Xây dựng mô hình truyền thống ứng phó biến đổi khí hậu có sự tham gia của người dân xã nam phú, huyện tiền hải, tỉnh thái bình - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC

NGUYỄN THỊ TÚ ANH

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG ỨNG PHÓ VỚI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI
DÂN XÃ NAM PHÚ, HUYỆN TIỀN HẢI,
TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

HÀ NỘI – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC

NGUYỄN THỊ TÚ ANH

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG ỨNG PHÓ
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CÓ SỰ THAM GIA CỦA
NGƢỜI DÂN XÃ NAM PHÚ, HUYỆN TIỀN HẢI,
TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chƣơng trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: GS. TSKH Nguyễn Đức Ngữ


PHỤ LỤC ....................................................................................................................... 58


CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng học viên, các số liệu
khảo sát, thực nghiệm đƣợc công bố trong luận văn chƣa đƣợc ngƣời nào nghiên cứu
và công bố cả trong nƣớc và trên thế giới.

Tác giả

Nguyễn Thị Tú Anh


LỜI CẢM ƠN

Trƣớc hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm
ơn tới GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa sau Đại học – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng nhƣ trong suốt quá
trình nghiên cứu, hoàn thành và bảo vệ luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo trong Hội đồng xét duyệt Đề cƣơng luận văn
đã có những định hƣớng, góp ý cho tôi ngay từ bƣớc đầu xây dựng đề cƣơng luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn bè, đồng nghiệp thuộc
Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) đã giúp tôi trong quá
trình nghiên cứu thực địa để hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên
cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cho đến khi hoàn thành và
bảo vệ luận văn.

Biến đổi khí hậu

CARE

Hợp tác xã cho việc gửi hàng của Mỹ sang châu Âu

COP

Conference of Parties: Hội nghị các bên

ĐKHĐ

Đăng ký hành động

FAO

Food and agriculture organization of United nations: Tổ chức
Lƣơng thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

G8

Group of eight: nhóm 8 quốc gia có nền công nghiệp hàng đầu thế giới.

GDHĐ

Giáo dục hành động

IDRC
IMHEN
IPCC



SRD

Centre for sustainable rural development: Trung tâm phát triển nông
thôn bền vững

UBND

Uỷ ban nhân dân

UN

United Nations: Liên Hợp Quốc

UNDP

UNFCCC
WB

United Nations development programe: Chƣơng trình Phát triển
Liên Hợp Quốc
United nations Framework convention on Climate Change: Công ƣớc
Khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu
World bank: Ngân hàng thế giới


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các thảm họa xảy ra ở xã Nam Phú ..............................................................34
Bảng 2.2: Thông tin tổng hợp của ba xã Nam Phú, Nam Thịnh và Nam Hƣng ...............35

khăn và sinh kế phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên chính là nơi dễ bị tổn
thƣơng nhất do biến đổi khí hậu. Ngƣời dân ven biển là đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng nhất
do chủ yếu sinh kế dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, họ có năng lực thích ứng hạn
chế và thƣờng sinh sống ở những vùng địa lý dễ bị tổn thƣơng nhất bởi thiên tai, trong khi
lại thiếu các nguồn lực cần thiết để đƣơng đầu với rủi ro. Vì thế một trong những nhiệm
vụ quan trọng đƣợc nhấn mạnh trong Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến
đổi khí hậu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách
nhiệm cho toàn xã hội về biến đổi khí hậu, với mục tiêu đến năm 2015 có trên 80% cộng
đồng dân cƣ và 100% công chức, viên chức nhà nƣớc có hiểu biết cơ bản về biến đổi khí
hậu và các tác động của nó [15].

1


Công tác truyền thông đƣợc xem là một công cụ quan trọng có tác động làm
thay đổi nhận thức và hành vi, để con ngƣời tự nguyện tham gia vào các hoạt động ứng
phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, hiện nay dù công tác tuyên truyền đƣợc tiến hành
tích cực, nhận thức về biến đổi khí hậu đƣợc nâng cao hơn trong mấy năm trở lại đây
song phần lớn ngƣời dân mới biết đến biến đổi khí hậu mà chƣa hiểu một cách sâu sắc,
đầy đủ những vấn đề cơ bản của biến đổi khí hậu và những tác động của chúng. Hơn
thế nữa về những giải pháp mà bản thân và cộng động phải thực hiện để thích ứng và
giảm nhẹ biến đổi khí hậu chƣa đƣợc thể hiện trên thực tế, trong đó đặc biệt là tham
gia quá trình ra quyết định.
Trong bối cảnh đó, việc nâng cao nhận thức và tăng cƣờng năng lực ứng phó
với biến đổi khí hậu sẽ đặc biệt quan trọng để đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp của
các giải pháp thích ứng cả từ phía chính quyền và khu vực tƣ nhân. Đồng thời tăng
cƣờng vai trò của các cộng đồng dễ bị tổn thƣơng nhất trong quá trình ra quyết định.
Vì vậy, việc xây dựng các công cụ, mô hình, giải pháp truyền thông hiệu quả các
thông tin chính xác về ứng phó với biến đổi khí hậu và chia sẻ tri thức từ các nguồn
khác nhau là thực sự cần thiết. Đó sẽ là cơ sở để hỗ trợ cho tất cả quá trình ra quyết

2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá đƣợc mức độ nhận thức và sự tham gia của ngƣời dân trong việc chủ
động ứng phó biến đổi khí hậu tại thời điểm nghiên cứu, xác định đƣợc nội dung
truyền thông.
- Nghiên cứu, áp dụng đƣợc các cách tiếp cận mới trong truyền thông và xây
dựng đƣợc mô hình truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia của
ngƣời dân hiệu quả và khả thi với địa phƣơng nhằm nâng cao nhận thức và tăng cƣờng
năng lực chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, trong đó xây dựng đƣợc một Bảng đăng
ký cải thiện hành động ứng phó với biến đổi khí hậu có sự tham gia của ngƣời dân.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
-

Các hộ gia đình có sinh kế chính là nông nghiệp, thủy sản và du lịch tại xã

Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
-

Các hình thức, giải pháp, mô hình truyền thông hiệu quả và khả thi.

3.2. Phạm vi nghiên cứu
-

Không gian nghiên cứu: Giới hạn phạm vi nghiên cứu tại địa bàn xã Nam Phú,

huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, bên cạnh nghiên cứu mở rộng điều tra tại hai xã Nam

3



1.1. Các khái niệm, định nghĩa
1.1.1. Biến đổi khí hậu:
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc
nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó theo
một xu hƣớng nhất định, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là vài thập
kỷ hoặc dài hơn.[24]
Biến đổi khí hậu có thể xảy ra do các nguyên nhân tự nhiên hoặc nhân tạo:
Các yếu tố tự nhiên có thể làm cho khí hậu của trái đất thay đổi bao gồm sự
thay đổi về cƣờng độ bức xạ của mặt trời, sự thay đổi chậm về quỹ đạo của trái đất
quanh mặt trời, các hoạt động kiến tạo của vỏ trái đất, các hoạt động núi lửa, sự thay
đổi chuyển động của các dòng hải lƣu trong các đại dƣơng.
Các hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển (ví dụ việc
đốt nhiên liệu hóa thạch) và làm thay đổi bề mặt trái đất (ví dụ nhƣ nạn phá rừng, khai
khoáng, canh tác nông nghiệp, đô thị hóa, sa mạc hóa, v.v.)
Nguyên nhân chính của sự biến đổi khí hậu hiện nay của trái đất là do sự gia
tăng các hoạt động tạo ra các khí gây hiệu ứng nhà kính, các hoạt động khai thác quá
mức các bể hấp thụ và bể chứa cácbon nhƣ các hệ sinh thái rừng, các hệ sinh thái biển,
ven bờ và đất liền khác.
Những biến đổi trên sẽ tác động và gây hậu quả rất lớn đến tất cả các lĩnh vực
của xã hội [9].
1.1.2. Ứng phó với biến đổi khí hậu [14]
Biến đổi khí hậu đang diễn ra và là quá trình không thể đảo ngƣợc. Nhân loại có
thể ứng phó với biến đổi khí hậu bằng cách thích ứng với tác động của nó (để làm
giảm thiệt hai do biến đổi khí hậu gây ra) và bằng cách giảm phát thải khí gây hiệu
ứng nhà kính (giảm nhẹ) để làm giảm mức độ và cƣờng độ của sự thay đổi.
a. Thích ứng với biế n đổ i khí hậu [14]
5


Thích ƣ́ng với biế n đổ i khí hâ ̣u là sƣ̣ điề u chỉnh c ác hê ̣ thố ng tƣ̣ nhiên hoă ̣c con

Mã hõa: là quá trình diễn dịch tƣ duy thành hình thức biểu tƣợng.

-

Thông điệp: là tập hợp các biểu tƣởng mà ngƣời gửi chuyển đi.

6


-

Phƣơng tiện truyền thông: là những kênh truyền thông mà thông qua đó thông
điệp di chuyển từ ngƣời gửi đến ngƣời nhận.

-

Giải mã: là quá trình mà nhờ đó ngƣời nhận ấn định ý nghĩa cho các biểu tƣợng
đã đƣợc mã hóa bởi ngƣời gửi.

-

Ngƣời nhận: là bên tiếp nhận thông điệp đƣợc gửi bởi một bên khác.

-

Phản ứng: là những hành động phản ứng của ngƣời nhận sau khi đã xem thông
điệp.

-


xã hội về một chủ trƣơng, một dự án v.v…hoặc về một sản phẩm, một dịch vụ…cần
tham khảo ý kiến rộng rãi nhằm hoàn thiện trƣớc khi triển khai.
- Phương thức truyền thông nhiều chiều: Khác với phƣơng thức truyền thông
hai chiều, phƣơng thức truyền thông nhiều chiều đòi hỏi ngƣời gửi thông điệp truyền
thông cần hiểu biết đối tƣợng truyền thông trƣớc khi gửi thông điệp truyền thông. Để
làm đƣợc việc này, ngƣời làm truyền thông phải tổ chức thu thập thông tin từ phía đối
tƣợng truyền thông. Có nhiều phƣơng pháp thu thập thông tin, song phổ biến và hiểu
quả nhất là tiến hành điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực tế tại cơ sở. Vì vậy quá trình
truyền thông theo phƣơng thức nhiều chiều bao gồm 3 bƣớc thu thập thông tin về đối
tƣợng truyền thông, gửi thông điệp truyền thông tới đối tƣợng truyền thông, phản hồi
thông tin từ phía đối tƣợng truyền thông. [10]
Phƣơng thức truyền thông nhiều chiều thƣờng đƣợc sử dụng trong các chiến
dịch truyền thông quy mô lớn (thí dụ: về Chƣơng trình xóa đói giảm nghèo, về phòng
chống HIV/AIDS, v.v…). Các kênh truyền thông trong phƣơng thức này thƣờng là các
phƣơng tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình v.v…) hoặc kết hợp
với nhiều kênh khác nhau (nhƣ mít tinh, cổ động, hội nghị, hội thảo, huấn luyện
v.v…kết hợp với các phƣơng tiện truyền thông đại chúng.
1.1.4. Tham gia
Tham gia – participation đƣợc dịch thành 2 từ tham dự và tham gia. Theo GS
Tô Duy Hợp thì tham dự là tham gia ở mức thấp còn tham gia là tham dự ở mức cao.
Và phƣơng pháp luận tham gia là phƣơng pháp luận đi từ dƣới lên tức là đi từ ngƣời
dân và trở thành khoa học.
Tham gia của cộng đồng
Khái niệm “sự tham gia của cộng đồng” (community participation) đƣợc hình
thành từ hai yếu tố: đó là yếu tố “cộng đồng” (community) và yếu tố “sự tham gia”
(participation).
Theo Wates Nick, “cộng đồng” có thể định nghĩa là “một nhóm ngƣời sống trong
cùng một khu vực địa lý và có chia sẻ nhiều đặc điểm chung”. Còn theo Nabeel Hamdi
trong cuốn sách (viết cùng Reinhard Goethert) “Hành động trong quy hoạch thành phố:
8

Nhiều Hội nghị đã ra tuyên bố về biến đổi khí hậu nhƣ Hội nghị cấp cao Á - Âu
lần thứ 6 (ASEM 6) họp tháng 11 năm 2006 tại Copenhagen (Đan Mạch), Hội nghị
9


thƣợng đỉnh các nƣớc công nghiệp phát triển (G8) họp tháng 6 năm 2007, Hội nghị
cấp cao APEC họp tháng 9 năm 2007 tại Úc, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc họp tháng
9 năm 2007, Hội nghị quốc tế về Biến đổi khí hậu họp tại Bali (Inđônêxia) tháng 12
năm 2007, và gần đây là Hội nghị diễn đàn kinh tế thế giới họp tại Đa vốt (Thụy Sĩ)
tháng 1 năm 2008 v.v... Tổng thƣ ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon phát biểu trong
thông điệp gửi Chính phủ các nƣớc rằng "Biến đổi khí hậu cũng khiến nhân loại phải
đối mặt với những đe dọa to lớn nhƣ chiến tranh", rằng "Biến đổi khí hậu không chỉ là
vấn đề môi trƣờng, mà còn là mối đe dọa toàn diện, ảnh hƣởng đến sức khỏe con
ngƣời, đến tình trạng cung cấp lƣơng thực toàn cầu, đến vấn đề di dân và đe dọa nền
hòa bình và anh ninh thế giới". Nhiều nƣớc đã thành lập các tổ chức để chỉ đạo và điều
phối các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng các chƣơng trình, chiến
lƣợc hoặc kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
Cộng đồng khoa học từ lâu đã thừa nhận tầm quan trọng của việc truyền thông
về biến đổi khí hậu. Kể từ đầu những năm 1990, nhiều nghiên cứu đã xuất hiện trong
đó phân tích cách thức truyền thông hiện nay về biến đổi khí hậu đối với các đối tƣợng
khác nhau. Số lƣợng các nghiên cứu này ngày một tăng lên [22]. Đã có một vài bài
viết giới thiệu trong lĩnh vực này, chẳng hạn nhƣ của Susanna Moser (2010), Truyền
thông biến đổi khí hậu: Lịch sử, thách thức, quá trình, định hƣớng tƣơng lai [28];
Alison Anderson (2009), Xây dựng một chƣơng trình nghiên cứu để phân tích sâu hơn
trung gian truyền thông biến đổi khí hậu; hay Anabela Carvalho (2010 ) Mô tả các
khía cạnh chính trị của truyền thông đầy đủ, an toàn và nghiên cứu tổng quan về các
lĩnh vực của nó trong khi chƣa có đối tƣợng và đặc điểm.
Nhiều dự án truyền thông đƣợc nghiên cứu, xây dựng, tài trợ và triển khai bởi
các tổ chức lớn nhƣ UN, FAO, UNDP, NGOs…Tuy nhiên chúng không đi sâu vào
nghiên cứu xây dựng mô hình truyền thông ứng phó biến đổi khí hậu mà chủ yếu là

thiên nhiên hỗ trợ giáo dục, quá trình nhận thức và đào tạo công lập, cũng nhƣ cho phép
Bộ đạt đƣợc tầm lãnh đạo chính trị trong việc tăng cƣờng pháp lý và thể chế của vấn đề
biến đổi khí hậu. Ngoài ra, dự án đã đóng một vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ các chính
phủ Guatemala tại các cuộc đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong các
vòng đàm phán cuối cùng của Nghị định thƣ Kyoto và các hội nghị lần thứ 15 của các bên
tham gia Công ƣớc Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
Năm 2013, tại Ghana Dự án “Khuôn khổ truyền thông rủi ro biến đổi khí hậu
cho chính sách phát triển đô thị ven biển” đƣợc triển khai. Mục tiêu dự án nhằm tích
hợp phân tích rủi ro khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào quy hoạch phát triển thành
phố ven biển Ghana.
11


Năm 2013, chính phủ Australia tiếp tục phát động chƣơng trình quốc gia lần
thứ 6 về truyền thông biến đổi khí hậu. Trong đó các khu vực ven biển là trọng tâm
của chƣơng trình.
Tựu chung, trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về truyền
thông biến đổi khí hậu ở các khu vực, quy mô và đối tƣợng khác nhau, đặc biệt trong
vòng 30 năm trở lại đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc xây dựng mô hình truyền
thông ứng phó với biến đổi khí hậu thì mới chỉ đƣợc nghiên cứu trong những năm gần
đây theo các cách tiếp cận khác, chƣa thể đƣa ra một kết quả tổng quan chung hay một
mô hình xác định.
1.2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam về truyền thông BĐKH
Biến đổi khí hậu đối với Việt Nam không còn là một vấn đề xa lạ, vấn đề này
đƣợc nghiên cứu từ những năm 1990 và đƣợc chú trọng nghiên cứu từ năm 2000 đăc
biệt là từ năm 2008 đến nay. Các nghiên cứu trong thời gian đầu tập trung chủ yếu vào
tìm hiểu bản chất, nguyên nhân, diễn biến và đề xuất nguyên tắc, giải pháp chung để
thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu [12].
Nƣớc ta đã có nhiều chƣơng trình, nhiều nghiên cứu nhằm ứng phó với biến đổi
khí hậu nhƣ: Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (2008),

Tại Việt Nam, truyền thông về biến đổi khí hậu đã và đang đƣợc nhiều tổ chức
nghiên cứu và đánh giá. Theo Tổ chức Đông Tây hội ngộ (EMWF) từng công bố trong
kết quả nghiên cứu về “Sự thích ứng với biến đổi khí hậu ở tỉnh Quảng Nam”, có
khoảng 49% ngƣời đƣợc phỏng vấn không biết về các chính sách và quy trình của Nhà
nƣớc, 72% không biết về các kế hoạch chuẩn bị phòng chống thiên tai… vì thế, họ
không có khả năng lên kế hoạch và chuẩn bị ứng phó với thiên tai [36].
Kết quả điều tra của Trung tâm Nghiên cứu môi trƣờng, Viện Khoa học xã hội
vùng Nam Bộ về hoạt động truyền thông thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng
dân cƣ ven biển ở xã Hiệp Thạnh (huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh) và xã Đất Mũi
(tỉnh Cà Mau) cho thấy, có đến 58,7 % số ngƣời chƣa từng nghe đến khái niệm biến
đổi khí hậu, 35,3% số ngƣời đã từng nghe đến biến đổi khí hậu nhƣng không biết ý
nghĩa của cụm từ này [35].
Do có địa bàn sát biển và chịu tác động của các nguy cơ sói lở, nhiều hộ gia
đình cần các thông tin dự báo thời tiết. Tuy nhiên, đã có 58,9% số ngƣời dân cho rằng
khi có các sự kiện thời tiết nghiệm trọng đã không nhận đƣợc các thông tin trƣớc đó.
Còn lại 41,1% có nhận đƣợc thông tin về sự kiện thời tiết nghiệm trọng nhƣng nguồn
nhận chủ yếu cũng từ truyền hình…[35]
13


Việc ứng phó với vấn đề thiên tai, mỗi ngƣời dân cần có những kiến thức, kỹ
năng cần thiết. Tuy nhiên, với ngƣời dân ven biển, việc ứng phó với vấn đề này chủ
yếu dựa trên kinh nghiệm đúc kết của bản thân (37,9%), còn kiến thức và kỹ năng có
đƣợc qua hoạt động tập huấn, do đƣợc ngƣời khác hƣớng dẫn, chính quyền địa phƣơng
phổ biến chỉ có 16,0%, còn lại 5,3% tiếp nhận và học tập từ báo đài [35].
Một kết quả nghiên cứu khác của BBC Media Action năm 2013 về “Ngƣời dân
Việt Nam đang thích ứng với biến đổi khí hậu thế nào và truyền thông có thể làm gì để
hỗ trợ họ” trong khuôn khổ dự án Climate Asia do Bộ Phát Triển Quốc Tế Anh
(DFID) tài trợ, cho thấy có 41% ngƣời dân ở ĐBSCL cho rằng chƣa bị ảnh hƣởng tức là chƣa cần phải hành động, trong khi có 14% cố tồn tại: quá khó khăn để làm
đƣợc gì, 10% chật vật: có hành động nhƣng gặp khó khăn, 16% thích ứng: đã và muốn

hậu tại Việt Nam” đƣợc thực hiện từ tháng 09/2014 với sự hỗ trợ của Mạng lƣới các tổ
chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực biến đổi khí hậu (VNGO&CC) do Bộ
Ngoại giao và Thƣơng mại Úc (DFAT) và đƣợc thực hiện thông qua Trung tâm Phát
triển Nông thôn Bền vững (SRD). Mục tiêu của dự án là thống kê, tổng hợp đƣợc các
mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu đã đƣợc thực hiện bởi các tổ chức phi chính
phủ tại Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014; xây dựng đƣợc bộ tiêu chí cấp Cục đánh giá
tính thích ứng của các mô hình dựa trên cơ sở khoa học; áp dụng thí điểm bộ tiêu chí
để đánh giá một số mô hình thích ứng trên 04 tỉnh thí điểm; xuất bản đƣợc ấn phẩm
tổng kết các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu có hiệu quả cao kèm theo khuyến
cáo sử dụng đối với từng điều kiện cụ thể [37].
Trong khuôn khổ Quỹ Hợp tác địa phƣơng, dự án Nâng cao năng lực về Biến
đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự (2009-2011) hƣớng đến Nhóm làm việc về
biến đổi khí hậu (CCWG) và Mạng lƣới các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam và biến
đổi khí hậu (VNGO&CC). Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) đóng vai
trò điều phối. Cuốn “Tài liệu đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu” là một trong
những hoạt động khác của dự án. Mục đích nhằm nâng cao nhận thức và năng lực cho
các tổ chức xã hội dân sự trong việc giảm thiểu, thích ứng với biến đổi khí hậu và lồng
ghép nhiệm vụ này vào các chƣơng trình liên quan hiện có hoặc trong tƣơng lai, nhằm
đóng góp vào sự phát triển bền vững lâu dài của Việt Nam. Trong số nhiều mục tiêu,
nâng cao nhận thức của ngƣời dân và phát triển nguồn nhân lực là ƣu tiên hàng đầu
của dự án. [37]
Năm 2011, Dự án “Nghiên cứu mô hình truyền thông về rủi ro biến đổi khí hậu
liên quan đến nƣớc ở khu vực đồng bằng sông Mekong tại Việt Nam” – Dƣ̣ án tài trơ ̣
bởi Ma ̣ng lƣới Nghiên cƣ́u sông Mekong Bề n vƣ̃ng (Sumernet). Dự án đƣợc tiến hành
15


bởi các viện nghiên cứu và trƣờng đại học tại những khu vực thƣờng xảy ra thiên tai
liên quan đến nƣớc ở Việt Nam, Campuchia và Thái Lan từ tháng 07/2011 đến tháng
09/2012. Những tổ chức tham gia dự án ở Việt Nam gồm có: Viện Chiến lƣợc và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status