1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
NGUYỄN THỊ KIM MI
LỚP
: K15404
MSSV
: K154040234
TIỂU LUẬN XÃ HỘI HỌC
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
VIỆT NAM
2
Mục lục
Phần 1: Mở
đầu………………………………………………………………...1
1. Lí do chọn đề
tài………………………………………………………..1
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn…………………………………
1
3. Mục đích nghiên
cứu…………………………………………………...1
Phần 2: Kiến thức cơ
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
Thực trạng môi trường ngày nay………………………....……12
Nguyên nhân ô nhiễm môi trường………………………….
….14
Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường trên sức khỏe……………
15
Biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường………………..
…....15
Phần 4: Kết luận………………………………………………………………
16
1.
2.
3.
4.
5.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xã hội hoc đại cương
Bộ giáo dục đào tạo-Viện đại học mở Hà Nội
Tác giả: GS. Phạm Tất Dong, PGS. Nguyễn Anh Huy, Đỗ Nguyên
Phương
Một số vấn đề cơ bản trong xã hội học
người.
Các ô nhiễm thường gặp trong các đô thị là ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi
trường nước, tiếng ồn và ô nhiễm chất thải. Ô nhiễm môi trường đô thị ở Việt
Nam đang ở mức báo động đỏ, yêu cầu cấp bách đặt ra là Việt Nam phải có
những giải pháp thiết thực nhanh chóng nhằm giảm thiểu tình trạng trên.
Là một trong những chủ nhân tương lai của đất nước, tôi rất muốn nghiên
cứu thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của tình trạng ô nhiễm môi trường
đáng báo động như hiện nay thông qua những hiểu biết, kiến thức cơ bản của
môn xã hội học. Từ đó, tìm ra giải pháp góp phần cải thiện môi trường, nâng
cao chất lượng sống.
2.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
-Ý nghĩa khoa học: nghiên cứu này góp phần củng cố và phát triển các lí
thuyết xã hội học và mối quan hệ của xã hội học với các ngành khoa học
khác như: triết học, kinh tế học, tâm lí học, đạo đức học, văn hóa học, dân tộc
học,…
- Ý nghĩa thực tiễn: đưa ra những nghiên cứu về thực trạng và giải pháp khắc
phục vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay ở Việt Nam, đóng góp chút sức lực
vào công cuộc đưa đất nước trớ thành bạn bè với các cường quốc năm châu.
6
3.
Mục đích nghiên cứu
-Tổng hợp lại kiến thức nền-cơ bản nhưng rất quan trọng về xã hội học, nắm
chắc được khái niệm, đối tượng nghiên cứu, chức năng, ý nghĩa cũng như
điều này đã tác động sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống, nó trở thành môn
khoa học
quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội. Với nội dung tư tưởng,
xã hội học luôn hướng con người và xã hội con người tới chân- thiện- mĩ,
luôn nhắc nhở con người không nói, không nghe, không xem, không làm điều
trái lẽ. đặc biệt trong xã hội hôm nay, cá nhân cần nhận thức quá trình học tập
của mình là học để làm người, học để hiểu biết, học để cùng chung sống, học
để cùng tồn tại.
2. Lịch sử ra đời và phát triển của xã hội học
Tiền đề lý luận và phương pháp luận làm nảy sinh xã hội học bắt nguồn từ
những tư tưởng khoa học và văn hóa thời đại Phục Hưng thế kỷ XVIII (thời
kỳ Khai sáng).
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và đặc biệt là phương pháp luận nghiên
cứu khoa học cũng là nhân tố quan trọng cho sự ra đời xã hội học. Các cuộc
cách mạng khoa học diễn ra ở thế kỷ XVI, XVII và đặc biệt là thế kỷ XVIII
đã làm thay đổi căn bản thế giới quan và phương pháp luận khoa học.
Xã hội học xuất hiện ở châu Âu thế kỷ XIX với tư cách là một tất yếu lịch sử
xã hội. Tính tất yếu đó thể hiện ở nhu cầu và sự phát triển chín mùi các điều
kiện và tiền đề biến đổi và nhận thức đời sống xã hội. Các biến động to lớn
trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội châu Âu vào thế kỷ XVIII và nhất
là thế kỷ XIX đã đặt ra những nhu cầu thực tiễn mới đối với nhận thức xã
hội.
Bắt đầu từ thế kỷ 18, đời sống xã hội ở các nước Châu Âu trở nên hết sức
phức tạp. Cuộc cách mạng công nghiệp 1750 đã đưa đến những đảo lộn ghê
gớm. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những đô thị công nghiệp khổng lồ gây nên
những làn sóng chuyển dịch dân cư lớn, kèm theo đó là những mâu thuẫn giai
cấp, mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn tôn giáo căng thẳng, các quan hệ xã hội
ngày càng thêm đa dạng và phức tạp. Xã hội rơi vào trạng thái biến động
không ngừng: chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, xung đột chính trị, suy thoái
đạo đức, phân hoá giàu nghèo, bùng nổ dân số, tan rã hàng loạt các thiết chế
bành trướng của thương mại và công nghiệp. Sự tác động của tự do hóa
thương mại, tự do hóa sản xuất và đặc biệt là tự do hóa lao động; hệ thống tổ
chức quản lý kinh tế theo kiểu truyền thống đã bị thay thế bằng cách tổ chức
xã hội hiện đại. Do vậy, thị trường đã được mở rộng, hàng loạt nhà máy,
xưởng và tập đoàn kinh tế đã ra đời thu hút nhiều lao động từ nông thôn ra
thành thị làm thuê. Của cải, đất đai, tư bản không còn tập trung trong tay tầng
lớp phong kiến mà rơi vào tay giai cấp tư sản.
Sự xuất hiện và phát triển hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ trật tự
xã hội phong kiến gây những xáo trộn và biến đổi trong đời sống kinh tế xã
hội của các tầng lớp, giai cấp và các nhóm xã hội. Từ đó nảy sinh nhu cầu
thực tiễn phải lập lại trật tự, ổn định xã hội và nhu cầu nhận thức để giải
quyết những vấn đề mới mẻ nảy sinh từ cuộc sống đang biến động đó. Trong
bối cảnh đó, Xã hội học đã ra đời để đáp ứng nhu cầu nhận thức các biến đổi
xã hội và lập lại trật tự xã hội.
9
Nền kinh tế xã hội phát triển dẫn đến sự thay đổi chung về cơ cấu xã hội làm
cho xã hội nông thôn thời phong kiến bị tan dã dẫn tới sự phân hóa giàu
nghèo, bất bình đẳng,
Do sự phát triển của đô thị, các trung tâm, của nền kinh tế đã dẫn tới sự khác
biệt giữa thành thị -nông thôn, lao động chân tay và lao động trí óc.
3.1.2 Điều kiện chính trị-xã hội
Cuộc đại cách mạng Pháp năm 1789, làm biến đổi chính trị, xã hội
quan trọng góp phần làm thay đổi căn bản thể chế chính trị, trật tự xã hội và
các thiết chế xã hội châu Âu thế kỷ XVIII. Cuộc cách mạng này đã không chỉ
mở đầu cho thời kỳ tan rã chế độ phong kiến, nhà nước quân chủ mà còn thay
thế trật tự cũ đó bằng một trật tự chính trị xã hội mới là nhà nước tư sản.
Công xã Paris năm 1871 - Mâu thuẫn sâu sắc về lợi ích giữa các tầng lớp xã
hội và nhất là giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản đã lên đến đỉnh điểm
được coi không chỉ là người đặt tên mà còn thực sự đặt những viên gạch lý
thuyết đầu tiên cho ngành khoa học này.
Các tác phẩm chính của ông là: Giáo khoa về triết học thực chứng (18301842), Hệ thống xã hội thực chứng (1851-1858)
4.2 Karl Marx (1818-1883)
Nhà triết học, kinh tế học người Đức. Lúc sinh thời Karl Marx không
coi mình là nhà xã hội học, nhưng những tư tưởng trong di sản đồ sộ của ông
đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của xã hội học. Dường
như tất cả các nhà xã hội học hiện đại khi giải thích xã hội đều tiếp cận bằng
lý thuyết mâu thuẫn và xung đột của K. Marx. Các nhà xã hội học "đều vay
mượn của Marx các lý giải về giai cấp, ngay cho dù nhà xã hội học đó kết
thúc bằng cách bài bác Marx như là sai lầm và bị lịch sử vượt qua". K.Marx
chủ yếu sử dụng lý thuyết mâu thuẫn để làm sáng tỏ biến chuyển xã hội. Đó
là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa hai giai cấp
cơ bản kiến tạo nên xã hội. Các vấn đề như: phân tầng xã hội, tội phạm, biến
chuyển xã hội,... đều được các nhà xã hội học đương đại xem xét dưới ánh
sáng lý thuyết mâu thuẫn của Marx.
Các tác phẩm chính: Gia đình thần thánh (1845), Hệ tư tưởng Đức (1846), Sự
khốn cùng của triết học (1847), Tư bản(1875).
4.3 Herbert Spencer (1820-1903)
Nhà triết học và xã hội học người Anh. Ông được coi là cha đẻ của
triết học tiến hóa. Herbert Spencer đã dùng lý thuyết này để giải thích sự biến
đổi xã hội. Mặc dù một vài quan điểm của ông bị phê phán nhưng vai trò của
ông vẫn có những ảnh hưởng lớn tới các nhà xã hội học hậu thế.
Các tác phẩm chính: Thống kê xã hội (1950), Nghiên cứu xã hội học (1837),
Các nguyên tắc của xã hội học (1876), Xã hội học mô tả (1873-1881).
4.4 Emile Durkheim (1858-1917)
11
Nhà xã hội học nổi tiếng được coi là cha đẻ của xã hội học Pháp. Các
xác định với mục đích là thay đổi trạng thái đó theo chiều hướng có lợi hơn
và tiến bộ hơn. Như thế nếu xã hội học sử dụng kết quả của khảo cổ học hay
dân tộc học khi nghiên cứu quá khứ, thì cũng là để phục vụ cho việc nắm bắt
trạng thái xã hội đương đại. Tương tự như thế, xã hội học có thể liên kết chặt
12
chẽ với tâm lý xã hội, nhân chủng học, kinh tế học hay luật học thì mục tiêu
cuối cùng hướng đến cũng là đi tìm về một trang thái xã hội hiện thực nào đó.
5.2Chức năng của xã hội học
Mỗi một môn khoa học đều có một số chức năng nhất định. Chức năng
của mỗi môn khoa học được phản ánh ở mối quan hệ và sự tác động qua lại
của chính môn khoa học đó với thực tiễn xã hội. Xã hội học có sáu chức năng
cơ bản sau đây:
5.2.1. Chức năng nhận thức: Xã hội học cũng giống như các môn khoa học
khác là trang bị cho người nghiên cứu môn học những tri thức khoa học mới,
nhờ đó mà chúng ta có được nhãn quan mới mẻ hơn khi tiếp cận tới các hiện
tượng xã hội, sự kiện xã hội và quá trình xã hội vốn rất gần gũi rất quen
thuộc quanh chúng ta, và như thế xã hội hiện ra dưới mắt chúng ta sáng rõ
hơn mà trước đó chúng ta chưa bao giờ được biết đến hoặc biết đến rất ít.
5.2.2. Chức năng tư tưởng: Xã hội học giúp chúng ta nhận thức đầy đủ sức
mạnh và vị trí của con người trong hệ thống xã hội, góp phần nâng cao tính
tích cực xã hội của cá nhân và hình thành nên tư duy khoa học trong khi xem
xét, phân tích, nhận định, dự báo về các sự kiện, hiện tượng và quá trình xã
hội.
5.2.3. Chức năng dự báo: Trên cơ sở nhận diện được hiện trạng xã hội thực
tại và sử dụng các lý thuyết dự báo, các nhà xã hội học sẽ mô tả được triển
vọng vận động của xã hội trong tương lai gần cũng như tương lai xa hơn. Dự
báo xã hội là một thế mạnh của xã hội học. Có thể nói trong tất cả các môn
6.1 Với Triết học :
Triết học là khoa học nghiên cứu quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và
tư duy. Quan hệ giữa xã hội học và triết học là mối quan hệ giữa một khoa
học xã hội cụ thể với một khoa học về thể giới quan trong quan hệ đó. Triết
học và khoa học triết học Mác-Lênin là nền tảng thế giới quan, là cơ sở
phương pháp luận cho nghiên cứu của xã hội học macxit. Các nhà xã hội học
macxit vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật làm
công cụ lý luận sắc bén để nghiên cứu và cải thiện mối quan hệ giữa con
người và xã hội.
Ngược lại qua nghiên cứu thực nghiệm xã hội học lại cung cấp số liệu thông
tin, bằng chứng mới, số liệu mới mẻ cho khái quát triết học về con người và
xã hội, làm cho triết học không bị khô cứng, lạc hậu trước những biến đổi,
quy luật mới về đời sống xã hội vận động không ngừng.
6.2 Với sử học và tâm lý học:
Xã hội học ra đời sau, tiếp thu và kế thừa rất nhiều thành tựu, tri
thức của sử học và tâm lý học để nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa con
người với xã hội.
Xã hội học có liên hệ chặt chẽ với tâm lí học và Sử học. Các nhà xã hội học
có thể vận dụng cách tiếp cận tâm lý học để xem xét hành động xã hội với tư
14
cách là hoạt động cảm tính, có đối tượng, có mục đích. Xã hội học có thể coi
cơ cấu xã hội, tổ chức xã hội, thiết chế xã hội với tư cách như là những chủ
thể hành động. Xã hội học có thể quán triệt quan điểm lịch sử trong việc đánh
giá tác động của hoàn cảnh, điều kiện xã hội với con người. Các nhà nghiên
cứu có thể phân tích yếu tố “thời gian xã hội” qua các khái niệm tuổi tác, thế
hệ khi giải thích những thay đổi xã hội trong đời sống con người.
6.3 Với Kinh tế học.
Kinh tế học nghiên cứu quá trình sản xuất, tổ chức sản xuất, phương pháp lưu
Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là
tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh
hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp
sự phát triển kinh tế- xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ
hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết
đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị và của toàn xã hội.
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát
triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển
kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời
công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến
ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra
phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ
yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động
làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn
1.
Môi trường là gì?
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan
hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên."
(Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt
Nam).
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết
cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không
khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội...
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao
gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc
Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá
học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho
nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng
sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô
nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. Có nhiều nguyên nhân
gây ô nhiễm nước:
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt
đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết
của chúng.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông vào môi trường nước.
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô
nhiễm bởi các tác nhân vật lý.
Ô nhiễm nước mặn, ô nhiễm nước ngầm và biển.
17
Ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc
có sự xuất hiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, làm
giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật.
Những nguyên nhân gây ô nhiễm không khí là:
trực thuộc trung ương quyết định thành lập. Theo báo cáo giám sát của Uỷ
ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công
nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có
nơi chỉ đạt 15 - 20%, như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu
công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như
18
không vận hành vì để giảm chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã
hoạt động có trạm xử lí nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp
đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nước thải.
Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000
tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Tại Hội nghị triển khai
Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai ngày 26/2/2008,
các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn nước thuộc lưu vực
sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng
mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Theo số liệu khảo sát do Chi
cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện
năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ
(đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các
điểm xả. Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần
tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng chì trong nước vượt
tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần...
Tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là trên 9.000 cơ sở sản
xuất công nghiệp nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư trên lưu vực
sông Đồng Nai. Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận khoảng
48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này. Dọc lưu vực sông Đồng Nai,
có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có
hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn
nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận... Có
nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp
đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn
ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết
liệt của bộ phận dân cư này, làm nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt.
Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại
các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động. Đó là các ô nhiễm
về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn... Những
năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước
không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng. Nước thải, rác thải sinh hoạt
(vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không
có bất kỳ một biện pháp xử lí nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp.
Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân ở các thành phố
lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn mét
khối nước thải độc hại; các phương tiện giao thông thải ra hàng trăm tấn bụi,
khí độc. Trong tổng số khoảng 34 tấn rác thải rắn y tế mỗi ngày, thành phố
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 1/3; bầu khí quyển của thành
phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có mức benzen và sunfua đioxit đáng
báo động. Theo một kết quả nghiên cứu mới công bố năm 2008 của Ngân
hàng Thế giới (WB), trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô
nhiễm đất, nước, không khí, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa
bàn ô nhiễm đất nặng nhất. Theo báo cáo của Chương trình môi trường của
Liên hợp quốc, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu châu
Á về mức độ ô nhiễm bụi.
2.2. Nguyên nhân ô nhiễm môi trường
Thứ nhất, những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về
bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng.
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về
bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt
động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản
đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao.
Thứ tư, công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã
hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của
các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và bảo vệ môi
trường.
Thứ năm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên
trách công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ
công tác kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, trong
21
nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn
tinh vi của doanh nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường.
2.3. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường trên sức khỏe
Những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe có thể
được phân loại trên cơ sở của các loại ô nhiễm khác nhau ví dụ như ô nhiễm
nước, ô nhiễm không khí và đất ô nhiễm môi trường.
Hậu quả chung của tình trạng ô nh
22
iễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm
nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng. Người dân
sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh có liên
quan đến việc dùng nước bẩn trong sinh hoạt.
*Người nhiễm Chì lâu ngày có thể mắc bệnh thận, thần kinh, nhiễm Amoni,
Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu, có thể gây ung thư. Metyl
tert-butyl ete (MTBE) là chất phụ gia phổ biến trong khai thác dầu lửa có khả
23
chuyên trách công tác môi trường; trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại
để phục vụ có hiệu quả hoạt động của các lực lượng này.
Ba là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công
nghiệp, các làng nghề, các đô thị, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính
toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp;
tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo như ở nhiều
địa phương thời gian vừa qua, gây khó khăn cho công tác quản lí nói chung,
quản lí môi trường nói riêng. Đối với các khu công nghiệp, cần có quy định
bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lí
nước thải , phân tích môi trường tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt
động, đồng thời thường xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lí nước
thải, rác thải tại đó.
Bốn là, chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá
tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên
môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp
hay không cấp giấy phép đầu tư. Việc quyết định các dự án đầu tư cần được
cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích đem lại trước mắt với những ảnh hưởng của
nó đến môi trường về lâu dài. Thực hiện công khai, minh bạch các quy
hoạch, các dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi tổ chức và công dân có thể
tham gia phản biện xã hội về tác động môi trường của những quy hoạch và
dự án đó.
Năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn
xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành
pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp
trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho
mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết
giữa tự nhiên - con người - xã hội.
Phần 4: Kết luận