quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Giá thành thực tế:
Được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình
sản xuất và khối lượng sản phẩm đã hoàn thành.
Giá thành thực tế được tính toán sau khi kết thúc quá trình sản xuất do
bộ phận kế toán thực hiện. Nó phản ánh tổng hợp kết quả phấn đấu của doanh
nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
* Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí.
+ Giá thành sản xuất (công xưởng):
Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc sản
xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất.
Giá thành sản
=
Chi phí NVL
+
Chi phí nhân
trong kỳ:
Giá thành sản phẩm = CPSX DD ĐK + CPSX PS trong kỳ - CPSX DD CK
Việc xác định giá thành sản phẩm mang tính chủ quan. Nó phụ thuộc vào
đặc điểm tính toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả, cũng như quy định
của chế độ quản lý kinh tế - tài chính, chế độ kế toán hiện hành.
1.4. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản
phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành giống
nhau ở bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp chi phí
sản xuất theo đó mà cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích và kiểm tra
chi phí, giá thành sản phẩm. Tuy vậy, giữa hai khái niệm này vẫn có sự khác
nhau nhất định.
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định phạm vi, giới
hạn tập hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ, để tổ chức kế toán chi tiết chi
phí sản xuất nhằm phục vụ cho việc kiểm soát chi phí và cung cấp tài liệu cho
việc tính giá thành sản xuất theo đối tượng tính giá thành.
12
Xác định đối tượng tính giá thành là xác định phạm vi, giới hạn của chi
phí liên quan đến kết quả sản xuất đã hoàn thành của quy trình sản xuất. Đây
là căn cứ để kế toán mở phiếu tính giá thành( bảng tính giá thành) sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ được sản xuất đã hoàn thành.
Trong thực tế có những trường hợp một đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất chỉ liên quan đến một đối tượng tính giá thành, lại có nhiều trường hợp
một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất liên quan đến nhiêu đối tượng tính giá
thành và ngược lại.
1.5. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp tính giá
thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất
=
Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ
- Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:
Ci = H x Ti
Trong đó:
Ci : Phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
Ti:Đại lượng tiêu chuẩn phân bổ để phân bổ chi phí của từng
đối tượng i.
1.5.2. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến
cuối cùng của quy trình công nghệ, còn đang nằm trong quá trình sản xuất.
Để tính được giá thành thực tế của sản phẩm hoàn thành trong kỳ,
doanh nghiệp cần thiết phải tiến hành xác định được giá trị sản phẩm dở dang
cuối kỳ.
Tuỳ theo đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất của
sản phẩm, khả năng và trình độ của người làm kế toán mà doanh nghiệp có thể
lựa chọn áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau:
14
* Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
hoặc chi phí nguyên vật liệu chính.
Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kì chỉ tính phần chi phí
nguyên vật liệu chính hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Còn các chi phí
sản xuất khác (chi phí chế biến) sẽ tính cả cho sản phẩm đã hoàn thành.
Phương pháp này có ưu điểm là tính toán đơn giản, nhanh chóng nhưng
kết quả tính toán có độ chính xác không cao. Vì vậy thường chỉ áp dụng trong
những doanh nghiệp mà chi phí nguyên vật liệu chính (hoặc trực tiếp) chiếm
phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang thì phải tuân thủ nguyên tắc nhất
quán để đảm bảo đánh giá đúng kết quả kinh doanh trong kỳ.
1.5.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Tính giá thành sản phẩm đối với doanh nghiệp có quy trình công nghệ
sản xuất giản đơn
- Phương pháp tính giá thành giản đơn:
Được áp dụng trong trường hợp từ khi đưa nguyên liệu vật liệu chính
vào quy trình sản xuất cho đến khi tạo ra sản phẩm là quy trình khép kín, kết
thúc quy trình sản xuất tạo ra một loại sản phẩm, đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, đối tượng tính giá
thành là khối lượng sản phẩm hoàn thành của quy trình sản xuất đó.
Z = Dđk + C – Dck
z = Z/ Qht
Trong đó: Z, z là tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm.
1.5.4. Phương pháp tính giá thành theo hệ số:
Được áp dụng trong trường hợp quy trình sản xuất sử dụng cùng một
loại nguyên vật liệu chính, kết thúc tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau,
còn gọi là quy trình sản xuất liên sản phẩm, đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, đối tượng tính giá
thành là từng loại sản phẩm hoàn thành.
16
Trình tự tính giá thành được thực hiện:
Giả sử một quy trình sản xuất liên sản phẩm A, B, C sản lượng sản
phẩm hoàn thành tương ứng là: QA , QB , QC và hệ số tương ứng HA, HB, HC
- Bước 1: Tập hợp chi phí sản xuất của toàn bộ quy trình công nghệ;
quy đổi sản phẩm hoàn thành thành phẩm chuẩn
QH = QAHA + QBHB + QCHC
17
phẩm phụ.
a. Tính giá thành sản phẩm đối với doanh nghiệp có quy trình công
nghệ sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục
* Tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm
- Áp dụng đối với đối tượng tính giá thành là các nửa thành phẩm.
- Giả sử một quy trình sản xuất chế biến liên tục gồm n giai đoạn.
Trình tự tính giá thành như sau:
+ Giai đoạn 1:
ZN1 = Dddk1 + C1 - Dck1
Nửa thành phẩm giai đoạn 1 được sử chủ yếu là chuyển giai đoạn 2 tiếp
tục chế biến, ngoài ra có thể bán nửa thành phẩm ra ngoài hay nhập kho nửa
thành phẩm.
+ Giai đoạn 2: Nhận nửa thành phẩm giai đoạn 1 chuyển sang để tiếp
tục chế biến tạo ra nửa thành phẩm giai đoạn 2, và:
ZN =DDK2 +ZN1 chuyển sang + C2 – Dck2
Trong đó: C2 là chi phí chế biến của giai đoạn 2.
Mỗi sản phẩm của giai đoạn 2 được kết tinh gồm 2 bộ phận chi phí:
+ Chi phí giai trước chuyển sang (giá thành NTP đoạn trước chuyển sang):
đây là bộ phận chi phí bỏ vào từ đầu quy trình của từng giai đoạn công nghệ.
+ Chi phí chế biến của giai đoạn 2: đây là bộ phận chi phí bỏ vào theo
mức độ gia công chế biến.
Tuần tự như vậy cho đến giai đoạn cuối cùng sẽ tính được giá thành
thành phẩm:
ZTP = Dđkn + ZNn – 1 chuyển sang + Cn - Dckn
*Tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm
Được áp dụng trong trường hợp đối tượng tính giá thành chỉ là thành
Tổ chức chứng từ bao gồm các công việc thiết kế hệ thống bản chứng
từ trên cơ sở phân loại đối tượng hạch toán kế toán và các giai đoạn luân
chuyển chứng từ được sắp xếp theo một trình tự nhất định tuỳ thuộc đặc điểm
riêng có trong quản lý loại nghiệp vụ kinh tế gắn với mỗi đối tượng phản ánh
của hạch toán kế toán.
Nội dung tổ chức chứng từ kế toán chi phí sản xuất bao gồm:
19
- Xác định danh mục chứng từ kế toán chi phí sản xuất:
Chứng từ kế toán phản ánh chi phí sản xuất bao gồm các chứng từ ghi
nhận mức chi phí về nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí lao động, khấu
hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác.
+ Chứng từ phản ánh về nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ: Phiếu xuất
kho, bảng phân bổ vật liệu và công cụ dụng cụ, bảng kê chứng từ hoá đơn
mua vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng không lưu chuyển qua kho;
+ Chứng từ phản ánh về chi phí lao động: Bảng thanh toán lương hoặc
bảng phân bổ tiền lương, các khoản trích theo tiền lương và tiền ăn ca (nếu
có), chi phí nhân công thuê ngoài;
+ Chứng từ phản ánh về chi phí khấu hao tài sản cố định: Bảng tính và
phân bổ khấu hao tài sản cố định;
+ Chứng từ phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài: hoá đơn giá trị
gia tăng, hoá đơn bán hàng thông thường, các chứng từ chi tiền mặt, giấy
báo Nợ của ngân hàng…;
+ Chứng từ phản ánh các khoản chi phí khác bằng tiền cho sản xuất
được tiếp nhận từ các phần hành liên quan và kế toán chi phí sản xuất, giá
thành tập hợp, phân loại để ghi sổ chi phí theo đối tượng hạch toán và tính giá
lựa chọn;
Mặt khác, tuỳ theo đối tượng kế toán chi phí sản xuất đã xác định của
kê khai thường xuyên hay kiểm kê định kì.
- Lựa chọn tài khoản cấp 1:
Việc lựa chọn tài khoản cấp 1 phụ thuộc vào phương pháp hạch toán
hàng tồn kho là kê khai thường xuyên hay kiểm kê định kì.
+ Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên thì
các tài khoản được sử dụng bao gồm:
TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
21