Bảo đảm quyền con người trong hoạt động điều tra tội phạm của cơ quan công an qua thực tiễn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HUY HIẾU

B¶O §¶M QUYÒN CON NG¦êI TRONG
HO¹T §éNG §IÒU TRA TéI PH¹M CñA C¥ QUAN C¤NG AN QUA THùC TIÔN HUYÖN AN D¦¥NG, THµNH PHè H¶I PHßNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HUY HIẾU

B¶O §¶M QUYÒN CON NG¦êI TRONG
HO¹T §éNG §IÒU TRA TéI PH¹M CñA C¥ QUAN C¤NG AN QUA THùC TIÔN HUYÖN AN D¦¥NG, THµNH PHè H¶I PHßNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS VŨ CÔNG GIAO

HÀ NỘI - 2016



1.2.1. Khái niệm, đă ̣c điể m của hoa ̣t đô ̣ng điề u tra các vu ̣ án hiǹ h sự......... 14
1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của bảo đảm quyền con người trong hoạt
đô ̣ng điề u tra vu ̣ án hiǹ h sự................................................................ 17
1.2.3. Ý nghĩa của bảo đảm quyề n con người trong hoa ̣t đô ̣ng điề u tra
các vụ án hình sự ................................................................................ 19
1.3.
Bảo vệ quyền con ngƣời trong hoạt động điều tra các vụ án
hình sự theo luật quốc tế.................................................................. 21
1.4.
Bảo vệ quyền con ngƣời trong hoạt động điều tra các vụ án
hình sự theo pháp luật Việt Nam .................................................... 37
1.4.1. Các nguyên tắc cơ bản c ủa Bộ luật tố tụng hình sự có liên quan
đến bảo đảm quyền con người trong hoạt động điều tra .................... 37
1.4.2. Quy đinh
̣ của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hiǹ h sự về bảo đảm quyề n con
người trong hoạt động điều tra vụ án hình sự .................................... 47
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SƢ̣ CỦ A
CÔNG AN HUYỆN AN DƢƠNG THÀ NH PHỐ HẢI PHÒNG
.... 64
2.1.
Khái quát tổ chức, hoạt động của cơ quan công an huyêṇ An
Dƣơng, thành phố Hải Phòng ......................................................... 64


2.2.
2.3.

2.3.1.
2.3.2.

T THỰC
TIỄN HUYỆN AN DƢƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG....................81
3.1.
Các quan đi ểm về nâng cao hiêụ quả bảo đảm quyền con
ngƣời trong điều tra các vu ̣ án hin
̀ h sƣ̣.......................................... 81
3.2.
Các giải pháp nhằ m nâng cao hiêụ quả bảo đảm quyền con
ngƣời trong hoa ̣t đô ̣ng điều tra các vu ̣ án hinh
̀ sƣ̣ ........................ 85
3.2.1. Nhóm các giải pháp áp dụng chung ................................................... 85
3.2.2. Nhóm các giải pháp cụ thể áp dụng ở huyện An Dương, thành
phố Hải Phòng .................................................................................... 94
KẾT LUẬN .................................................................................................... 96
DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 98


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS:

Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hiǹ h sự

CQĐT:

Cơ quan điề u tra

VKS:

Viê ̣n kiể m sát

giờ như trong các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường…., nhưng trong
hoạt động điều tra tội phạm của cơ quan công an, các quyền con người rất dễ
bị xâm phạm và khi bị xâm phạm thì thường để lại hậu quả nghiêm trọng, khi
nó động chạm đến tính mạng, sức khoẻ, sự tự do và sinh mệnh chính trị của
một cá nhân. Điều này là bởi hoạt động điều tra tội phạm thể hiện đậm đặc
tính quyền lực nhà nước, sử dụng triệt để sức mạnh cưỡng chế nhà nước, có
sự bất cân xứng về thế và lực của các bên mà sự yếu thế luôn thuộc về những
người bị điều tra. Đây chính là lý do trong bất cứ nhà nước nào, hoạt động
hoạt động điều tra tội phạm đều được xếp vào những bối cảnh có “nguy cơ
cao” về vi phạm quyền con người.
Mặc dù vấ n đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự đươ ̣c Nhà
nước ta rấ t quan tâm , song hiện vẫn còn những hạn chế, thiếu sót trong lĩnh
vực này, thể hiện rõ nhất ở những trường hợp oan sai, tra tấn, nhục hình bị
phát hiện trong thời gian qua. Theo nhiều nghiên cứu gần đây, trong tố tụng
hình sự, vi phạm nhân quyền xảy ra phổ biến nhất là trong giai đoạn điều tra.
Những vi phạm nhân quyền trong tố tụng hình sự nói chung, trong giai đoạn
điều tra hình sự nói riêng gây ra nhiều bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng
lớn đến hình ảnh, uy tín của Nhà nước ta trên các diễn đàn quốc tế.
1


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó có những
nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nhiều nguyên nhân đã được làm rõ,
trong khi có những nguyên nhân khác còn chưa được nhận diện đầy đủ. Do
vâ ̣y, việc nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự,
đặc biệt là trong giai đoa ̣n điề u tra vu ̣ án hình sự, hiện là một yêu cầ u cấ p thiế t
ở nước ta, xét cả trên phương diê ̣n lý luâ ̣n và thực tiễn.
Hải Phòng là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương của nước ta, có
điạ bàn rô ̣ng, dân số đông, các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá rấ t sôi đô ̣ng, do
đó, hàng năm số vụ vi pha ̣m pháp luâ ̣t hiǹ h sự và số vu ̣ án hiǹ h sự đươ ̣c khởi tố

- Nhóm các nghiên cứu về bảo đảm quyền con người nói chung có các
công trình tiêu biểu như: "Quyền con người trong thế giới hiện đại"- đề tài
khoa học cấp nhà nước do Đề tài KX 07-16, năm 1995 do GS Hoàng Văn
Hảo và GS Phạm Ích Khiêm đồng chủ nhiệm; “Giới thiệu công ước quốc tế
về các quyền dân sự và chính trị” do Vũ Công Giao, Tường Duy Kiên, Lã
Khánh Tùng (đồng chủ biên), NXB Hồng Đức, 2012; “Giới thiệu công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, do Vũ Công Giao, Nghiêm
Kim Hoa (đồng chủ biên), NXB Hồng Đức, 2012; “Giáo trình Lý luận và
pháp luật về quyền con người”, do Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã
Khánh Tùng (đồng chủ biên) NXB ĐHQG Hà Nội, 2010, tái bản năm 2011,
2015; “Luật nhân quyền quốc tế: Những vấn đề cơ bản” Vũ Công Giao, Lã
Khánh Tùng, NXB Lao động – xã hội, 2011.
- Nhóm các nghiên cứu về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự
có các công trình tiêu biểu như: “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình
sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam” - đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia do GS.TSKH. Lê Văn
Cảm, TS. Nguyễn Ngọc Chí, Ths. Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì thực hiện năm
2005; "Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong
lĩnh vực tư pháp hình sự" của GS.TSKH Lê Văn Cảm đăng trên tạp chí Khoa
học-Luật học của ĐHQG Hà Nội, số 3/2011; "Bảo vệ quyền con người trong
luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam" sách chuyên khảo của TS.Trần
Quang Tiệp, NXB Chin
́ h tri ̣quố c gia năm 2004; “Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn

3


thương trong tố tụng hình sự” Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Lê Văn
Cảm, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), NXB ĐHQG Hà Nội,
2011; “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trong điều kiện xây

giải pháp cho vấn đề còn thiếu, một số giải pháp cần kiểm nghiệm hoặc làm
rõ hơn từ những dữ liệu thực tiễn. Đây là những lý do cho thấy luận văn này
tuy đề tài không mới nhưng vẫn cần thiết và có giá trị lý luận, thực tiễn.
3. Mục đích, nhiêm
̣ vu ̣ nghiên cƣ́u
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích làm rõ những vấn đề lý
luận, pháp lý và thực trạng bảo đảm quyền con người trong hoạt động điều tra
tội phạm của cơ quan công an ở huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, từ
đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đề xuất những giải pháp khắc phục.
3.2. Nhiê ̣m vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn xác định những
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người trong
hoạt động điều tra hình sự, chỉ ra cơ sở lý thuyết của hoạt động này, bao gồm các
khái niệm, định nghĩa, đặc điểm, tính chất, các yêu cầu và điều kiện tác động…
- Phân tích khuôn khổ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo
vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, chỉ ra những lỗ hổng trong pháp
luật Việt Nam mà là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập về bảo đảm
quyền con người trong thực tiễn hoạt động điều tra hình sự ở huyện An
Dương, thành phố Hải Phòng.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền con người trong hoạt
động điều tra hình sự ở huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, phân loại
những vi phạm và chỉ ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến
những vi phạm quyền con người trong hoạt động điều tra hình sự ở địa
phương trong khoảng 5 năm gần đây.
- Đề xuất và phân tích cơ sở khoa học của những quan điểm, giải
pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong hoạt động điều tra

5

6


- Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu hiện
có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền
con người trong tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay (ở Chương 1).
- Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu,
báo cáo chuyên môn của cơ quan công an địa phương và phương pháp quan
sát thực tế để đánh giá thực trạng bảo đảm quyền con người trong hoạt động
điều tra tội phạm của cơ quan công an huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng trong 5 năm gần đây (ở Chương 2).
- Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quan
điểm, giải pháp nhằm ngăn ngừa những vi phạm, nâng cao hiệu quả bảo đảm
quyền con người trong hoạt động điều tra tội phạm của cơ quan công an
huyện An Dương, thành phố Hải Phòng nói riêng và ở nước ta nói chung
trong thời gian tới (ở Chương 3).
6. Tính mới và những đóng góp về lý luận, thực tiễn của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về thực trạng bảo đảm
quyền con người trong hoạt động điều tra tội phạm của cơ quan công an
huyện An Dương, thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây. Luận văn
cũng là một trong số rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về
vấn đề bảo đảm quyền con người trong hoạt động điều tra hình sự ở nước ta
từ trước đến nay.
Vì vậy, luận văn cung cấp nhiều kiến thức, thông tin, luận điểm và đề
xuất mới có giá trị tham khảo với các cơ quan nhà nước ở trung ương và dịa
phương trong việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế để nâng cao hiệu quả bảo
đảm quyền con người trong hoạt động điều tra tội phạm không chỉ của cơ
quan công an huyện An Dương, thành phố Hải Phòng mà còn của toàn bộ
ngành công an nước ta trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảo

cách mạng xã hội, phản ánh quá trình nhân loại tự giải phóng mình.
Có nhiều định nghĩa về quyền con người (nhân quyền), mỗi định nghĩa
biểu hiện một góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, tổng hợp lại
có thể chia thành ba nhóm quan niệm chủ yếu về quyền con người như sau:
- Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thể
tự nhiên, nên quyền con người phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền",
nghĩa là quyền con người là những lợi ích chỉ dành cho con người, gắn liền
với cá nhân con người, không thể tách rời [39, tr.112].
Quan điểm này được các đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản ở thế kỷ
XVII, XVIII như Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn
thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên. Trường phái này cho
rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà
nước. Xuất phát từ quan điểm này, Jacques Mourgon đưa ra định nghĩa:
"Quyền con người là những đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con
người giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính
quyền" [24, tr.12]. Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền con người ở
khía cạnh tự nhiên của nó.
- Quan niệm thứ hai: Trái với quan niệm thứ nhất, quan niệm này lại

9


chỉ đặt con người và quyền con người trong mối quan hệ xã hội khi cho rằng,
con người chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của con người chỉ được xác
định trong mối tương quan với các thực thể xã hội khác. Và vì là quan hệ xã
hội nên quyền con người phải được nhà nước quy định và được nhà nước,
pháp luật điều chỉnh, bảo vệ.
Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con người là một khái
niệm có tính lịch sử, đặt con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì
con người là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên

chuyển biến có tính "bước ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tương quan
giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con người. Đi kèm với xã
hội có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều
kiện xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp. Và ngay
cả bản tính tự nhiên, những giá trị phổ biến của quyền con người cũng tất yếu
chịu sự chi phối của giai cấp thống trị xã hội.
Mặt khác, quyền con người, kể cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị ràng
buộc, chi phối vào chính khả năng khám phá chinh phục tự nhiên của chính con
người, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của con người, sự
phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Con người
càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu thì tự do, quyền con
người ngày càng được mở rộng, ngày càng được bảo đảm bấy nhiêu.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con người không phải
chỉ là phép cộng đơn giản đối với hai quan niệm về quyền con người nêu trên,
mà từ phân tích nêu trên cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của
quyền con người có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa
hai mặt đối lập.
Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa khác nhau về quyền con người,
tuy nhiên một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng dạy,
nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con

11


người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư
cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [22, tr.10]. Ngoài ra, còn có một
đinh
̣ nghiã của Văn phòng Cao ủy của Liên hơ ̣p quố c về quyề n con người
(Office of High Commissioner for Human Right – OHCHR) cũng thường trić h

chính trị - xã hội nhất định, không thể đứng ngoài các mối quan hệ giai cấp,
cộng đồng, dân tộc, quốc gia. Theo nghĩa đó, bảo đảm quyền con người chính
là tạo ra một môi trường chính trị thuận lợi để quyền phát triển trong mối
quan hệ với toàn bộ hệ thống chính trị-hệ thống các thiết chế bảo vệ quyền,
bao gồm: đảng phái chính trị, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể và nhân dân.
Thể chế chính trị nào đề cao giá trị con người, coi con người là mục tiêu và
động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội thì trong thể chế đó cá nhân được
bảo đảm quyền tự do của mình.
Các bảo đảm xã hội: Bảo đảm về kinh tế và chính trị là điều kiện cần
nhưng chưa đủ để tạo ra một môi trường xã hội cho quyền con người được thực
hiện. Ý nghĩa của những bảo đảm xã hội khác là ở chỗ cho dù có một số nước có
điều kiện kinh tế, chính trị gần như nhau nhưng bảo đảm quyền con người lại có
thể khác biệt. Môi trường bảo đảm quyền con người còn hình thành từ những
yếu tố lịch sử - truyền thống, văn hóa, tư tưởng, sự phát triển khoa học kỹ thuật
trong mỗi quốc gia - đây là những yếu tố có thể tác động tích cực hay tiêu cực
đến mức độ hưởng thụ quyền con người của các cá nhân.
Bảo đảm pháp lý: Theo nghĩa rộng, bảo đảm pháp lý là một dạng bảo
đảm xã hội về quyền con người. Việc thực hiện quyền con người phụ thuộc
vào những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và hoàn cảnh cụ thể
của mỗi cá nhân, song bảo đảm về mặt pháp lý có ý nghĩa trực tiếp trong việc
thực hiện trên thực tế các quyền và tự do của con người. Bảo đảm pháp lý
được xây dựng trên cơ sở của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định và
tác động trở lại cho sự phát triển của chính trị, kinh tế - xã hội.

13


Bảo đảm pháp lý về quyề n con người thể hiện qua việc pháp luật ghi nhận
và quy định các cơ chế, biện pháp ngăn ngừa, xử lý vi phạm (bảo vệ) và giám
sát, hỗ trợ thực thi các quyền con người. Do đó , pháp luật càng phát triển thì

14


Xét bản chất , hoạt động điều tra là hoạt động nhận thức , là quá trình
nhâ ̣n thức của chủ thể nhằm cảm thụ , tiế p nhâ ̣n và phản ánh những thông tin
chứa đựng dấ u vế t tô ̣i pha ̣m . Để tránh oan sai , quá trình thu thập chứng cứ
chứng minh những tin
̀ h tiế t vu ̣ án phải xuấ t phát từ sự thâ ̣t khách quan ch



không phải dựa vào ý chí chủ quan để phán đoán , suy diễn . Hoạt động đi ều
tra chỉ bắ t đầ u khi có sự kiê ̣n , vụ việc có tính hình sự , hay khi xuấ t hiê ̣n dấ u
vế t pha ̣m tô ̣i và kế t thúc khi CQĐT hoàn thành công việc, đưa ra kế t luâ ̣n điề u
tra đề nghi ̣VKS truy tố hoă ̣c điǹ h chỉ vu ̣ án . Thông thường hoa ̣t đô ̣ng điề u tra
do CQĐT tiế n hành , trừ trường hơ ̣p ở nước ta do VKS hoă ̣c cơ quan khác
đươ ̣c giao nhiê ̣m vu ̣ tiế n hành mô ̣t số hoa ̣t đô ̣ng điề u tra như Bô ̣ đô ̣i biên
phòng, Kiểm lâm, Hải quan, lực lươ ̣ng cảnh sát biể n… CQĐT đóng mô ̣t vai
trò hết sức quan trọng trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, là
mắ t xić h quan tro ̣ng trong quá triǹ h giải quyế t vu ̣ án hiǹ h sự . Những sai lầ m ,
thiế u sót nế u mắ c phải trong hoa ̣t đô ̣ng điề u tra sẽ gây ảnh hưởng nghiêm
trọng, thâ ̣m chí làm sai lê ̣ch sự thâ ̣t khách quan của vu ̣ án , gây khó khăn cho
giai đoa ̣n truy tố , xét xử.
Hoạt động điều tra là hoạt động tố tụng nên có nh

ững đặc điểm của

hoạt động tố tụng, song đồ ng thời có những đă ̣c điể m riêng như sau:
- Hoạt động điều tra được tiến hành theo đúng trình tự , thủ tục, thẩm
quyề n pháp luật quy đi ̣nh.

dấ u vế t trên thân thể của người bi ha
̣ ̣i hoă ̣c của người pha ̣m tô ̣i… Tuy nhiên,
các vụ án điều tr a đều phải trải qua những thủ tu ̣c chung như khởi tố vu ̣ án ,
khởi tố bi ̣can, lâ ̣p hồ sơ vu ̣ án hình sự… theo quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t.
- Hoạt động điều tra có mối quan hệ chặt chẽ và chịu sự chế ước của
cơ quan kiểm sát [9, tr.36]. Hoạt động điều tra vụ án hình sự có thể phải áp
dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng các biện
pháp cưỡng chế như khám xét chỗ ở , khám xét nơi làm việc , khám nghiệm
thân thể . Đây là các biện pháp tiề m ẩ n nguy cơ xâm pha ̣m đế n quyề n tự do ,
dân chủ của công dân . Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan , đúng pháp luật,
hoạt động điều tra của CQĐT phải chịu sự chế ước và kiểm sát chặt chẽ của
VKS theo quy đinh
̣ của pháp luật tố tụng hình sự . Sự kiểm soát, chế ước thể
hiê ̣n thông qua viê ̣c pháp luâ ̣t quy đinh
̣ cho VKS các nhiê ̣m vu ̣
như xét phê chuẩ n các quyế t đinh
̣ tố tu ̣ng của CQĐT

16

, quyề n ha ̣n

; quyế t đinh
̣ áp du ̣ng ,


thay đổ i các biê ̣n pháp ngăn chă ̣n, hủy bỏ các quyết định không có căn cứ, trái
pháp luật của CQĐT…
1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của bảo đảm quyền con người trong

về bảo đảm quyề n con người trong hoa ̣t đô ̣ng của mìn.h
- Về chủ thể được bảo vệ: Trong khoa ho ̣c pháp lý nước ta hiện có nhiề u
quan điể m khác nhau về diê ̣n chủ thể mà quyề n con người của ho ̣ cầ nđươ ̣c bảo

17


đảm trong tố tu ̣ng hin
̀ h sự. Có quan điể m cho rằ ng “bảo đảm quyề n con người
trong tố tụng hình sự là bảo vê ̣ quyề n của người bi ̣ buộc tội” [21, tr.43], trong
khi quan điể m la ̣i cho rằ ng:
Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự là bảo vệ quyền
của tất cả những người tham gia tố tu ̣ng, bao gồm người bi ̣ta ̣m giư,̃ bị
can, người bi ̣ha ̣i , người làm chứng , nguyên đơn dân sự , người có
quyề n lơ ̣i và nghiã vu ̣ liên quan và cả những người tiế n haǹ h tố tu ̣ng
như Điề u tra viên, Kiể m sát viên, Thẩ m phán.... [21, tr.15].
Tuy nhiên, theo luật quốc tế về nhân quyền, việc bảo đảm quyề n con
người trong tố tu ̣ng hin
̀ h sự chủ yếu nhằm vào các đối tượng dễ bị tổn thương
nhất, bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam (trong giai đoạn điều tra), bị
cáo, người làm chứng, người bị hại (trong giai đoạn xét xử), tù nhân (trong
giai đoạn thi hành án). Xuất phát từ quan điểm của luật nhân quyền quốc tế và
tính đến giới hạn của một luận văn thạc sĩ, trong công trình nghiên cứu này,
tác giả luận văn chỉ tập trung vào một nhóm chủ thể đó là người bị bắt, bị tạm
giữ, tạm giam.
- Về các hoạt động bảo đảm : bảo đảm quyền con người trong hoạt
đô ̣ng điề u tra thể hiện qua hai phương diện chính đó là: (i) Bảo đảm về khuôn
khổ pháp lý; (ii) Bảo đảm về thực thi pháp luâ ̣t . Về phương thứ nhất, để bảo
đảm quyề n con người trong điề u tra vu ̣ án hình sự đầ u tiên cầ n ph


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status