häc tèt ng÷ v¨n 9
(tËp hai)
1
2
phạm an miên - nguyễn lê huân
học tốt ngữ văn 9
(tập hai)
nhà xuất bản đại học quốc gia TP. hồ chí minh
3
4
lời nói đầu
Thực hiện chơng trình Trung học cơ sở (ban hành kèm theo Quyết định số
03/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/1/2002 của Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), môn
Ngữ văn đợc triển khai dạy học theo nguyên tắc tích hợp (văn học, tiếng Việt và
làm văn), phát huy tính chủ động tích cực của học sinh.
Nhằm giúp các em học sinh có thêm tài liệu tham khảo để tăng cờng khả năng
tự học, chúng tôi biên soạn bộ sách Học tốt Ngữ văn Trung học cơ sở. Theo đó,
cuốn Học tốt Ngữ văn 9 tập hai sẽ đợc trình bày theo thứ tự tích hợp các phân
môn:
- Văn
- Tiếng Việt
- Làm văn
Cách tổ chức mỗi bài trong cuốn sách sẽ gồm hai phần chính:
I. Kiến thức cơ bản
II. Rèn luyện kĩ năng
Nội dung phần Kiến thức cơ bản với nhiệm vụ củng cố và khắc sâu kiến
thức sẽ giúp học sinh tiếp cận với những vấn đề thể loại, giới thiệu những điều nổi
bật về tác giả, tác phẩm (với phần văn); giới thiệu một số khái niệm, yêu cầu cần
thiết mà học sinh cần nắm để có thể vận dụng đợc khi thực hành.
Nội dung phần Rèn luyện kĩ năng đa ra một số hớng dẫn về thao tác
thực hành kiến thức (chẳng hạn: Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ thuật
Cách lựa chọn sách cần đọc và cách đọc nh thế nào cho hiệu quả.
3. Sách có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với cuộc sống con ngời nói
riêng và xã hội nói chung. Muốn phát triển và trởng thành, con ngời phải tiếp thu,
kế thừa có sáng tạo những tri thức, kinh nghiệm, thành tựu mà loài ngời đã tìm tòi,
tích luỹ đợc trong suốt quá trình phát triển lịch sử. Sách là kho tàng kinh nghiệm,
là di sản tinh thần quý báu của loài ngời.
Đối với mỗi con ngời, đọc sách là cách tốt nhất để tiếp thu kinh nghiệm xã
hội, kinh nghiệm sống. Đọc sách còn là sự chuẩn bị để tiến hành cuộc trờng chinh
vạn dặm trên con đờng học vấn, tích luỹ tri thức, khám phá và chinh phục thế giới.
4. Sự phát triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật đã tạo nên sự bùng nổ thông
tin. Lợng sách in ra ngày càng nhiều, nếu không có sự lựa chọn, xử lý thông tin
khoa học, con ngời dễ bối rối trớc kho tàng tri thức khổng lồ mà nhân loại đã tích
luỹ đợc. Chu Quang Tiềm đã chỉ ra một cách xác đáng những nguy hại thờng gặp:
Sách nhiều khiến cho ngời ta không chuyên sâu, dễ sa vào lối "ăn tơi nuốt
sống" chứ không kịp tiêu hoá, không biết nghiền ngẫm.
Sách nhiều khiến ngời đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian và sức lực với
7
những cuốn không thật có ích.
Theo tác giả, cần phải lựa chọn sách mà đọc:
Không tham đọc nhiều, đọc lung tung mà phải chọn cho tinh, đọc cho kỹ
những quyển sách thực sự có giá trị, có ích cho mình.
Cần đọc kỹ các cuốn sách, tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên môn,
chuyên sâu của mình.
Trong khi đọc chuyên sâu, không nên xem thờng những loại sách thờng
thức, gần gũi với chuyên môn của mình. Tác giả khẳng định: "Trên đời không có
học vấn nào là cô lập, không có liên hệ kế cận", vì thế "không biết thông thì không
thể chuyên, không biết rộng thì không thể nắm gọn. Trớc biết rộng rồi sau mới
nắm chắc, đó là trình tự để nắm vững bất cứ học vấn nào".
5. Việc lựa chọn sách đọc là một yếu tố vô cùng quan trọng trong phơng pháp
đọc sách. Lời bàn của Chu Quang Tiềm về phơng pháp đọc sách rất sâu sắc mà
(Phạm Văn Đồng, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt)
Gợi ý:
Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động.
CN
Giàu, tôi cũng giàu rồi.
CN
Về các thể văn trong lĩnh vực văn nghệ, chúng ta có thể tin ở tiếng ta
CN
2. So sánh giữa chủ ngữ trong các câu trên với những từ ngữ in đậm đứng trớc
nó.
Gợi ý:
9
- Về vị trí trong câu: các từ ngữ in đậm đứng trớc chủ ngữ.
- Về quan hệ với vị ngữ: các từ ngữ in đậm không phải là chủ ngữ trong câu,
không có quan hệ với thành phần vị ngữ nh là chủ ngữ.
3. Các từ ngữ in đậm trong các câu trên là thành phần khởi ngữ. Nh vậy, khởi
ngữ đứng ở vị trí nào và có nhiệm vụ gì trong câu?
Gợi ý: Khởi ngữ đứng trớc vị ngữ và có nhiệm vụ nêu lên đề tài đợc nói đến
trong câu.
4. Những từ nào thờng đứng kèm trớc khởi ngữ?
Gợi ý: Đứng kèm trớc khởi ngữ thờng là các quan hệ từ nh về, đối với.
II. Rèn luyện kĩ năng
1. Tìm khởi ngữ trong các đoạn trích dới đây:
a) Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ ngời khác đọc rồi nghe lỏm. Điều
này ông khổ tâm hết sức.
(Kim Lân, Làng)
b) Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sớng.
(Nam Cao, Lão Hạc)
c) Một mình thì anh bạn trên trạm đỉnh Phan-xi-păng ba nghìn một trăm bốn
mơi hai mét kia mới một mình hơn cháu.
mình trong hang sâu chắc không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ,
không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát nớc hay câu cá ngoài
cánh đồng vắng chắc không chải đầu mợt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp
Trang phục không có pháp luật nào can thiệp, nhng có những quy tắc ngầm phải
tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi đám cới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ
nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự đám tang không đợc mặc áo quần loè loẹt, nói cời
oang oang.
11
Ngời xa đã dạy: Y phục xứng kì đức. Ăn mặc sao cũng phải phù hợp với
hoàn cảnh riêng của mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù
mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng chỉ làm trò cời cho
thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản
dị, nhất là phù hợp với môi trờng. Ngời có văn hoá, biết ứng xử chính là ngời biết
tự hoà mình vào cộng đồng nh thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung,
tức là con ngời phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà văn đã nói: Nếu có một cô
gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi
chẳng có gì đáng hãnh diện. Chí lí thay!
Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trờng mới là
trang phục đẹp.
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thờng)
Gợi ý: Bài văn trên đợc bố cục thành 3 phần. ở phần đầu (Mở bài), tác giả nêu
ra đòi hỏi của việc cân nhắc trong ăn mặc ở cộng đồng xã hội. ở hai đoạn tiếp
(Thân bài), tác giả bàn đến vấn đề phải ăn mặc sao cho hợp văn hoá, đạo đức, hợp
với môi trờng. Trong câu cuối bài (Kết bài), tác giả rút ra nhận định về trang phục
đẹp.
2. ở đoạn mở đầu, tác giả nêu ra một loạt dẫn chứng về cách ăn mặc nhằm
nói lên điều gì?
Gợi ý: Tác giả nêu ra các dẫn chứng về ăn mặc nhằm gợi ra vấn đề về tính
chỉnh tề, đồng bộ, thích hợp trong sử dụng trang phục.
3. Xác định 2 luận điểm chính của văn bản. Tác giả đã làm nh thế nào để diễn
- Sức ngời có hạn;
- Có sách chuyên môn, có sách thờng thức; giữa tri thức chuyên môn và tri
thức thờng thức lại có quan hệ với nhau.
4. Tầm quan trọng của cách đọc sách đợc tác giả phân tích nh thế nào?
Gợi ý: Các ý trong lập luận phân tích của tác giả:
- Đọc sách thì mới có điểm xuất phát cao;
- Muốn tiếp cận tri thức một cách nhanh nhất thì phải đọc sách.
- Đọc sách mà không chọn lọc thì đọc không xuể, kém hiệu quả.
13
- Đọc kĩ mới có hiệu quả.
5. Nhận xét về tác dụng của phép phân tích.
Gợi ý: Phép phân tích giúp chúng ta hiểu sâu sắc, cụ thể các đặc điểm của đối
tợng mà chúng ta đang quan tâm. Kết quả của việc phân tích sẽ là cơ sở để tiến tới
kết luận một vấn đề nào đó. Không có sự phân tích đúng đắn thì sẽ làm mất đi tính
thuyết phục của kết luận.
Luyện tập phân tích và tổng hợp
1. Trong các đoạn văn dới đây, những phép lập luận nào đã đợc sử dụng?
a) Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài [] không thể tóm tắt thơ đợc,
mà phải đọc lại. Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh: xanh ao, xanh bờ,
xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc
lá thu rơi; ở những cử động: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá đa
vèo, tầng mây lơ lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động; ở các vần
thơ: không phải chỉ giỏi vì là những tử vận hiểm hóc, mà chính hay vì kết hợp với
từ, với nghĩa chữ, đến một cách thoải mái đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ cao tay;
cả bài thơ không non ép một chữ nào, nhất là hai câu 3, 4:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
đối với:
Lá vàng trớc gió khẽ đa vèo.
thật tài tình; nhà thơ đã tìm đợc cái tốc độ bay của lá: vèo, để tơng xứng với cái
mức độ gợn của sóng: tí.
bác bỏ nguyên nhân khách quan, khẳng định nguyên nhân chủ quan. Câu Rút
cuộc là biểu hiện của phép lập luận tổng hợp.
3. Học qua loa, đối phó, không học thật sự sẽ gây ra nhiều tác hại. Em hãy
phân tích bản chất của lối học đối phó để nêu lên những tác hại của nó.
Gợi ý:
- Học nh thế nào đợc xem là học đối phó? Có những biểu hiện nào của lối học
đối phó mà em thờng gặp? Hãy phân tích.
- Từ những biểu hiện cụ thể của lối học đối phó đã phân tích, hãy sử dụng
phép tổng hợp để rút ra những tác hại của lối học này.
15
4. Dựa vào văn bản Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm, em hãy phân tích
các lí do khiến mọi ngời phải đọc sách.
Gợi ý:
- Vì những lí do nào mà mọi ngời phải đọc sách?
- Phân tích từng lí do, chú ý đến mối liên hệ giữa các lí do để phân tích cho
chặt chẽ.
5. Viết một đoạn văn tổng hợp lại những điều đã phân tích trong bài Bàn về
đọc sách.
Gợi ý: Bài văn Bàn về đọc sách gồm những luận điểm chính nào? (Tầm quan
trọng của việc đọc sách; Phải chọn sách mà đọc; Phải biết kết hợp giữa đọc sách
chuyên môn và sách thờng thức). Đoạn văn phải thâu tóm đợc những luận điểm
chính đã phân tích để rút ra nhận định chung về việc đọc sách.
tiếng nói của văn nghệ
Nguyễn Đình Thi
i. kiến thức cơ bản
1. Nguyễn Đình Thi (1924-2003) là một nghệ sĩ có tài năng về nhiều mặt.
Không chỉ nổi tiếng với những tác phẩm thơ, văn, nhạc, kịch, ông còn là một cây
bút lý luận phê bình sắc sảo. Ông tham gia vào các hoạt động văn nghệ từ khá
sớm, trên mỗi lĩnh vực đều để lại những tác phẩm nổi tiếng: Đất nớc (thơ), Ngời
Hà Nội (nhạc)...
Nội dung của văn nghệ còn là những rung cảm, nhận thức của từng ngời tiếp
nhận, đợc mở rộng, lan truyền từ ngời này sang ngời khác, từ thế hệ này sang thế
hệ khác.
5. Qua các dẫn chứng đợc lấy từ các tác phẩm, qua những câu chuyện cụ thể,
sinh động, Nguyễn Đình Thi đã phân tích một cách thấm thía sự cần thiết của văn
nghệ đối với con ngời:
Văn nghệ giúp chúng ta sống đầy đủ hơn, phong phú hơn trên phơng diện
tinh thần.
Trong những trờng hợp con ngời bị ngăn cách đối với đời sống, văn nghệ là
sợi dây liên hệ giữa ngời đó với thế giới bên ngoài.
17
Văn nghệ góp phần làm cho đời sống của chúng ta ngày càng đẹp đẽ, đáng
yêu hơn. Một tác phẩm văn nghệ hay giúp con ngời cảm thấy yêu tin cuộc sống,
biết rung cảm và ớc mơ trớc cái đẹp.
6. Văn nghệ tác động đến con ngời qua nội dung của nó và đặc biệt là còn đ-
ờng mà nó đến với ngời đọc, ngời nghe:
Tình cảm là một yếu tố then chốt của văn nghệ. Dù phản ánh cuộc sống nào
thì một tác phẩm lớn luôn chan chứa những tình cảm sâu xa của ngời viết. Không
có những tình cảm sâu sắc, mãnh liệt đối với đời sống, một tác phẩm dù đề cập
đến những vấn đề rộng lớn đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa, ngay cả đối với bản
thân ngời sáng tác.
Sự tác động của văn nghệ đối với con ngời chủ yếu cũng qua con đờng tình
cảm. Những xúc cảm, tâm sự của tác giả đối với đời sống làm lay động cảm xúc
của ngời đọc, ngời nghe. Bạn đọc đợc sống cuộc sống mà nhà văn miêu tả, đợc
yêu, ghét, vui, buồn cùng các nhân vật trong đó, dần dần thay đổi suy nghĩ, quan
niệm về đời sống, thậm chí thay đổi cả cách ứng xử đối với những ngời xung
quanh. Văn nghệ khiến cho ta cảm thấy yêu cuộc sống hơn, đồng thời muốn đóng
góp công sức của mình để làm cho cuộc sống ngày càng đẹp hơn.
II. rèn luyện kĩ năng
1. Cách lập luận:
nên khi bỏ đi các từ ngữ chắc, có lẽ thì nội dung cơ bản của những câu trên không
thay đổi.
2. Thành phần cảm thán
a) Các từ ngữ in đậm trong những câu dới đây có chỉ sự vật hay sự việc gì
không?
(1) ồ, sao mà độ ấy vui thế.
(Kim Lân, Làng)
(2) Trời ơi, chỉ còn có năm phút!
(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
19
Gợi ý: Các từ ngữ ồ, trời ơi trong hai câu này không chỉ sự vật hay sự việc cụ
thể nào. Đây là thành phần cảm thán, có tác dụng bộc lộ tâm lí của ngời nói.
b) Căn cứ vào những từ ngữ nào trong câu để chúng ta hiểu đợc tại sao ngời
nói kêu ồ hoặc trời ơi?
Gợi ý: Nhờ những phần tiếp theo của câu mà chúng ta có thể hiểu đợc ý nghĩa
cảm thán của từng câu, rằng tại sao ngời nói lại kêu lên ồ và trời ơi.
3. Các thành phần tình thái và cảm thán không tham gia vào việc diễn đạt
nghĩa sự việc của câu cho nên chúng đợc gọi là thành phần biệt lập.
II. Rèn luyện kĩ năng
1. Đọc các câu sau đây và chỉ ra những thành phần tình thái, cảm thán:
a) Nhng còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê rợn hơn cả những tiếng kia
nhiều.
(Kim Lân, Làng)
b) Chao ôi, bắt gặp một con ngời nh anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng
tác, nhng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đờng dài.
(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
c) Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình nh
chỉ có tình cha con là không thể chết đợc, anh đa tay vào túi, móc cây lợc, đa cho
tôi và nhìn tôi một hồi lâu.
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lợc ngà)
(truyện, thơ, phim, ảnh, tợng,).
Gợi ý:
- Những yếu tố tình thái thờng đợc sử dụng: chắc chắn, chắc hẳn, chắc là,
hình nh, dờng nh, hầu nh, có vẻ nh
- Những yếu tố cảm thán thờng đợc sử dụng: ôi, chao ôi, than ôi, chà, trời
ơi
Nghị luận về một sự việc, hiện tợng đời sống
I. Kiến thức cơ bản
21
Em hãy thực hiện các yêu cầu sau đây để hiểu thế nào là một bài văn nghị
luận về một sự việc, hiện tợng đời sống.
1. Bài văn sau đây bàn đến sự việc, hiện tợng gì của đời sống? Vấn đề đợc bàn
bạc có ý nghĩa đối với đời sống xã hội không?
Bệnh lề mề
Trong đời sống hiện nay có một hiện tợng khá phổ biến, mọi ngời đều thấy,
nhng thờng bỏ qua. Đó là bệnh lề mề mà coi thờng giờ giấc là một biểu hiện. Cuộc
họp ấn định vào lúc 8 giờ sáng mà 9 giờ mới có ngời đến. Giấy mời hội thảo ghi
14 giờ mà mãi đến 15 giờ mọi ngời mới có mặt. Hiện tợng này xuất hiện trong
nhiều cơ quan, đoàn thể, trở thành một bệnh khó chữa.
Những ngời lề mề ấy, khi ra sân bay, lên tàu hoả, đi nhà hát chắc không dám
đến muộn, bởi đến muộn là có hại ngay đến quyền lợi thiết thân của họ. Nhng đi
họp, hội thảo là việc chung, có đến muộn cũng không thiệt gì. Thế là hết chậm lần
này đến chậm lần khác, và bệnh lề mề không sửa đợc.
Bệnh lề mề suy cho cùng là do một số ngời thiếu tự trọng và cha biết tôn trọng
ngời khác tạo ra. Họ chỉ quý thời gian của mình mà không tôn trọng thời gian của
ngời khác. Họ không coi mình là ngời có trách nhiệm đối với công việc chung của
mọi ngời.
Bệnh lề mề gây hại cho tập thể. Đi họp muộn, nhiều vấn đề không đợc bàn
bạc thấu đáo, hoặc khi cần lại phải kéo dài thời gian. Bệnh lề mề gây hại cho
những ngời biết tôn trọng giờ giấc. Ai đến đúng giờ lại cứ phải đợi ngời đến muộn.
nh thế nào?
Gợi ý: Ngời viết tỏ rõ thái độ phê phán đối với hiện tợng lề mề coi thờng giờ
giấc, xem đây nh một thứ bệnh gây tác hại đối với sự tiến bộ của xã hội.
6. Bài viết đợc bố cục nh thế nào? Bố cục nh thế có mạch lạc và chặt chẽ
không? Vì sao?
Gợi ý: Bố cục của bài viết mạch lạc và chặt chẽ (có thể chia thành 3 phần tơng
ứng với Mở bài, Thân bài, Kết bài). Mở đầu, tác giả chỉ ra hiện tợng cần bàn bạc.
Tiếp đến, tác giả phân tích những tác hại của hiện tợng. Cuối cùng, tác giả đa ra
giải pháp khắc phục.
II. Rèn luyện kĩ năng
1. Hãy nêu ra các sự việc, hiện tợng tốt, đáng biểu dơng mà em thấy ở trờng
của mình hoặc ở ngoài xã hội.
23
Gợi ý: Chú ý quan sát, hoặc nhớ lại những sự việc, hiện tợng tốt đáng biểu d-
ơng của các bạn cùng lớp, cùng trờng hay ngoài xã hội, trong cuộc sống sinh hoạt
hằng ngày (có thể là việc làm tốt, gơng học tập đáng noi theo, ý thức vơn lên, ý
thức giữ nền nếp tốt).
2. Theo em, trong số các sự việc, hiện tợng tốt, đáng biểu dơng vừa nêu, sự
việc, hiện tợng nào đáng để viết một bài nghị luận xã hội và sự việc, hiện tợng nào
không cần viết? Vì sao?
Gợi ý: Sự việc, hiện tợng đợc đem ra nghị luận phải là những sự việc nổi bật,
có ý nghĩa đối với mọi ngời hoặc là những sự việc, hiện tợng có nhiều điều cần
phải suy nghĩ.
3. Có một hiện tợng nh sau:
Theo một cuộc điều tra 2 000 thanh niên nam ở Hà Nội năm 1981 cho thấy:
từ 11 đến 15 tuổi, 25% các em đã hút thuốc lá; từ 16 đến 20: 52%; trên 20 tuổi:
80%. Tỉ lệ này ngang với các nớc châu Âu. Trong số các em hút thuốc lá, có đến 80%
lâu lâu có triệu chứng nh ho hen, khạc đờm, đau ngực, còn trong số những em
không hút chỉ có không đến 1% có các triệu chứng ấy. (Theo Nguyễn Khắc Viện)
Hãy cho biết hiện tợng này có thể trở thành đối tợng để viết một bài văn nghị luận xã hội
từng xâu ghim xuống đất. Mỗi ghim là một bài.
Một hôm Nguyễn Hiền xin thầy cho đi thi. Thầy ngạc nhiên bảo:
- Con đã học tập đợc bao nhiêu mà dám thi thố với thiên hạ?
- Con xin thi thử xem sức học của mình đến đâu.
Năm ấy, Nguyễn Hiền đã đỗ trạng nguyên. Vua Trần cho Nguyễn Hiền còn
nhỏ quá, mới 12 tuổi, nên không bổ dụng.
Một thời gian sau, vua có việc tiếp sứ giả nớc ngoài, cho gọi Nguyễn Hiền về
triều. Nguyền Hiền bảo:
- Đón trạng nguyên mà không có võng lọng sao? Ông về tâu với vua xin cho
đầy đủ nghi thức.
Vua đành cho các quan mang võng lọng rớc quan Trạng tí hon về kinh.
(Theo Cửu Thọ, Một trăm gơng tốt thiếu nhi Việt Nam,
NXB Trẻ, TPHCM, 1999)
25