LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tôi cũng xin
cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa
từng được sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc. Đồng
thời tôi xin cam đoan trong quá trình thực hiện đề tài tại địa phương tôi luôn chấp
hành đúng mọi quy định của địa phương nơi thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 1tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Như
1
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, thực tập tốt nghiệp và hoàn thành
Khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ rất nhiệt tình về nhiều mặt của các tổ chức và các cá nhân
trong và ngoài trường.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám đốc Học
Viện Nông nghiệp Việt Nam, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, bộ môn Kinh Tế
Tài Nguyên và Môi Trường và các thầy, cô giáo đã tạo điều kiện cho tôi học tập,
nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo: CN. Hoàng Thị Hằng
và thầy giáo: GS.TS Nguyễn Văn Song, người đã dành nhiều thời gian trực tiếp
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND xã Tây Phong,
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình và những hộ nông dân xã Tây Phong đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã ủng
hộ, khích lệ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
là những yếu tố có ảnh hưởng tới việc huy động các nguồn lực xã hội trong thực thi
tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM của xã.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính
là: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu (chọn 3/4 thôn của xã) và chọn mẫu là 60
hộ nông dân đã được chọn điểm; phương pháp thu thập tài liệu (sơ cấp và thứ cấp);
phương pháp xử lý thông tin; phương pháp phân tích thông tin (thống kê mô tả; so
sánh); hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu. Đây đều là những phương pháp nghiên cứu phù
hợp với đề tài.
3
3
Qua nghiên cứu tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng mô
hình NTM tại xã có một số vấn đề nổi bật sau:
Thứ nhất: Về tình hình cấp và sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh
Xã Tây Phong đã được lắp đặt hệ thống xử lý và cấp nước sạch, nên hiện
nay, có 100% hộ dân trong xã được cấp và sử dụng nước sạch.
Thứ hai: Về tình hình thu gom, xử lý rác thải tại xã Tây Phong
Trong môi trường hộ, đạt 100% hộ dân có thu gom rác thải sinh hoạt, nhưng
tỉ lệ hộ phân loại rác thải sinh hoạt chỉ chiếm 76,67%, tỉ lệ thu gom rác thải cứng
tập trung chiếm tỉ lệ thấp chỉ 36,67%. Hình thức xử lý rác thải trong sinh hoạt của
hộ chủ yếu là thu đốt, thu gom tập trung, chôn lấp trong hố, một số hộ ý thức kém
còn đổ ra mương, đường làm ảnh hưởng tới môi trường và mỹ quan
Trong trồng trọt, rác thải sản xuất nông nghiệp có rác thải cứng và mềm. Rác
thải cứng là bao bì, chai lọ thuốc thuốc trừ sâu. Rác thải mềm trong sản xuât nông
nghiệp là rơm rạ, trấu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ thu gom rác thải cứng khá
cao hơn 73%; tỉ lệ hộ thu gom rơm rạ chiếm 65% do các hộ này vẫn có hình thức
nấu ăn truyền thống là đun bằng rơm rạ, hay thu gom để ủ làm phân Hình thức xử
lý rác thải cứng chủ yếu các hộ sử dụng xong vứt luôn ra mương đường chiếm
66,67% do xã chưa có phong trào xây bể chưa rác nông nghiệp, hình thức thu đốt
chiêm 15%.
Trong chăn nuôi, rác thải mềm trong bao gồm thức ăn thừa, phân, thịt thối.
Trong môi trường trồng trọt, tỷ lệ người dân áp dụng kỹ thuật 3 giảm 3
tăng đã đạt tới 85,00%, tỷ lệ hộ dân sử dụng phân chuồng ủ hoai mục cho cây
trồng vẫn giữ ở mức cao chiếm 51,67%.
Trong môi trường chăn nuôi, có hơn 63% hộ xây khu chăn nuôi xa nhà ở
đảm bảo vệ sinh môi trường.
Thứ năm: Các hoạt động gây suy thoái môi trường tại xã Tây Phong
Trong môi trường dân cư, các hoạt động xả rác thải, nước thải trực tiếp ra
đường, sông; sử dụng thuốc diệt cỏ ở bờ mương, sông đã gây ô nhiễm nghiêm
trọng tới môi trường xung quanh và sức khỏe của con người.Trong môi trường
sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng thuốc diệt cỏ và diệt ốc chiếm tỉ lệ khá cao,
làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường đất, nước, không khí khi nó làm trai
đất giảm độ phì của đất và năng suất cây trồng ng nghiệp.
5
5
Qua quá trình thực hiện đã phân tích, tôi có tổng kết được một số yếu tố ảnh
hưởng đến tình hình thực thi tiêu chí MT ở xã Tây Phong chịu ảnh hưởng chính bởi
các yếu tố như: Tài chính, nhận thức và sự tham gia của người dân, năng lực và
trình độ chuyên môn của cán bộ cơ sở.
Từ tổng kết lý luận, thực tiễn và phân tích tình hình thực hiện, các yếu tố ảnh
hưởng ở địa phương chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện và phát
triển các hình thức liên kết: Giải pháp về vốn, nâng cao trình độ dân trí, đẩy mạnh
công tác thông tin tuyên truyền, đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ.
6
6
MỤC LỤC
7
7
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Kí hiệu viết tắt Nghĩa đầy đủ
BCĐ Ban chỉ đạo
(khoảng trên 60 triệu người, Hải Yến( 2012)). Cùng với tốc độ hóa ngày càng cao
thì sự khác biệt giữa thu nhập và mức sống dân cư sống ở thành thị và sống ở nông
thôn ngày càng lớn. Có rất nhiều khó khăn ảnh hưởng tới quá trình phát triển của
nông thôn như: tỉ lệ nghèo đói, tỉ lệ thất nghiệp cao, ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng, diện tích đất nông nghiệp giảm do quá trình công nghiệp hóa, dịch vụ nông
thôn kém phát triển kể cả y tế, giáo dục, là rào cản cho quá trình chuyên môn hóa.
Trước yêu cầu của phát triển và hội nhập , mục tiêu đẩy nhanh công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi có nhiều chính sách đột phá và động bộ nhằm
giải quyết toàn bộ các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa của nông thôn. Nhờ sự quan
tâm, lãnh đạo của Đảng mà vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn được đặt
lên hàng đầu và có những chuyển biến tích cực. Đời sống vật chất của dân cư nông
thôn không ngừng được cải thiện, nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng xuất hiện
biến đổi tiêu cực làm ảnh hưởng tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống người dân do
kinh tế ngày càng phát triển đòi hỏi nhu cầu sản phẩm tăng cả về chất lượng và số
lượng gây gánh nặng cho sản xuất nông nghiệp và làm ô nhiễm môi trường trong sản
xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Mặt khác khi đời sống của người dân được cải thiện và
nâng cao làm lượng rác thải và nước thải tăng và về số lượng và nồng độ, nếu giải
quyết không triệt để sẽ gây ô nhiễm môi trường và làm mất mỹ quan nông thôn.
Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành nghị
quyết 26-NQ/TW ngày 05/28/2008 về vấn đề nông nghiệp nông dân và nông thôn,
tiến hành xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa
– hiên đại hóa. Cùng với quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển
nông thôn, xã Tây Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã tiến hành thực hiện
chương trình nông thôn mới theo 19 tiêu chí trong đó có tiêu chí số 17 nhằm bảo vệ
9
9
môi trường. Mục tiêu của mô hình nông thôn mới là phát triển kinh tế, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của người dân được, phát triển nông thôn theo quy hoạch,
cơ cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa được
giữ gìn và phát huy, môi trường sinh thái được bảo vệ.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực thi tiêu chí môi trường
trong xây dựng mô hình NTM tại xã Tây Phong;
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời câu hỏi sau:
- Tình hình thực thi tiêu chí môi trường trong xây dựng mô hình NTM tại xã
Tây Phong đang diễn ra như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình thực thi tiêu chí môi trường trong xây
dựng mô hình NTM của xã Tây Phong?
- Các giải pháp nào để hoàn thiện việc thực thi tiêu chí môi trường trong xây
dựng mô hình NTM tại xã Tây Phong?
1.4 Đối tượng, địa bàn, phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về xây dựng
nông thôn mới, đặc biệt quan tâm phân tích những tiêu chí liên quan đến vấn đề môi
trường khi xây dựng mô hình nông thôn mới và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả
thực hiện tiêu chí môi trường tại xã Tây Phong.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Xã Tây Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi thời gian:
+ Thời gian thu thập số liệu: Thời gian nghiêu cứu đề tài: số liệu thứ cấp
được thu thập trong thời gian từ năm 2012 – 2014, số liệu sơ cấp 1/2015 – 5/2015.
+ Thời gian thực hiện đề tài: 1/2015 – 6/2015
- Phạm vi nội dung : Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung về tình hình thực thi
tiêu chí môi trường trong dân cư nông thôn và môi trường sản xuất nông nghiệp;
tình hình cấp và sử dụng nước sạch; tình hình thu gom, xử lý rác chất thải, các hoạt
động bảo vệ môi trường.
11
11
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; Tiến bộ hơn so với mô hình
cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước.
Xây dựng NTM là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo
động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện chính sách
vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện mạo đời sống,
văn hóa, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và thành thị. Đây là quá
trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng tâm cần lãnh đạo, chỉ
đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước và của các địa phương trong
giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.
Mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; Cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển
nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn ổn định, giàu
bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; Nâng cao sức mạnh của
hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; Xây dựng giai cấp nông
dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội
và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước theo định hướng XHCN. Như vậy, hiểu một cách chung nhất của mục
đích xây dựng mô hình nông thôn mới là hướng đến một nông thôn năng động, có
nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị.
Do đó, có thể quan niệm: “NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo
thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho
nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô
hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt”.(Phan Xuân Sơn và cộng sự, 2009).
2.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta
Trong những năm qua, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không
ngừng được nâng cao. Đặc biệt, khu vực nông thôn đang có bước phát triển khá
toàn diện, sản xuất nông nghiệp tăng; kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được tăng
cường, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, an ninh - chính trị được giữ vững Tuy
13
13
Người nông dân vốn nghèo lại ngày càng đối mặt với giá cả leo thang như
điện, xăng dầu, học phí…thiên tai, dịch bệnh. Trong khi đó, một gia đình còn bao
nhiêu thứ phải dùng đến tiền như học phí, xăng xe, trả lãi ngân hàng, khám bệnh…
Đúng như lời nhận xét của TS Nguyễn Duy Lượng- Phó Chủ tịch T.Ư Hội
Nông dân Việt Nam: Nông dân hiện có nhiều cái nhất: Đông nhất, nghèo khổ nhất,
chịu nhiều thiệt thòi nhất, bất lực nhất, dễ bị tổn thương nhất, đời sống bấp bênh nhất…
Thứ tư, Do yêu cầu nâng cao mức thụ hưởng thành tựu của công cuộc đổi
mới đối với giai cấp nông dân (giai cấp đã cùng với giai cấp công nhân đi suốt
chiều dài lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam)
Gần 70% dân số, nông dân nước ta là lực lượng cốt yếu giữ cho đất nước ổn
định nhưng trên thực tế giai cấp nông dân bị thiệt thòi nhiều nhất, được thụ hưởng
thành quả của công cuộc đổi mới thấp nhất: Cơ sở hạ tầng hạn chế, điều kiện sản
xuất, sinh hoạt khó khăn, thu nhập thấp, khả năng tiếp cận các dịch vụ thấp, chất
lượng cuộc sống thấp, người dân phải đóng góp nhiều,… vì vậy cần xây dựng NTM
để nhà nước quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn cho nông dân.
Thứ năm, yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Để công nghiệp hóa cần đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Trong 03 yếu tố
này thì có hai yếu tố thuộc về nông nghiệp, nông dân, qua xây dựng NTM sẽ quy
hoạch lại đồng ruộng, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.
Mặt khác, mục tiêu mà Đảng và Chính phủ đặt ra đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp. Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp,
nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó.
2.1.3 Nguyên tắc xây dựng mô hình nông thôn mới trong phát triển kinh tế- xã hội
Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày
13 tháng 4 năm 2011 về hướng dẫn thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg đã đề ra 6
nguyên tắc trong xây dựng nông thôn mới như sau:
(1). Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải
hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
ban hành tại Quyết định số 491/Q Đ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng
Chính phủ.
mới bao gồm:
16
16
- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
- Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
- Giảm nghèo và an sinh xã hội
- Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
- Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
- Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
- Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn cấp nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội
trên địa bàn
- Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
2.1.4.2 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Căn cứ quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
* Các nhóm tiêu chí
- Nhóm I: Quy hoạch( 1 tiêu chí)
- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế- xã hội( 8 tiêu chí)
- Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất( 4 tiêu chí)
- Nhóm IV: Văn hóa- xã hội- môi trường( 4 tiêu chí)
- Nhóm V: Hệ thống chính trị( 2 tiêu chí)
2.1.5 Nội dung xây dựng tiêu chí môi trường
Tiêu chí môi trường là một trong 19 tiêu chí nông thôn mới theo Quyết định
491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu
chí Quốc gia về nông thôn mới.
2.1.5.1 Mục tiêu
Mục tiêu chung của tiêu chí này là : Bảo vệ môi trường, sinh thái, cải thiện,
17.9
Có khu xử lý rác thải của xã hoặc cụm xã hoặc có khu xử lý trong
huyện, liên huyện và người dân phải trả chi phí thu gom và xử lý
17.10
Chất thải, nước thải trong khu dân cư, chợ, cơ sở sản xuất kinh doanh
được thu gom và xử lý theo quy định và người dân phải trả chi phí xử lý.
( Nguồn: Quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16/4/2009)
18
18
2.1.5.3 Nhiệm vụ của tiêu chí MT
Nhiệm vụ chung
Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn
theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong
thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo
nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây
xanh ở các công trình công cộng….
Nhiệm vụ cụ thể
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm
bảo vệ môi trường cho mọi người.
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp,
chăn nuôi gia súc gia cầm.
- Triển khai thực hiện tốt phân loại chất thải rắn tại nguồn kết hợp với việc
cải tiến toàn bộ hệ thống thu gom - vận chuyển - xử lý chất thải rắn.
- Phát triển các hệ thống cung cấp nước sạch và cải thiện điều kiện vệ sinh
môi trường nông thôn.
-Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang.
- Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây
2.1.6 Các bước xây dựng và thực hiện tiêu chí môi trường
Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày
13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp PTNT, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính
tự bỏ công xây dựng nên người dân sẽ là người trực tiếp và tự kiểm tra bảo vệ công
trình của mình (dân kiểm tra), vì lợi ích trực tiếp của chính mình (dân hưởng lợi).
c. Năng lực quản lý, trình độ chuyên môn của cán bộ cơ sở
Đội ngũ cán bộ là khâu quan trọng trong, đóng vai trò quyết định đến chất
lượng, hiệu quả của công tác thực hiện tiêu chí môi trường. “Cán bộ là gốc của mọi
việc”, do đó năng lực quản lý, điều hành thực hiện tiêu chí môi trường cũng như
năng lực chuyên môn của từng cán bộ cơ sở ảnh hưởng tới mức độ hoàn thiện của
tiêu chí MT. Cán bộ có năng lực tốt, chuyên môn giỏi sẽ đưa ra được các mục tiêu,
nội dung thực hiện phù hợp, tạo động lực phấn đấu hoàn thiện tiêu chí MT và ngược
lại nó sẽ làm mất lòng tin của dân.
20
20
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình thực thi tiêu chí môi trường trong xây dựng mô hình nông thôn
mới trên thế giới
2.2.1.1 Trung Quốc
Mục tiêu cải thiện nước sạch và vệ sinh môi trường ở Trung Quốc được bắt
đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước. Từ đó đến nay, Trung Quốc đã liên tục tổ
chức thực hiện các kế hoạch 05 năm và xác định vấn đề nước sạch và vệ sinh môi
trường lồng ghép với phát triển kinh tế nông thôn và là tiền đề cho việc xây dựng kế
hoạch. Chìa khóa thành công của Trung Quốc chính là quá trình lập kế hoạch, xác
định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành từ Trung ương đến
địa phương. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo
nguồn tài chính là rất quan trọng. Chiến lược huy động vốn từ 03 nguồn: Nguồn
TW và địa phương, huy động quyên góp từ các tổ chức, giới kinh doanh và đóng
góp của người hưởng lợi là của hộ gia đình từ những chương trình này.
Từ 1980, trong quá trình thực hiện các kế hoạch năm năm đã qua mỗi giai
đoạn đều có tỷ lệ đầu tư về vốn khác nhau.Hiện nay trong giai đoạn lồng ghép NS-
VSMT với phát triển kinh tế thì số lượng vốn từ phía nhà nước phải nhiều hơn.
Chiến lược huy động vốn ở Trung Quốc rất hiệu quả, trung bình mỗi năm huy động
khỏe, việc giáo dục, nâng cao kiến thức được chia làm các giai đoạn. Bên cạnh đó
chính quyền địa phương cũng có những khoản đầu tư nhất định cho xây dựng và
phát triển nhà tiêu hợp vệ sinh. Có cơ chế đầu tư xây dựng theo hướng Nhà nước và
nhân dân cùng làm
Về hỗ trợ kỹ thuật: Trung Quốc đã xây dựng 02 tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn nhà
tiêu hợp vệ sinh và tiêu chuẩn xử lý rác thải (lò đốt rác). Ban hành thiết kế chuẩn
cho nhà tiêu nông thôn gồm các loại sau: Biogas, tự hoại 3 bể, tự hoại 2 bể, nhà tiêu
khô sinh thải, nhà tiêu tự hoại nối với hệ thống nước thải chung. Các loại hình nhà
tiêu này rất quan trọng đối với Trung Quốc do người dân có thói quen sử dụng phân
người và gia súc làm phân bón cây trồng.
Điều phối và phối hợp liên ngành trong việc NS-VSNT: Lĩnh vực môi trường
nông thôn và đặc biệt là nhà tiêu nông thôn không thể chỉ do một cơ quan, tổ chức
thực hiện được. Trung Quốc đã lập Ủy ban phát triển y tế với mục tiêu đẩy truyền
thông đi trước một bước, Ủy ban này có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp
22
22
và 02 tổ chức lớn nhất ở Trung Quốc là Thanh niên và Phụ nữ. Các địa phương
cũng có mô hình tổ chức và hợp tác tương tự như TW, họ hợp tác theo cấp (Y tế -
Nông nghiệp - Thanh niên - Phụ nữ).
Nước sạch và vệ sinh trong nhà trường: Trung Quốc không có một chương
trình, hay dự án riêng về lĩnh vực này. Nhưng các can thiệp đầu tiên về lĩnh vực NS-
VSMT là ở trường học. Các hoạt động trong trường học rất có lợi cho học sinh, vừa
là đối tượng được truyền thông, vừa là truyền thông viên cho cộng đồng. Trường
học là nơi tập trung đông người, nếu các điều kiện về vệ sinh không đảm bảo sẽ xẩy
ra dịch bệnh và lan truyền nhanh chóng do đó cần quan tâm và phối hợp nghiên cứu
để đưa ra thiết kế NS-VSMT trong trường học.
Về lĩnh vực cấp nước: Trung Quốc chủ trương khuyến khích hình thức cấp
nước bằng đường ống và tùy theo từng điều kiện cụ thể mà lắp đặt các hệ thống đường
ống cho phù hợp. Đến cuối năm 2004, tỷ lệ người dân được sử dụng nước máy là 60%.
Hỗ trợ kỹ thuật của Chính phủ thông qua các thiết kế mẫu, hướng dẫn kỹ thuật theo
phòng và chống ô nhiễm khí quyển”, “Quy định về tiếng ồn”, “Luật phòng và
chống ô nhiễm nguồn nước”, “Luật phòng chống ô nhiễm nước biển”, “Luật phòng
chống mùi” và “Luật bảo vệ môi trường tự nhiên”…, cơ bản đã hình thành một hệ
thống các luật và quy định về bảo vệ môi trường. Mặt khác chính phủ Nhật Bản vẫn
không ngừng tăng cường công tác quản lý môi trường, thậm chí họ còn thiết lập
“Đội chuyên trách quản lý phòng chống ô nhiễm môi trường chung”.
Cùng với các luật và quy định được ban hành, nhiều doanh nghiệp lớn tại
Nhật Bản cũng không ngừng đầu tư các thiết bị bảo vệ môi trường, công tác xử lý
môi trường bước đầu đã đạt những thành quả. Đến cuối thập niên 1970, vấn đề liên
quan tới ô nhiễm môi trường chung cơ bản đã được xử lý. Tuy nhiên, với nguy cơ
khủng hoảng dầu mỏ bùng phát lần 2, cũng như việc tăng trưởng kinh tế bị trì trệ,
các doanh nghiệp phải đối mặt với những thử thách mới, đồng thời công tác xử lý
môi trường cũng xuất hiện những vấn đề mới, vấn đề về tài nguyên và sự nóng lên
của toàn cầu đã trở thành vấn đề quan tâm phổ biến của người dân Nhật Bản về môi
trường chung. Năm 1972, Chính phủ Nhật Bản đã đề ra “Luật Tiết kiệm năng
lượng”, xuất phát từ đây, ngành Công nghiệp Giấy của Nhật Bản, thông qua việc
phát triển và kiểm soát ô nhiễm, cũng chuyển đổi thành ngành công nghiệp xanh
thân thiện với môi trường.
24
24
Chính phủ Nhật Bản nhận định rằng giải quyết các vấn đề về môi trường là
chìa khóa để các chính sách đạt hiệu quả khi thực hiện. Nhìn lại quy trình bảo vệ
môi trường của Nhật Bản có thể thấy, trong quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng,
nước này chưa có nhận thức đúng đắn về vấn đề ô nhiễm môi trường, nên đã phải
phải trả giá đắt; nếu như sớm quan tâm về vấn đề này, chắc chắn cái giá phải trả sẽ
nhỏ hơn. Trong quá trình giải quyết vấn đề về môi trường, Chính phủ Nhật Bản đã
không đưa ra những biện pháp cưỡng chế đối với các doanh nghiệp, đồng thời cũng
không đưa ra những tiêu chuẩn bắt buộc các doanh nghiệp phải đạt được, càng
không có những chỉ tiêu về xử lý, mà chỉ đơn thuần hướng dẫn các doanh nghiệp
tiến hành bảo vệ môi trường thông qua việc công bố mục tiêu kiểm soát ô nhiễm