Tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành công thương qua thực tiễn thành phố đà nẵng - Pdf 39

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ TH HONG MINH

Tổ CHứC Và HOạT ĐộNG
THANH TRA CHUYÊN NGàNH CÔNG THƯƠNG QUA THựC TIễN THàNH PHố Đà NẵNG

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ TH HONG MINH

Tổ CHứC Và HOạT ĐộNG
THANH TRA CHUYÊN NGàNH CÔNG THƯƠNG QUA THựC TIễN THàNH PHố Đà NẵNG
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp - Lut Hnh chớnh
Mó s: 60 38 01 02

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NG MINH TUN

H NI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

1.2.
Về thanh tra chuyên ngành Công Thƣơng..............................................18
1.2.1. Khái niệm thanh tra chuyên ngành Công Thương ......................................18
1.2.2. Đặc điểm về tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành Công Thương.........18
1.2.3. Vai trò của thanh tra chuyên ngành Công Thương .....................................25
1.3.
Quá trình hình thành và phát triển của thanh tra chuyên ngành
Công Thƣơng tại Việt Nam.......................................................................27
Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................................31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH CÔNG THƢƠNG QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........................................32
2.1.
Về tổ chức ...................................................................................................32
2.1.1. Về các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Công Thương..........32
2.1.2. Về cơ cấu tổ chức các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên
ngành Công Thương ....................................................................................35
2.1.3. Về mối quan hệ chỉ đạo, hướng dẫn, phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức
trong việc thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Công Thương..........43
2.1.4. Về tiêu chuẩn của thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ
thanh tra chuyên ngành ................................................................................49


2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
2.2.4.
2.2.5.
2.2.6.
2.2.7.

Kết luận chƣơng 3 ...................................................................................................95
KẾT LUẬN ..............................................................................................................96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................99
PHỤ LỤC ...............................................................................................................103


DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Tên văn bản quy phạm pháp
luật đƣợc viết tắt

Nghị định số 127/2015/NĐ-CP

Tên văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ
Nghị định số 127/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 12
năm 2015 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động
thanh tra ngành Công Thương

Thông tư số 09/2001/TT-BTM ngày 13 tháng 4
năm 2001 của Bộ Thương mại (cũ) hướng dẫn về
Thông tư số 09/2001/TT-BTM tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng quản
lý thị trường địa phương

Thông tư số 29/2013/TT-BCT

Thông tư số 01/2014/TT-TTCP

Thông tư số 05/2014/TT-TTCP

Thông tư số 29/2013/TT-BCT ngày 13 tháng 11
năm 2013 của Bộ Công Thương quy định về tổ chức

Nghị định số 10/CP ngày 23 tháng 01 năm 1995
của Chính phủ về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn
của Quản lý thị trường


Nghị định số 27/2008/NĐ-CP

Nghị định số 27/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 3
năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 10/CP ngày 23 tháng 01
năm 1995 của Chính phủ về tổ chức, nhiệm vụ và
quyền hạn của Quản lý thị trường

Nghị định số 33/2015/NĐ-CP

Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27 tháng 3
năm 2015 của Chính phủ quy định việc thực hiện
kết luận thanh tra

Nghị định số 86/2011/NĐ-CP

Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm
2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Thanh tra

Nghị định số 95/2012/NĐ-CP

Nghị định số 95/2012/NĐ-CP Nghị định số
95/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền

trường địa phương

Thông tư số 05/2015/TT-TTCP

Thông tư số 05/2015/TT-TTCP ngày 10 tháng 9
năm 2015 của Thanh tra Chính phủ quy định về
giám sát hoạt động của Đoàn Thanh tra


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Thống kê số lượng tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh
doanh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến tháng 3 năm 2015

41

Bảng 2.2: Thống kê kết quả kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính của Chi cục
Quản lý thị trường thành phố Đà Nẵng năm 2013, 2014, 2015

55


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với hầu hết các quốc gia hiện đại ngày nay, công nghiệp và thương mại

thanh tra ngành Công Thương, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác này
trong thực tiễn. Công tác thanh tra chuyên ngành Công Thương trong những năm
gần đây cũng có nhiều chuyển biến tích cực trong việc ngăn chặn, phát hiện và xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp
phần đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế.
Tuy nhiên, có thể thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực, tổ chức các cơ
quan có chức năng thanh tra chuyên ngành Công Thương hiện nay cũng còn tồn tại
nhiều bất cập, hạn chế. Chẳng hạn như số lượng công chức tại hầu hết Thanh tra Sở
Công Thương các tỉnh, thành rất ít, ngoài Thanh tra Sở Công Thương Hà Nội hiện
nay có 17 công chức và Sở Công Thương thành phố Hồ Chí Minh có 14 công chức
thì hầu hết Thanh tra Sở Công Thương các tỉnh còn lại chỉ có từ 02 đến 05 công
chức [28]; chất lượng đội ngũ công chức thanh tra chưa đồng đều, chưa đáp ứng
được yêu cầu quản lý nhà nước, chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan
thanh tra các cấp, các ngành, các địa phương… Chính vì vậy, hiện nay nhiều vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực Công Thương vẫn chưa được phát hiện, xử lý kịp
thời, đã gây thiệt hại khá lớn đối với người tiêu dùng trước khi bị cơ quan chức
năng phát hiện; tình trạng tái phạm vẫn còn tiếp diễn; nhiều vi phạm bị phát hiện
nhưng chậm trễ trong việc kết luận, xử lý, đặc biệt trong các lĩnh vực bán hàng đa
cấp, thương mại điện tử, sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất
lượng… Thực trạng này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân, không chỉ từ những bất
cập trong các quy định của pháp luật mà còn xuất phát từ một số hạn chế trong thực
tiễn tổ chức và triển khai các hoạt động của lực lượng thanh tra chuyên ngành.
Ngoài ra, từ nhiều năm nay, chế định thanh tra chuyên ngành trong pháp
luật về thanh tra luôn đứng trước yêu cầu nghiên cứu, hoàn thiện. Theo Kế hoạch
xây dựng pháp luật của Chính phủ và Quốc hội, Luật Thanh tra 2010 sẽ được
nghiên cứu sửa đổi từ năm 2017 và Quốc hội dự kiến thông qua năm 2018. Do đó,
hoạt động nghiên cứu nhằm xác lập luận cứ cho việc sửa đổi, bổ sung đạo luật này
tại thời điểm hiện nay có ý nghĩa quan trọng, cần thiết, nhất là đối với chế định

2

khoa học cấp cơ sở “Hoạt động thanh tra chuyên ngành của cơ quan được giao

3


thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành” của Thạc sỹ Nguyễn Thị Hải Yến
(2013), Luận án Tiến sỹ luật học “Pháp luật về thanh tra chuyên ngành ở Việt Nam
hiện nay” (2015) của tác giả Bùi Thị Thanh Thúy; hay một số bài nghiên cứu trên
các báo, tạp chí khoa học pháp lý như bài viết “Yêu cầu hoàn thiện tổ chức thanh
tra theo ngành, lĩnh vực hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền đăng trên
Tạp chí thanh tra số 6/2008, “Mô hình nào cho tổ chức và hoạt động của hệ thống
thanh tra Tổng Cục, Cục và Chi cục” của tác giả Nguyễn Hữu Quân đăng trên Tạp
chí Thanh tra số 5/2008…
Nhìn chung, đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động thanh tra nói
chung, đặc biệt là về hoạt động thanh tra hành chính. Thế nhưng, việc nghiên cứu
về hoạt động thanh tra chuyên ngành theo Luật Thanh tra 2010 và các văn bản
hướng dẫn thi hành vẫn còn ở mức độ khiêm tốn. Các nghiên cứu trước đây sẽ là
nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả về các vấn đề lý luận cũng như thực
trạng liên quan đến hoạt động thanh tra và hoạt động thanh tra chuyên ngành trong
quá trình nghiên cứu về đề tài này.
Dù hiện nay đã có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động
thanh tra chuyên ngành nói chung song có thể thấy ở mỗi ngành, lĩnh vực đều có
những đặc điểm riêng, có những thuận lợi và khó khăn riêng trong việc triển khai
công tác thanh tra chuyên ngành nên việc tổ chức và hoạt động thanh tra theo từng
ngành, lĩnh vực cũng có những đặc thù nhất định. Vì vậy, việc nghiên cứu về hoạt
động thanh tra chuyên ngành theo từng ngành, lĩnh vực cụ thể thật sự cần thiết và
hiện nay cũng đã có một số luận văn thạc sỹ nghiên cứu tập trung về hoạt động
thanh tra ở một số ngành, lĩnh vực, chẳng hạn như: “Pháp luật về hoạt động thanh
tra chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa” (2011) của tác giả Bùi Ngọc Thanh
Trung, “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Sở Giao thông vận tải” (2012) của tác

nước của ngành, khái quát lịch sử hình thành và phát triển của thanh tra chuyên
ngành Công Thương tại Việt Nam, qua đó góp phần xây dựng cơ sở lý luận khoa
học cho quá trình hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra
chuyên ngành Công Thương tại thành phố Đà Nẵng nói riêng và tại các tỉnh, thành
trong cả nước nói chung.

5


- Phân tích thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên
ngành Công Thương thông qua thực tiễn thi hành tại thành phố Đà Nẵng, đánh giá
những ưu điểm và những hạn chế, vướng mắc của quy định pháp luật cũng như quá
trình tổ chức thực hiện pháp luật tại địa phương.
- Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về thanh tra chuyên ngành Công Thương, qua đó góp phần đổi mới tổ
chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác này tại thành phố Đà Nẵng cũng
như tại các địa phương khác trên phạm vi cả nước.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Hiện nay, theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, các cơ quan thanh tra
của các ngành, lĩnh vực được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, vừa có chức
năng thanh tra hành chính, vừa có chức năng thanh tra chuyên ngành và một số
chức năng, nhiệm vụ khác. Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về tổ chức
và hoạt động của các cơ quan có chức năng thực hiện hoạt động thanh tra chuyên
ngành Công Thương tại địa phương và chỉ nghiên cứu những vấn đề liên quan đến
chức năng thanh tra chuyên ngành, không nghiên cứu tổng thể chức năng, nhiệm vụ
của các cơ quan này.
Luận văn nghiên cứu thực trạng pháp luật qua thực trạng tổ chức và hoạt
động thanh tra chuyên ngành Công Thương trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong
giai đoạn từ năm 2010 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thanh tra chuyên ngành và thanh tra
chuyên ngành Công Thương.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên
ngành Công Thương – qua thực tiễn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp kiện toàn tổ chức và hoạt động thanh tra
chuyên ngành Công Thương tại địa phương.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH
VÀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH CÔNG THƢƠNG
1.1. Về thanh tra chuyên ngành
1.1.1. Khái niệm thanh tra chuyên ngành
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự phân chia các ngành, lĩnh vực
trong đời sống xã hội thì hoạt động quản lý nhà nước cũng được thực hiện trên cơ
sở quản lý theo từng ngành, lĩnh vực. Trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung,
quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực nói riêng, bên cạnh việc ban hành và tổ chức
thực hiện chính sách, pháp luật, các quy phạm về chuyên môn – kỹ thuật thì công
tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, quy định trên thực tế cũng
đóng vai trò rất quan trọng. Đây chính là một trong các cơ sở để ngăn ngừa, phát
hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; xem
xét, đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước cũng như sự phù
hợp của chính sách, pháp luật đối với thực tiễn. Do vậy, hoạt động thanh tra chuyên
ngành trong từng ngành, lĩnh vực ngày càng đóng vai trò quan trọng, là một chức
năng không thể thiếu đối với công tác quản lý nhà nước. Để làm rõ một số vấn đề
liên quan đến thanh tra chuyên ngành nói chung và thanh tra chuyên ngành Công

Pháp lệnh Thanh tra 1990, thanh tra được xác định là “một chức năng thiết yếu của
cơ quan quản lý nhà nước; là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật
trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa” (Điều 1). Có
thể thấy, định nghĩa này chỉ mới khái quát được vị trí, vai trò của “thanh tra” chứ
chưa thể hiện rõ nội hàm khái niệm “thanh tra”, đặc điểm, mục đích của hoạt động
thanh tra. Đến Luật Thanh tra 2004 và Luật Thanh tra 2010, nội hàm khái niệm
“thanh tra”, cụ thể là “thanh tra nhà nước” đã được thể hiện rõ hơn, cụ thể:
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo
trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra
hành chính và thanh tra chuyên ngành [19, Điều 3, Khoản 1].
Định nghĩa này tiếp cận khái niệm “thanh tra nhà nước” dưới góc độ là một

9


“hoạt động”. Ngoài ra, khái niệm này phần nào đã thể hiện được bản chất của hoạt
động thanh tra trong công tác quản lý nhà nước song chưa bao quát được ý nghĩa,
mục đích chung nhất của hoạt động thanh tra. Mục đích của hoạt động thanh tra
được Luật Thanh tra 2010 quy định riêng tại Điều 2, đó là:
Nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật
để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục;
phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan,
tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố
tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà
nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân [19, Điều 2].
Như vậy, có thể thấy cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm khoa học
chung nhất, toàn diện nhất về “thanh tra” hay “thanh tra nhà nước”; mỗi khái niệm

lý [18, Điều 4, Khoản 3].
Đến Luật Thanh tra 2010, khái niệm thanh tra chuyên ngành về cơ bản
không có thay đổi lớn:
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ
thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó [19, Điều 3, Khoản 3].
Như vậy, cũng như khái niệm “thanh tra nhà nước”, khái niệm “thanh tra
chuyên ngành” theo Luật Thanh tra 2010 được tiếp cận theo khía cạnh là hoạt động.
Song theo một phương diện khác, thuật ngữ “thanh tra chuyên ngành” có thể được
tiếp cận dưới góc độ là một danh từ nhằm chỉ hệ thống các cơ quan thực hiện chức
năng thanh tra chuyên ngành hay “tổ chức thanh tra chuyên ngành”.
Như vậy, qua việc khái quát lý luận và pháp luật thực định, dưới góc độ
chung nhất, khái niệm thanh tra chuyên ngành có thể được hiểu là một chức năng
thiết yếu của quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm xem xét, đánh giá,
xử lý đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên
ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.

11


1.1.2. Đặc điểm của thanh tra chuyên ngành
Từ những khái niệm nêu trên có thể thấy thanh tra chuyên ngành là một hình
thức của hoạt động thanh tra, do vậy, thanh tra chuyên ngành cũng mang một số đặc
điểm chung của hoạt động thanh tra, cụ thể như:
Thứ nhất, thanh tra tồn tại như một yêu cầu tất yếu khách quan trong quản lý
nhà nước, gắn liền với quản lý nhà nước. Thực hiện chức năng quản lý, Nhà nước
ban hành nhiều quy định để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của con
người. Song bên cạnh việc ban hành và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật,

hiện nhiệm vụ của mình, các cơ quan thanh tra không có tính độc lập và chịu ảnh
hưởng quá nhiều vào sự chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan quản lý sẽ làm giảm hiệu
lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra. Song thanh tra không phải là một tổ chức độc
lập hoàn toàn mà tính độc lập của thanh tra chỉ là tương đối. Vì hoạt động thanh tra
không có mục đích tự thân mà mục đích của nó là hỗ trợ công tác quản lý nhà nước,
góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, do đó nó chỉ mang tính độc lập
tương đối và phải gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước. Cơ quan thanh tra thông
qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ giúp các cơ quan quản lý nhà
nước phát hiện những sơ hở, vướng mắc trong chính sách, pháp luật để có sự khắc
phục kịp thời; đồng thời giúp ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật trong phạm vi, lĩnh vực quản lý nhà nước.
Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động thanh tra, thanh tra chuyên
ngành còn mang một số nét đặc thù – cơ sở để phân biệt giữa hoạt động thanh tra
hành chính và thanh tra chuyên ngành, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra: Hoạt động thanh tra
chuyên ngành do các cơ quan thanh tra thuộc cơ quan quản lý nhà nước theo ngành,
lĩnh vực thực hiện, đó là Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở và các cơ quan được giao thực
hiện chức năng thanh tra chuyên ngành (một số Tổng Cục, Cục thuộc Bộ, Chi cục
thuộc Sở). Trong khi đó, chủ thể của hoạt động thanh tra hành chính bao gồm hệ
thống cơ quan thanh tra nhà nước nói chung: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, cơ
quan ngang Bộ; Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Thanh tra Sở;
Thanh tra quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Thứ hai, về đối tượng thanh tra: Đối tượng của thanh tra chuyên ngành là các
cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong các ngành, lĩnh vực, chịu sự điều chỉnh

13


của pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý
của ngành, lĩnh vực đó. Giữa chủ thể tiến hành thanh tra chuyên ngành với đối


thức thanh tra độc lập được thực hiện bởi thanh tra viên hoặc người được giao thực
hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Bởi vì, khác với thanh tra hành chính, trong
nhiều trường hợp, hoạt động thanh tra chuyên ngành cần phải được tiến hành nhanh
chóng và cần áp dụng ngay các biện pháp ngăn chặn hoặc phải xử lý ngay các hành
vi vi phạm pháp luật chuyên ngành…
Như vậy, có thể thấy, thanh tra chuyên ngành vừa mang những đặc điểm
chung của hoạt động thanh tra, vừa có những điểm đặc trưng nhằm phân biệt với
hoạt động thanh tra hành chính. Sự phân biệt này về mặt lý luận lẫn thực tiễn có ý
nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để các cơ quan thanh tra xác định được đối tượng,
phạm vi, nội dung, phương thức, thẩm quyền… trong quá trình thực thi chức năng,
nhiệm vụ thanh tra.
1.1.3. Phân biệt giữa thanh tra chuyên ngành với kiểm tra chuyên ngành
trong quản lý nhà nước
Trong công tác quản lý nhà nước, bên cạnh chức năng “thanh tra” còn tồn tại
hình thức “kiểm tra” đối với các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật
chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành,
lĩnh vực. Chẳng hạn như, theo quy định hiện hành thì Bộ Công Thương, Sở Công
Thương có một số chức năng, nhiệm vụ như: “hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện
các quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, công nghệ, an toàn vệ sinh trong khai
thác mỏ và chế biến khoáng sản”; “hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện
các quy định của pháp luật về kinh doanh, lưu thông hàng hóa, các hoạt động thương
mại trên thị trường, hàng hóa và các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, dịch vụ thương
mại, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định” (Nghị định số 95/2012/NĐCP); “hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý an toàn thực phẩm
đối với cơ sở kinh doanh thương mại và các loại hàng hóa qua biên giới theo quy
định của pháp luật” (Thông tư liên tịch số 22/2015/TTLT-BCT-BNV) v.v…
Hiện nay, về mặt pháp lý, chưa có định nghĩa về “kiểm tra” trong hoạt động
quản lý hành chính nhà nước mặc dù kiểm tra cũng là một chức năng, một giai đoạn
trong chu trình quản lý. Có thể nói giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan


Ba là, về phạm vi hoạt động: Phạm vi hoạt động kiểm tra thường theo bề
rộng, diễn ra liên tục, ở khắp nơi với nhiều hình thức phong phú. Phạm vi hoạt động

16


thanh tra chuyên ngành thường hẹp hơn. Hoạt động thanh tra cần có sự chọn lọc, có
trọng tâm, trọng điểm, thường hướng vào những đối tượng hoặc những lĩnh vực
đang xảy ra nhiều vi phạm, cần chấn chỉnh.
Bốn là, về trình độ nghiệp vụ: Do nội dung, mục đích hoạt động thanh tra
thường phức tạp hơn, sâu hơn nên đòi hỏi thanh tra viên, người được giao thực hiện
chức năng thanh tra chuyên ngành phải có nghiệp vụ thanh tra giỏi, am hiểu về kinh
tế - xã hội, có chuyên môn sâu về lĩnh vực thanh tra. Có như vậy mới có thể nắm
bắt được chiều sâu của vụ việc, thu thập được thông tin, chứng cứ, xác minh, đối
chiếu, phân tích, đánh giá để đi đến kết luận chính xác, khách quan. Vì vậy, quy
định pháp luật thường đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể đối với thanh tra viên và người
được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Do nội dung hoạt động
kiểm tra ít phức tạp hơn và có phạm vi rộng hơn nên chủ thể tiến hành kiểm tra
không nhất thiết đòi hỏi chuyên môn, nghiệp vụ sâu như thanh tra, quy định pháp
luật hiện hành không đưa ra các tiêu chuẩn về chủ thể tiến hành kiểm tra nên chủ
thể tiến hành kiểm tra có thể là bất kỳ công chức, viên chức, người lao động của cơ
quan quản lý nhà nước được phân công. Sự phân biệt về chuyên môn, nghiệp vụ
giữa chủ thể tiến hành thanh tra và kiểm tra cũng chỉ mang tính chất tương đối, vì
trong nhiều trường hợp cuộc kiểm tra mang tính chất phức tạp cũng đòi hỏi chuyên
môn, nghiệp vụ chuyên sâu và chủ thể kiểm tra càng có trình độ chuyên môn cao thì
kết quả kiểm tra càng đảm bảo tính chính xác, khách quan hơn.
Năm là, về thời gian tiến hành: Trong hoạt động thanh tra thường có nhiều
vấn đề phải xác minh, đối chiếu, nhiều mối quan hệ cần được làm rõ nên thường
phải sử dụng thời gian nhiều hơn kiểm tra. Nếu so sánh từng cuộc kiểm tra, thanh
tra chuyên ngành riêng lẻ, đôi khi có cuộc kiểm tra kéo dài hơn thanh tra, song nhìn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status