I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
-----***-----
PHAN TH THY H
Những yếu tố tác động đến việc tiếp cận dịch vụ
y tế của hộ nghèo ở thành thị
(Nghiờn cu ti thnh ph Vinh tnh Ngh An)
LUN VN THC S X HI HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
-----***-----
PHAN TH THY H
Những yếu tố tác động đến việc tiếp cận dịch vụ
y tế của hộ nghèo ở thành thị
(Nghiờn cu ti thnh ph Vinh tnh Ngh An)
Chuyờn ngnh : Xó hi hc
Mó s
: 60.31.30
LUN VN THC S X HI HC
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .............................................................................3
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc ................................................................3
2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc ..............................................................13
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .............................................................19
3.1. Ý nghĩa lý luận ..........................................................................................19
3.2. Ý nghĩa thực tiễn .......................................................................................19
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................20
4.1. Mục đích nghiên cứu .................................................................................20
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................20
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ...................................................20
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu ................................................................................20
5.2. Khách thể nghiên cứu ................................................................................21
5.3. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................21
6. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu .....................................................................21
6.1. Câu hỏi nghiên cứu ....................................................................................21
6.2. Giả thuyết nghiên cứu................................................................................21
7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu ...............................................22
7.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu của đề tài ...................................................22
7.2. Phƣơng pháp thu thập và xử lý thông tin ..................................................22
7.3. Mẫu nghiên cứu .........................................................................................25
8. Cấu trúc của luận văn........................................................................................27
PHẦN NỘI DUNG ...................................................................................................28
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ..............................28
1.1. Một số khái niệm công cụ của đề tài .............................................................28
1.1.1. Dịch vụ y tế.............................................................................................28
1.1.2. Tiếp cận dịch vụ y tế ..............................................................................29
1.1.3. Nghèo và chuẩn nghèo ...........................................................................31
1.1.4. Hộ Nghèo ................................................................................................32
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT:
Bảo hiểm Y tế
BĐBV:
Biết đọc biết viết
CĐ:
Cao đẳng
CSSK:
Chăm sóc sức khỏe
ĐH:
Đại học
GDTX:
Giáo dục từ xa
KCB:
Khám chữa bệnh
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Bệnh trong 12 tháng qua ................................................................. 50
Bảng 2.2. Tƣơng quan giữa loại bệnh và dịch vụ thuốc sử dụng ................... 56
Bảng 3.1.Cách chữa trị chính khi các hộ nghèo mắc bệnh ............................. 62
Bảng 3.2. Tƣơng quan giữa bệnh trong 12 tháng qua với cách chữa trị chính ...63
Bảng 3.3.Tƣơng quan giữa giới tính với việc tiếp cận với các dịch vụ thuốc
chữa bệnh, dịch vụ khám bệnh và dịch vụ chữa bệnh .................... 66
Bảng 3.4.Tƣơng quan giữa số lƣợt sử dụng dịch vụ khám bệnh, dịch vụ chữa
bệnh, dịch vụ thuốc chữa bệnh với trình độ học vấn của ngƣời
nghèo ............................................................................................... 67
Bảng 3.5.Tƣơng quan giữa giới tính của chủ hộ và lựa chọn cách chữa trị
chính khi bị bệnh ............................................................................. 71
Bảng 3.6. Tổng hợp giƣờng bệnh và nhân lực có đến tháng 09/2013 ............ 99
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Các loại vắc xin đƣợc tiêm .............................................................. 44
Biểu đồ 2.2. Tƣơng quan giữa giới tính và các loại vắc xin đƣợc tiêm ................. 44
Biểu đồ 2.3. Số ngƣời khám sức khỏe tổng quát .................................................. 46
Biểu đồ 2.4. Số lần khám thai ............................................................................. 48
Biểu đồ 2.5. Tỷ lệ hộ nghèo sử dụng dịch vụ khám khi mắc bệnh ........................ 52
Biểu đồ 2.6. Các dịch vụ khám đƣợc sử dụng ..................................................... 53
Biểu đồ 2.7. Dịch vụ chữa sử dụng ..................................................................... 54
Biểu đồ 3.1.Tƣơng quan giữa số lần sử dụng các dịch vụ khám, dịch vụ chữa và
dịch vụ thuốc với bệnh trong 12 tháng qua ......................................... 64
Biểu đồ 3.2. So sánh tình hình bệnh tật trong tƣơng quan với các nhóm tuổi ........ 65
Biểu đồ 3.3. Trình độ học vấn của hộ nghèo ....................................................... 67
Biểu đồ 3.4.Tƣơng quan giữa nhóm việc làm với việc khám sức khỏe tổng quát .. 69
Biểu đồ 3.5. Tƣơng quan giữa số lƣợt bị bệnh với nghề nghiệp ............................ 69
Biểu đồ 3.6. Tƣơng quan giữa số lƣợt sử dụng dịch vụ khám, dịch vụ chữa và dịch
dùng BHYT ...................................................................................... 84
Biểu đồ 3.21.Chất lƣợng CSVC, trang thiết bị y tế tại các dịch vụ y tế BHYT ...... 85
Biểu đồ 3.22. Chất lƣợng CSVC, trang thiết bị y tế tại các dịch vụ y tế không dùng
BHYT............................................................................................... 85
Biểu đồ 3.23. Sử dụng thẻ BHYT khi bị bệnh ..................................................... 89
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Con ngƣời là trung tâm của sự phát triển. Sự cấu thành chất lƣợng của nhân
tố con ngƣời bao hàm nhiều mặt, trong đó yếu tố sức khỏe rất cơ bản. Yếu tố sức
khỏe của nhân dân có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế chính trị của mỗi
quốc gia. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nƣớc
nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”, “Dân cƣờng
thì quốc thịnh”, “sức khỏe của nhân dân có vai trò hết sức quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [46].Ngƣời dân có sức khỏe tốt sẽ làm tăng khả
năng lao động, tạo ra nguồn của cải cho đất nƣớc và ngƣợc lại. Thế nhƣng, một tỷ lệ
lớn dân số trên thế giới vẫn đang phải sống trong tình trạng thiếu thốn về nhà ở,
lƣơng thực, thực phẩm, nguồn nƣớc sạch, vệ sinh môi trƣờng không đảm bảo. Điều
này đã tác động tiêu cực đến sức khỏe của ngƣời dân. Bên cạnh đó, sự phân biệt đối
xử giữa các nhóm ngƣời khác nhau trong xã hội vẫn đang tồn tại và tiếp tục thắng
thế, dẫn đến sự mất cân bằng về chất lƣợng cuộc sống, trong đó có sự không ngang
bằng nhau về tiếp cận các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe.
Sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Việt Nam chuyển từ
nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng dƣới sự quản lý
của nhà nƣớc. Những thành tựu về tăng trƣởng kinh tế, phát triển văn hóa xã hội
cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong thời gian qua đã và đang làm thay
đổi một cách rõ rệt cuộc sống của mỗi gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển kinh tế là sự gia tăng về khoảng cách thu nhập của các nhóm dân cƣ, tạo
nên bức tranh về sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Bên cạnh một bộ phận dân
dân. Vậy thì, những yếu tố nào tác động đến việc tiếp cận các dịch vụ y tế của ngƣời
dân, đặc biệt là với các hộ gia đình nghèo? Hiện nay, tại Việt Nam vẫn chƣa có nhiều
nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Những yếu tố tác động đến việc
tiếp cận dịch vụ y tế của hộ nghèo ở thành thị” (nghiên cứu tại thành phố Vinh, tỉnh
Nghệ An) làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
Qua nghiên cứu này, chúng tôi muốn làm rõ bức tranh về thực trạng tiếp cận
dịch vụ y tế của hộ nghèo ở thành thị, làm rõ những yếu tố tác động đến việc tiếp
cận các dịch vụ y tế của hộ nghèo. Từ đó đƣa ra những kiến nghị điều chỉnh hay
2
thay đổi các chính sách đối với hộ nghèo nhằm nâng cao và cải thiện chất lƣợng
cuộc sống trƣớc hết cho các hộ nghèo ở thành phố Vinh cũng nhƣ trợ giúp cho các
nhóm tƣơng tự. Điều này mang tính nhân văn sâu sắc, phù hợp với chủ trƣơng
chung của Đảng và Nhà nƣớc cũng nhƣ kế hoạch cụ thể của chính quyền thành phố:
xây dựng thành phố Vinh xứng tầm là đô thị loại I của vùng Bắc Trung Bộ nói riêng
và cả nƣớc nói chung.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về sức khỏe và dịch vụ y tế cho ngƣời nghèo là một vấn đề đƣợc
nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu trong nƣớc quan tâm.
Mang tính lý luận bàn về khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội, trong đó có dịch
vụ y tế, một số tác giả đã đi sâu luận bàn về cách dùng các phƣơng pháp tiếp cận xã
hội học để nhìn nhận các vấn về y tế và việc tiếp cận các dịch vụ y tế.
Tác giả Nguyễn Bá Ngọc, Bùi Xuân Dự đã phân tích, luận giải và đƣa ra
khung lý thuyết nghiên cứu khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội nhằm tạo nền tảng cho
các nội dung nghiên cứu tiếp theo cũng nhƣ các ứng dụng vào thiết kế, thực hiện
chính sách xã hội. Khung lý thuyết nghiên cứu khả năng tiếp cận nhìn từ quan hệ
liên quan đến y tế. Các tổ chức xã hội liên quan đến y tế. Luật pháp và
chính sách liên quan đến y tế. Lịch sử và truyền thống phát triển chăm
sóc sức khỏe. Hệ thống giao thông vận tải. Hệ thống dịch vụ xã hội. Hệ
thống sản xuất và cung cấp các dịch vụ, thuốc cho y tế. Đạo đức, tôn
giáo, tập quán của nhân dân. Nhu cầu khám chữa bệnh,…Đây là các yếu
tố môi trƣờng tác động đến hoạt động của y tế. Cũng có thể coi đây là các
biến số can thiệp theo quan điểm toán logic.
(2)
Đầu vào của hệ thống y tế. Là các yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động
y tế, là nguồn năng lƣợng của hệ thống và là các biến số độc lập trong
toán học. Đầu vào của hệ thống y tế có thể là: cơ cấu tổ chức nghành y tế,
nhân lực nghành y tế; cộng đồng dân cƣ và bệnh nhân; vấn đề trang thiết
bị, cơ sở vật chất của nghành y tế; vấn đề tài chính, nguồn thu chi, ngân
sách chính phủ dành cho y tế; hệ thống an sinh xã hội có liên quan; sự
tham gia của cộng đồng,…
(3)
Đầu ra của hệ thống. Có hai loại đầu ra của hệ thống là đầu ra mong
muốn và đầu ra ngẫu nhiên. Đầu ra mong muốn có liên quan trực tiếp và
tích cực tới mục tiêu của hệ thống. Đó có thể là khả năng cung cấp dịch
4
vụ y tế cho nhân dân. Chất lƣợng y tế đƣợc cải thiện. Đó có thể là tăng
cƣờng khả năng tiếp cận và đảm bảo tính công bằng hiệu quả trong việc
sử dụng dịch vụ y tế. Đầu ra ngẫu nhiên là sản phẩm phụ của hệ thống.
cạnh khác nhau trong mối quan hệ của nhiều nhóm yếu tố tác động đến việc tiếp
cận. Trong đó cần chú ý các yếu tố bên trong của hệ thống y tế cũng nhƣ các yếu tố
5
bên ngoài có tác động đến hệ thống y tế với tƣ cách là các thành phần trong cùng
một hệ thống xã hội.
Bên cạnh các quan điểm mang tính lý luận, nhiều công trình của các nhà
nghiên cứu ở Việt nam còn quan tâm đến vấn đề công bằng và bất công bằng về tiếp
cận y tế và chăm sóc sức khỏe. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng: trong xã hội
Việt Nam vẫn còn khoảng cách về mức độ tiếp cận dịch vụ y tế và chăm sóc sức
khỏe của các nhóm ngƣời trong xã hội, đặc biệt là giữa nhóm ngƣời giàu và nhóm
ngƣời nghèo, giữa nhóm ngƣời ở nông thôn và nhóm ngƣời ở đô thị.
Trong một số nghiên cứu tại Việt Nam, Ngân hàng Thế giới đã nhận định:
Về cơ bản, nghành y tế là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, cho nên không có gì ngạc
nhiên khi sự gia tăng tình trạng bất bình đẳng về thu nhập nói chung giữa các cá
nhân và giữa các vùng ở Việt Nam gắn liền với công cuộc cải tổ và tự do hóa kinh
tế đƣợc thể hiện trong nghành y tế dƣới hình thức những cách biệt ngày càng lớn
trong khả năng tiếp cận DVYT và trong các kết quả về sức khỏe [61].
Trịnh Hòa Bình và Thu Sa cũng chứng minh rằng: Trong khung cảnh xã hội
của một đất nƣớc đang phát triển, ngƣời nghèo bao giờ cũng là tầng lớp chịu nhiều
thiệt thòi nhất. Họ ít có cơ hội để vƣơn lên một cuộc sống khá giả hơn. Vì vậy họ
cũng là tầng lớp chịu nhiều bất bình đẳng về chăm sóc sức khỏe. Đó là hậu quả tất
nhiên về mặt xã hội của tăng trƣởng kinh tế khi các chính sách xã hội chƣa đƣợc coi
trọng [8].
Các tác giả Phạm Huy Dũng, Đoàn Thị Kim Chúc, Hồ Đăng Phúc, Hoàng
Văn Minh, Nguyễn Xuân Thành một lần nữa mô tả cho chúng ta thấy bức tranh bất
bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế và đƣa ra các khuyến nghị cho việc
tiến hành các can thiệp cần thiết nhằm đem lại lợi ích cho nhóm nghèo và cận
trong hệ thống y tế quốc gia, bệnh viện huyện giữ vai trò quan trọng đối với việc
cung cấp các dịch vụ kỹ thuật khám chữa bênh ở tuyến cơ sở, đặc biệt, tại các vùng
nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn [49].
Kết quả Điều tra y tế quốc gia 2003 (NVHS) cũng kết luận: đối tƣợng của
bệnh viện huyện bao gồm mọi ngƣời dân có mức thu nhập khác nhau, tuy nhiên,
trong đó ngƣời nghèo và cận nghèo có tỷ lệ khám chữa bệnh ở bệnh viện huyện cao
hơn cả.
7
Ngoài yếu tố về thu nhập, yếu tố thứ hai đƣợc nhắc đến là yếu tố địa lý:
Khoảng cách từ nhà đến các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế có tác động đến việc tiếp
cận dịch vụ y tế của ngƣời dân. Kết quả Điều tra y tế quốc gia 2003 (NVHS)chỉ ra
khoảng cách từ nhà bệnh nhân đến bệnh viện huyện/ thành phố là 8,8 km thấp hơn
nhiều so với khoảng cách đến bệnh viện tỉnh (27,9 km) và bệnh viện khu vực trung
ƣơng (91,9 km) [15]. Nghiên cứu này đã chứng minh khoảng cách gần là một ƣu thế
của bệnh viện huyện đối với ngƣời dân cần tiếp cận dịch vụ y tế có chất lƣợng ở các
vùng nông thôn, đặc biệt là ngƣời nghèo.
Bên cạnh các yếu tố về thu nhập, khoảng cách địa lý một số nhà nghiên cứu
còn nhận diện hai yếu tố khác là: điều kiện cơ sở vật chất và thái độ của nhân viên y
tế. Các nhà nghiên cứu chỉ rõ: “số ngƣời nghèo đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế
khám bảo hiểm y tế năm nay đã tăng so với năm trƣớc nhƣng mức độ hài lòng với
các dịch vụ y tế của các bệnh nhân khám bảo hiểm y tế lại thấp hơn bệnh nhân tự trả
phí. Hai nguyên do chủ yếu của vấn đề trên là điều kiện cơ sở vật chất và thái độ
của nhân viên y tế”[26].
Tác giả Đàm Viết Cƣơng và cộng sự lại nhận định: thủ tục hành chính rƣờm
rà, quá trình thực hiện bảo hiểm y tế trong chăm sóc sức khỏe, các hoạt động truyền
thông kiến thức về vấn đề sức khỏe chƣa hiệu quả, khó khăn về giao thông,…cũng
là một trong số những rào cản chính có ảnh hƣởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ y tế
cận dịch vụ y tế, câu hỏi đƣợc các nhà nghiên cứu đặt ra là: làm sao để hộ nghèo có thể
tiếp cận với các dịch vụ y tế tốt hơn.
Một trong những giải pháp đƣợc các nhà nghiên cứu đề xuất và đƣợc đánh
giá cao về tính hiệu quả đó là quỹ khám chữa bệnh cho ngƣời nghèo trong đó có
bảo hiểm y tế cho ngƣời nghèo.
Tác giả Nguyễn Khánh Phƣơng cùng Trần Thị Mai Oanh, Đàm Viết Cƣơng
và một số cộng sự khác khi đánh giá hiệu quả của quỹ KCB cho ngƣời nghèo thông
qua các chỉ số nhƣ việc sử dụng các dịch vụ y tế, các rào cản trong việc sử dụng và
tác động của quỹ đối với việc giảm ghánh nặng tài chính cho ngƣời nghèo, kết quả
nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của việc triển khai quỹ KCB cho ngƣời
nghèo, mức độ sử dụng dịch vụ y tế của ngƣời nghèo tăng lên và gánh nặng tài
chính y tế với ngƣời nghèo giảm đi. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt
đƣợc, vẫn còn một số điểm hạn chế trong việc triển khai quỹ khám chữa bệnh cho
9
ngƣời nghèo, nhất là vấn đề truyền thông, nâng cao nhận thức và năng lực hành
động. Vì vậy, cần nâng cao hơn nữa vấn đề truyền thông thay đổi nhận thức và hành
vi của những đối tƣợng có liên quan đến việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế
cho ngƣời nghèo, trong đó, đối tƣợng trực tiếp là ngƣời nghèo để họ có nhận thức
đúng đắn và đầy đủ hơn về chính sách bảo hiểm y tế và thụ hƣởng chính sách một
cách hợp lý và hiệu quả hơn[25].
Cũng tác giả Đàm Viết Cƣơng và cộng sự đã đánh giá: Tác động của quỹ
khám chữa bệnh cho ngƣời nghèo có tác động tích cực tới việc chăm sóc sức khỏe
trong việc nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cũng nhƣ giảm ghánh
nặng tài chính cho nhóm đối tƣợng đƣợc hƣởng lợi. Tuy nhiên, hiệu quả của việc
triển khai hoạt động của quỹ trong cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho ngƣời
nghèo còn hạn chế. Sau quá trá trình nghiên cứu, đề tài đã đƣa ra những khuyến
nghị cụ thể:
20-30% hộ gia đình báo cáo thuộc diện hộ nghèo nhƣng vẫn chƣa đƣợc cấp thẻ bảo
hiểm y tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng làm rõ nguồn chi phí cho quỹ bảo hiểm y tế
cho điều trị nội trú, ngoại trú, tuy nhiên bệnh nhân bảo hiểm y tế vẫn phải chi trả một
khoản đáng kể khi đi khám chữa bệnh. Chính vì vậy nghiên cứu đã chỉ ra rằng: để đảm
bảo tính bền vững và công bằng, cần có những điều chỉnh hợp lý chính sách bảo hiểm
y tế đối với ngƣời nghèo. Nghiên cứu can thiệp cần tập trung vào các vấn đề trọng tâm
nhƣ sau: nâng cao nhận thức và hiểu biết về bảo hiểm y tế cho ngƣời dân, tăng cƣờng
năng lực quản lý bảo hiểm y tế, nâng cao chất lƣợng dịch vụ y tế, kiểm soát chi phí và
thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ ngƣời nghèo và cận nghèo [26].
Báo cáo nghiên cứu của Đại sứ quán Đam Mạch, ActionAid Việt Nam và
các đối tác đã kết luận: Đối với ngƣời nghèo, các chính sách hỗ trợ ngƣời nghèo,
điểm hình là chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế cho ngƣời nghèo đã làm giảm đáng
kể các rào cản tới dịch vụ y tế của họ. Có thể coi đây là một thành công trong chính
sách hỗ trợ của nhà nƣớc. Việc cấp thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo đã phát huy tác dụng
tốt trong việc giúp họ tiếp cận dịch vụ y tế. Tuy nhiên, công tác bảo hiểm cho ngƣời
nghèo cần cải thiện một số khía cạnh sau:
-
Thẻ bảo hiểm y tế cho ngƣời nghèo không nên phân biệt rõ hộ nghèo vì trên
thực tế, “nhãn mác” này có gây tác động tâm lý không tích cực cho cả ngƣời
sử dụng và cả ngƣời cung cấp dịch vụ y tế.
-
Nguyên tắc đồng chi trả của bảo hiểm (theo luật bảo hiểm y tế - có hiệu lực
từ 2010) đối với các hộ nghèo sẽ thực sự là gánh nặng lớn. Vậy, cần có chính
sách hỗ trợ ngƣời nghèo trong một số bệnh đòi hỏi chi phí cao[1].
Nhóm giải pháp thứ hai đƣợc nhận diện và đề xuất là nhóm giải pháp về
chính sách thu viện phí tại các cơ sở y tế.
nguồn cung ứng các dịch vụ y tế, đa dạng hóa loại hình dịch vụ y tế, và tạo
sức ép cạnh tranh nhất định tăng chất lƣợng các dịch vụ này. Ngƣời nghèo
đƣợc hƣởng lợi gián tiếp từ việc các cơ sở xã hội hóa làm giảm tải cho bệnh
viện công và tạo sức ép nhất định tới việc tăng chất lƣợng khám chữa bệnh
tại các bệnh viện công.
12
-
Tuy nhiên, xã hội hóa y tế chƣa đi kèm với việc thực hiện các chức năng
quản lý nhà nƣớc tƣơng ứng, đặc biệt là chức năng kiểm tra giám sát hoạt
động của các cơ sở. Nhiều tỉnh chƣa có số liệu thống kê cơ bản về hoạt động
của các cơ sở và hình thức xã hội hóa. Việc đảm bảo các bệnh viện công
không lạm dụng xã hội hóa để tăng chi phí khám chữa bệnh còn chƣa đƣợc
chú ý giải quyết.
Với những kết quả trên, nghiên cứu đã đề xuất một số khuyến nghị:
-
Xác định rõ xã hội hóa cần đi kèm với việc thực hiện các chức năng quản lý
vĩ mô khác nhƣ quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, giám sát. Điều này cực kỳ
quan trọng nhằm giúp ngƣời bệnh đƣợc hƣởng dịch vụ đúng nhƣ tiêu chuẩn
của ngành. Các tỉnh cần thiết lập cơ sở dữ liệu và thông tin về các cơ sở cung
cấp dịch vụ y tế để giúp cho công tác kiểm tra, giám sát.
-
Công tác kiểm tra giám sát cũng cần đƣợc tăng cƣờng nhằm hạnc hế các hiện
khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế cho ngƣời nghèo. Sau đây là một số dẫn chứng số liệu:
Thực trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo
Các tài liệu cho biết, trên Thế giới đang tồn tại sự bất bình đẳng về sức khỏe
và tiếp cận dịch vụ y tế không chỉ giữa các nƣớc có trình độ phát triển khác nhau mà
còn bất bình đẳng giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo trong cùng một quốc gia.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khẳng định “sự bất công xã hội đang giết chết
con ngƣời ở quy mô lớn”. Dựa trên những cứ liệu của nhiều nƣớc khác nhau, nhóm
chuyên gia nhấn mạnh sự bất bình đẳng về sức khỏe tồn tại ngay bên trong biên giới
của từng quốc gia, trong đó có sự bất bình đẳng về sức khỏe của ngƣời giàu và
ngƣời nghèo. Tại Indonesia, tỷ lệ tử vong của các bà mẹ ở những gia đình nghèo
cao gấp từ 3 đến 4 lần so với ở những gia đình giàu. Tại Anh, tỷ lệ tử vong của
ngƣời trƣởng thành ở những khu phố nghèo cao gấp 2,5 lần so với các khu dân cƣ
giàu có. Còn tại Uranda, tỷ lệ tử vong của trẻ dƣới 5 tuổi ở 1/5 số gia đình giàu có
nhất nƣớc là 106/1.000 em nhƣng lại đạt mức 192/1.000 em ở nhóm gia đình nghèo
nhất. Trong khi đó tỷ lệ tử vong của những trẻ dƣới 5 tuổi ở các nƣớc có thu nhập
cao chỉ đạt 7/1.000 em [86].
Ngân hàng thế giới (WB) cũng cho rằng: chính sự bất bình đẳng trong giàu
nghèo và trong cơ hội của từng quốc gia và giữa các quốc gia, đã dẫn đến sự gia tăng
chỉ số khoảng cách về sức khỏe của ngƣời dân. Cứ 1000 đứa trẻ đƣợc sinh ra thì ở Mỹ
14
có 7 trẻ chết trƣớc khi đầy năm, trong khi đó, có đến 126 trẻ Mali chết trƣớc khi tròn 1
tuổi. Những đứa trẻ sống sót, không chỉ riêng Mali mà còn ở phần lớn các nƣớc châu
Phi và các nƣớc nghèo khác ở châu Á và Mỹ Latin, đều đứng trƣớc nguy cơ thiếu dinh
dƣỡng nghiêm trọng hơn so với bạn chúng ở các nƣớc giàu [59].
Các nghiên cứu của nhiều tổ chức trên thế giới đã công bố về thực trạng bất
bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân. Các tài liệu này cho thấy không
chỉ ở các nƣớc đang phát triển mà ngay cả các nƣớc phát triển, tình hình bất bình
biệt là vai trò của bác sỹ trong hệ thống y tế.
Tác giả Goran Dalgren trong một nghiên cứu có nhan đề Chính sách y tế dựa
trên cơ sở thực chứng, đã chỉ ra một cách cụ thể chính những chiến lƣợc “cải thiện
sự tiếp cận dịch vụ và chất lƣợng chăm sóc, đặc biệt là cho những nhóm ngƣời chịu
thiệt thòi” chính là “mục tiêu của cải cách trong lĩnh vực y tế đƣợc đƣa ra ở hầu hết
các nƣớc”. Tuy nhiên, chính những chiến lƣợc để đạt đƣợc các mục tiêu hƣớng tới
sự công bằng này thƣờng đƣợc bao gồm lệ phí sử dụng (viện phí) cao và mở rộng
dịch vụ tƣ nhân có lợi nhận trong chăm sóc sức khoẻ, lại có xu hƣớng làm tăng chứ
không giảm những rào cản đến cơ hội tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ của nhóm ngƣời nghèo [38].
Các tác giả Levitt, Claude Evin, Jona Mackenbach hay Martijntji Bakker,…
cũng nhấn mạnh về điều kiện để đảm bảo một sự tiếp cận công bằng đến dịch vụ y
tế của ngƣời nghèo liên quan đến việc cấp tài chính cho chăm sóc y tế. Các tác giả
chỉ ra rằng, cần xác định mức độ trả trƣớc bởi cơ chế thu tài chính cho hệ thống y
tế, nguồn thu này phải đƣợc đƣa vào quỹ chung nhằm để chia sẻ cho những rủi ro
bệnh tật, việc phân bổ tài chính cho các cơ sở cung cấp DVYT phải đƣợc ghi rõ
trong một hợp đồng công khai. Theo Claude Evin, cách tốt nhất để đảm bảo tính
công bằng trong tiếp cận chăm sóc y tế là về mặt tài chính nên ƣu tiên cho việc trả
trƣớc chi phí, thay cho việc trả chi phí trực tiếp. Đó chính là giải pháp hữu hiệu để
nâng cao năng lực tiếp cận dịch vụ y tế cho ngƣời nghèo[23].
Bàn về yếu tố bác sỹ trong hệ thống y tế, cũng tác giả Goran Dalgren đã chỉ
ra vai trò quan trọng của bác sỹ trong hệt thống y tế nhằm đảm bảo tính công bằng
trong tiếp cận y tế cho ngƣời dân, trong đó có ngƣời nghèo. Tác giả đã chỉ ra ở các
vùng nông thôn, vùng có điều kiện kinh tế nghèo thƣờng có ít bác sỹ do vậy cần đẩy
mạnh phân phối các bác sỹ giữa các vùng địa lý một cách công bằng [38].
16