ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------
LÊ THỊ XUÂN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG VỪNG 75/24 VỤ XUÂN NĂM 2015
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học cây trồng
Khoa
: Nông học
Khóa học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên - năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Thái Nguyên - năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Được sự cho phép của Ban giám hiệu nhà trường và Ban chủ nhiệm
Khoa Nông Học, em đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật
độ đến sinh trưởng và phát triển của giống vừng 75/24 vụ xuân năm 2015
tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
của cô giáo hướng dẫn. Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô
giáo trong khoa Nông Học và các thầy cô giáo trong trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên. Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo: ThS. Ma
Thị Phương đã chỉ bảo hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu. Và cuối
cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình bạn bè… Những người
luôn quan tâm, chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong thời gian em
học tập nghiên cứu vừa qua.
Do thời gian có hạn, trình độ và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế
nên báo cáo của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận
được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, Tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Xuân
ii
1.1 Đặt vấn Đề ............................................................................................... 1
1.2 Mục đích. ................................................................................................ 2
1.3 Mục tiêu ................................................................................................... 2
1.4 Ý nghĩa ..................................................................................................... 2
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu ................................................. 2
1.4.2 Ý nghĩa sản xuất................................................................................. 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
2.1 Cơ sở khoa học ......................................................................................... 3
2.2 Giá trị dinh dưỡng, nguồn gốc phân loại và đặc điểm thực vật học ........ 5
2.2.2 Nguồn gốc phân loại và đặc điểm thực vật học ................................ 8
2.3 Tình hình sản xuất vừng trên Thế giới và Việt Nam. ........................... 18
2.3.1 Tình hình sản xuất vừng trên Thế giới. .......................................... 18
2.3.2 Tình hình sản xuất vừng ở Việt Nam. ............................................ 22
PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................... 27
3.1 Vật liệu nghiên cứu ............................................................................... 27
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ........................................................ 27
3.3 Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................ 27
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm ....................................................... 27
3.4.2 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi ..................................... 28
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................... 32
4.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của
giống vừng 75/24 trong vụ xuân năm 2015 tại Trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên............................................................................... 32
iv
4.2 Ảnh hưởng của mật độ đến đặc điểm hình thái của giống vừng 75/24
trong vụ xuân năm 2015 tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên ....... 36
có dầu. Phát triển cây có dầu là một chiến lược quan trọng, nhằm tận dụng đất
đai mùa vụ, hình thành các vùng sản xuất tập trung phát triển nhanh các loại
cây có dầu, đồng thời đầu tư toàn bộ cho khâu chế biến đảm bảo tăng nhanh
khối lượng chất lượng và giá trị sản phẩm, đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống
của Nhân Dân và xuất khẩu.
Tuy nhiên trong những năm qua tình hình sản xuất cây có dầu có nhiều
biến động không ổn định. Trong các loại cây có dầu thì cây vừng là một loại
cây ít được quan tâm bởi năng suất thấp nhu cầu tiêu thụ của sản phẩm thị
trường còn hạn chế. Nhưng hiện nay các sản phẩm của cây vừng tăng đột biến
của nghành công nghệ thực phẩm và nhu cầu của một số nghành khác như Y
học, hóa mỹ phẩm... Sản phẩm của cây vừng không chỉ dừng lại làm quà bánh
và thức ăn của miền quê, vừng còn là nguồn dược liệu quý cho Y học.
2
Xuất phát từ nhu cầu thiết yếu để phục vụ cho thực tế sản xuất em tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh
trưởng và phát triển của giống vừng 75/24 vụ xuân năm 2015 tại trường
Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2.Mục đích.
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và
phát triển của giống vừng trong vụ xuân năm 2015 tại Trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên.
Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của giống.
1.3.Mục tiêu
Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp nhất cho giống vừng 75/24
trong điều kiện vụ xuân tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nhằm
tạo điều kiện cho cây vừng sinh trưởng, phát triển tốt nhất và đạt được năng
dưỡng cho một cây hẹp dẫn tới cây thiếu dinh dưỡng, thiếu ánh sáng, ít phân
cành, sớm bị che phủ làm cho lá rụng nhiều, số hoa ít, số quả/ cây ít, khối
lượng 1000 hạt nhỏ. Ngược lại nếu trồng thưa diện tích dinh dưỡng của cây
trồng rộng cây phân nhánh nhiều, số hoa và số quả/ cây nhiều, khối lượng
1000 tăng nhưng trồng thưa mật độ thấp nên năng suất không cao. Vì vậy
gieo trồng với mật độ thích hợp là một trong những biện pháp quan trọng
hàng đầu để tăng năng suất và chất lượng nông sản.
Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp có ảnh hưởng rất lớn đến
sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất của vừng. Nhiều thí nghiệm cho
thấy rằng nếu gieo trồng đúng mật độ thích hợp thì sẽ cho năng suất cao.
Thực tế trong sản xuất hiện nay diện tích trồng vừng còn nhỏ lẻ và manh
mún, nên việc áp dụng khoa học tiến bộ như máy gieo vừng là không có. Hơn
thế nữa là những vùng chuyên canh, người dân chưa chú ý áp dụng khoa học
kỹ thuật vào trong sản xuất còn làm theo kinh nghiệm truyền thống như gieo
vãi, mà không để ý đến mật độ thích hợp cho từng giống cho từng mùa vụ.
Dẫn đến tình trạng lãng phí về giống và không phát huy về tiềm năng năng
4
suất của giống. Vì vậy việc xác định được mật độ gieo trồng thích hợp cho
mỗi giống phù hợp với điều kiện sinh thái và điều kiện canh tác là rất cần
thiết, từ đó cơ sở giúp người dân hiểu và áp dụng các mật độ thích hợp vào
sản xuất nhằm nâng cao năng suất.
Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến
năng suất cây trồng. Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức là giải quyết tốt mối
quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể làm cho quần thể cây
trồng khai thác tốt nhất khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất
(khai thác nước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được năng suất và sản lượng
cao nhất trên một đơn vị diện tích.
mát, lá già dùng chữa bệnh rong huyết.
Vừng là loại hạt cho dầu ăn có chất lượng cao, ổn định, không bị trở mùi
ôi. Trong 100kg vừng hạt có 560 – 580 calo, 18g protein. 20g hydratcacbon, 50
– 60g chất béo, 10,5mg sắt, 616mg phốt pho. 720mg kali, 60mg Natri, 30 đơn vị
vitamin A, 0,8mg B1, 0,2mg B2, 0,5mg Niacin, 2mg Vitamin C…Ngoài ra vừng
còn cung cấp cho ta một nguồn năng lượng lớn (560 – 580 calo).
Thành phần các chất trong 100kg vừng hạt (bảng 2.1).
Bảng 2.1 Thành phần các chất trong 100kg vừng hạt
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
Thành phần
Calo
Protein
Hydratcacbon
Chất béo
Sắt
Photpho
phụ gia trong công ngiệp thực phẩm nước chấm, công nghệ dược liệu, mỹ
phẩm, thuốc trừ sâu.
Vừng còn làm thuốc chữa bệnh cho người. Đông y coi vừng là loại
thuốc, vừng đen có tên là “Hắc Ma Chi”, làm thuốc bổ, thuốc nhuận tràng, lợi
sữa. Theo Hải Thượng Lãn Ông thì vừng có vị ngọt tính bình, không độc, đi
vào bốn kinh phế, tỳ, gan, thận. Có tác dụng ích gan, bổ thận, nuôi huyết,
nhuận tràng, điều hòa ngũ tạng, là loại thuốc tự dưỡng, cường tráng, chủ trị
thương phong hư nhược, ích khí lực, đầy trí não, bổ gan cốt, sáng tai mắt, sát
trùng, tiêu uất khí vv… .
Hạt vừng chứa 45-55 % dầu, 19-20 % protein, 8-11% đường, 5 %
nước, 4-6 % tro. Thành phần là axit hữu cơ chủ yếu là hai loại axit béo chưa
no (Axit oleic; axit linoleic), hàm lượng axit amin có trong bột vừng và trong
thịt (bảng 2.1). Ngoài ra hạt vừng chứa nhiều chất khoáng và năng lượng,
vừng là loại dầu quý được sử dụng nhiều lĩnh vực
Bảng 2.2. Thành phần dinh dƣỡng có trong bột vừng và trong thịt
Bột vừng (%)
Thịt (%)
Lysin
2,8
10,0
Triptophan
1,8
1,4
Thrionine
4,0
5,0
Acid amin
(Nguồn: Morris, 2002)
7
Công dụng
Dùng trong thực phẩm
Hạt vừng là thành phần trong rất nhiều loại thức ăn, khoảng 70% sản
lượng vừng trên thế giới được chế biến thành bữa ăn và ép dầu. Trong tổng số
hạt vừng tiêu thụ có khoảng 60% dùng ép dầu, 35% dùng trong thực phẩm. Ở
Việt Nam hạt vừng phần lớn chế biến thức ăn như bánh kẹo bột vừng và ép
lấy dầu. Bột vừng dùng để làm kem..., bột vừng có hàm lượng protein khá cao
(hàm lượng valine, phenilanien, leucine) khoảng 10-12% trong dầu vừng.
Theo báo cáo của Morris 2002, trong hạt vừng chứa hàm lượng calcium cao
gấp ba lần calcium trong sữa.
Dùng trong dƣợc phẩm
Dầu vừng có chứa vitamin E và một vài chất chống oxy hóa quan trọng
khác, các chất chống oxy hóa như sesaimolinol và sesamol đã tìm thấy trong
382
Đậu tương (Đậu nành Soybean)
542
Vừng (Mè Sesame)
807
Hướng dương (Sufmlower)
1113
Lạc (Đậu phộng Peanuts)
1233
Cải dầu (Rapseed)
1385
Olives
1407
Jojoba
2116
Theo các tài liệu hiện hành, loài hoang dã nhất của giống vừng có
nguồn gốc ở vùng cận Sahara, Châu Phi.
Loài vừng trồng (Sesamum indicum) có nguồn gốc từ Ấn Độ (với tên
Latin là indicum). Là một trong những cây trồng dùng để sản xuất hạt vừng.
Cây vừng được coi là cây cho dầu lâu đời nhất được biết đến, vừng có
khả năng chịu hạn tốt. Nó đã được gọi là một cây trồng “sống sót”, với khả
năng phát triển nơi mà hầu hết các cây trồng khác thất bại.
- Phân loại
Phân loại khoa học:
Giới (reguum)
Plantae
Ngành (divsio)
Empryophyta
Lớp (class)
Spermatopsida
Bộ (ordo)
Malpighiales
Họ (familia)
Euphorbiaceae
Chi (henus)
cây trồng khác như cây lúa, ngô, cây họ đậu khác...
+ Số khía trên quả vừng: phân loại các giống vừng có 4 khía, 6 khía, 8
khía dùng cách phân loại này để chọn cỡ hạt vừng nhỏ.
+ Quả vừng bị nứt hoặc không nứt trong khi thu hoạch: phân loại này
giúp cho tác xác định được khi thu hoạch sớm tránh bị nứt quả.
+ Màu sắc hạt: phân loại này thường phổ biến nhất (hạt màu đen, hoặc
màu vàng, trắng), trong phân loại có hai màu: vừng đen (Sesanum indicum
L), có phẩm chất tốt hơn vừng trắng. Vừng vàng (Sesanum orientalis L). Vỏ
hạt phân biệt vừng 1 vỏ với vừng 2 vỏ, vừng 1 vỏ có hàm lượng dầu cao.
Ngoài các cách phân biệt trên ta còn phân biệt vừng theo thời vụ trồng, số hoa
ở nách lá, sự phân cành trên cây.
Đặc điểm thực vật học
Rễ Vừng
Rễ vừng thuộc họ rễ cọc, có hệ thống rễ chùm phát triển. Kiểu sinh
trưởng của bộ rễ có mối quan hệ với điều kiện sinh thái, cho nên bộ rễ sinh
11
trưởng ở vùng có khí hậu khô và nóng có khí hậu ẩm có khác nhau, ở vùng
khí hậu khô thì hệ thống rễ phát triển nhanh, mạnh nhất đối với kiểu cây có
nhiều cành, còn kiểu cây ít cành, đơn thân thì yếu hơn. Rễ cọc của cây vừng ở
kiểu đơn cành phát triển nhanh hơn ở kiểu nhiều cành, trong khi đó thì rễ
chùm của kiểu nhiều cành lại phát triển nhanh hơn.
Sự phát triển của bộ rễ phụ thuộc rất nhiều vào tính chất đất, ở đất cát
pha thì bộ rễ phát triển mạnh hơn ở đất sét. Nơi có độ ẩm cao thì bộ rễ lại phát
triển kém. Khi gặp úng vừng sẽ bị chết. So với nhiều loại cây trồng khác thì
bộ rễ của vừng phát triển chậm hơn, do đó mà khi gieo trồng vừng cùng lúc
với cây khác thì nó rễ cây khác cạnh tranh làm cho sự sinh trưởng của cây
vừng sẽ kém đi.
Lá vừng mọc cách và mọc đối. Lá có nhiều hình dạng khác nhau và
thay đổi tùy theo giống và vị trí trên thân. Lá có khi nguyên, có khi chia ra 3
thùy hoặc có răng cưa. Lá mọc đối hay luân phiên tùy giống, cách sắp xếp lá
ảnh hưởng đến số hoa mang trên nách lá và năng suất hạt trên cây. Lá mọc
đối tạo điều kiện có nhiều hoa. Kích thước của lá thay đổi từ 3 – 17,5cm chiều
dài và 1 – 1,5cm chiều rộng, cuống lá từ 1-5 cm.
Lá có mầu xanh thẫm và có sự thay dổi tùy thuộc vào độ màu mỡ của
đất, khi quả đã chín sẽ chuyển sang màu vàng. Trên mặt lá có nhiều lông và
có chất nhờn. Các khí khổng có trên mặt lá có mật độ khác nhau tùy theo từng
giống. Múi lá có sự thay đổi khác nhau tùy theo độ dài ngày và thời gian gieo
trồng. Số lá trên cây có sự tương quan với độ dài của ngày. Đối với các giống
thuộc nhóm chín sớm và trung bình thì sự tương quan đó càng chặt chẽ hơn.
Hoa vừng
Hoa vừng mọc ra từ nách lá thân và cành. Hoa có màu trắng, hơi hồng
hoặc tím. Đốt đầu tiên mang hoa của thân tính từ mặt đất trở lên là đặc điểm
di truyền của giống và có sự tương quan chặt chẽ với chiều cao cây, chiều cao
dóng quả và năng suất hạt. Vừng có hai loại hoa là hoa đơn và hoa chùm.
13
Trên nách của mỗi lá có thể ra 6-8 hoa. Hoa đơn là đặc điểm trội, có cuống
hoa ngắn, lá bắc cũng ngắn và mọc đối. Đài hoa có 5 thùy nông, hình sợi và
có lông mềm. Tràng hoa chia ra thành 5 thùy hình ống, hoa có hình chuông,
dài khoảng 3 cm với hai hoa môi yếu ớt, 3 tràng phía dưới liên kết lại thành
môi dưới. Hoa vừng có 5 nhị đực dài từ 0,5 - 0,6 cm.
Trong đó có 4 cái hoạt động (2 cái dài và 2 cái ngắn). Còn 1 cái bất
dục, chúng đính trên ống tràng thành 2 cặp. Bầu nhụy có lông mềm và nằm
trên đáy hoa, có vòi nhẵn, có từ 2 – 4 ngăn và được chia ra thành nhiều ngách
giả mang rất nhiều noãn. Thông thường thì 90% số hoa là tự thụ phấn, côn
gốc. Trọng lượng P1000 hạt ảnh hưởng do giống và điều kiện canh tác.
Quá trình chín của vừng diễn ra từ gốc lên ngọn như quá trình ra hoa
trước đó. Khi quả đã chín già, nó sẽ tự tách ra theo các vách ngăn hạt và hạt
sẽ rời ra. Đối với những giống có vách ngăn dày thì sau khi thu hoạch, phơi
đập hạt sẽ khó hơn các giống có vách mỏng.
Hạt vừng
Trong quả vừng có rất nhiều hạt nhỏ. Hạt vừng có hình trứng dẹp,
chiều dài từ 2 -4 mm, chiều rộng khoảng 1,5- 2 mm, dày 1 mm. Trọng lượng
1000 hạt từ 2- 4 g. Các giống vừng địa phương của ta có hạt bé hơn, trọng
lượng 1000 hạt chỉ trên 2 g. Hạt vừng có nhiều màu sắc khác nhau như trắng,
vàng, hơi đỏ, nâu, xám vv… Vừng đen có hạt to hơn vừng vàng và vừng nâu.
Vỏ hạt có thể nhẵn hoặc nháp. Màu sắc của hạt là đặc trưng riêng của từng
giống. Hạt vừng chứa nhiều dầu và alơrôn. Bình thường trong hạt vừng có
khoảng 50 % dầu, 25% protein, 5 % khoáng chất, 1 % canxi, 3 % các axit hữa
cơ, 4 % chất xơ và 6 % thủy phần.
Một số giống vừng của ta đã được nghiệm thu cho thấy tỷ lệ dầu thấp
dưới 50 %, giống vừng đen cao hơn so với các giống vừng vàng và nâu, hàm
lượng protein 3 %, bình thường khoảng 2,5 – 2,6 %, nhưng lại có chỉ số axit
cao làm chất lượng vừng thấp, giá trị kinh tế thấp và gây khó khăn cho việc
15
bảo quản và chế biến. Thời gian chiếu sáng dài có tác dụng làm tăng hàm
lượng dầu nhưng sự thay đổi này tối đa cũng chỉ đến 5,9 %.
Thành phần hóa học của hạt vừng (bảng 2.4)
Bảng 2.4 Thành phần hóa học của hạt vừng – USA
Thành phần
Hạt cả vỏ
17,6
Xơ (g)
6,3
2,4
Tro (g)
5,3
5,3
1,160
110
P (mg)
616
592
Fe (mg)
10,5
2,4
5,4
Canxi (mg)
Vitamin A (IU)
Niacin (mg/100g)
(Nguồn: Theo Weiss E.A, 1983)
Thành phần của dầu vừng
Do vừng có chứa hàm lượng dầu cao vừa khó khăn cho việc bảo quản,
dễ mất sức nảy mầm. Nếu thu hoạch thủ công lại được bảo quản trong kho
lạnh đủ tiêu chuẩn thì tỷ lệ nảy mầm hàng năm chỉ giảm mất khoảng 10 %,
16
còn nếu thu hoạch bằng máy thì chỉ sau 6 ngày tỷ lệ nảy mầm giảm từ 97 %
xuống chỉ còn 65 %.
Bảng 2.5 Thành phần của dầu vừng – USA
Thành phần
(%)
Oleic Axit
45,3 – 49,3
Linoleic Axit
Đặc điểm: Sâu non có màu nâu đen, đốt bụng thứ nhất có đốt to bao
quanh, được chuyển từ cây trồng vụ trước sang gây hại vừng. Sâu ăn trụi lá,
cắn đứt ngang cây. Thời kỳ ra hoa, làm quả thì làm rụng hoa, đục khoét quả
làm ảnh hưởng tới năng suất.
Biện pháp phòng trừ:
+ Trước khi làm đất phải kiểm tra mật độ sâu khoang trong đất, nếu cao
thì dùng 0,5kg Basudin 10H/500m2 trộn với đất bột rải đều trên ruộng và bừa
1-2 lần để diệt sâu.
+ Khi gây hại cây con nên dùng biện pháp thủ công bắt vào chiều tối
hoặc sáng sớm.
17
b) Sâu cuốn lá
Đặc điểm: Sâu thường tập trung ở trên lá ngọn và nhả tơ cuốn hai mép
lá vừng vào nhau để sinh sống, sâu ăn biểu bì làm hỏng lá, ảnh hưởng đến
quang hợp của cây, làm giảm năng suất.
Biện pháp phòng trừ:
+ Thăm đồng thường xuyên và phát hiện sớm, khi mật độ còn thấp thì
kết hợp lúc làm cỏ dùng tay bắt diệt sâu.
+ Khi sâu ở mật độ cao dùng các loại thuốc như: Match 50ND
(20ml/sào) pha với 30 lít nước để phun; Polytrin 440ND; Sherpa 25EC… liều
dùng theo khuyến cáo trên nhãn mác.
c) Bệnh héo xanh vi khuẩn
Đặc điểm: Do vi khuẩn Pseudomonas Solanacerum gây ra làm cho
vừng bị héo xanh đột ngột, lá vẫn giữ màu xanh, cắt ngang cây thấy bó mạch
có màu nâu sẫm, rễ bị đen và thối, bóp nhẹ chỗ bị thối có dịch nhầy trắng tiết
ra. Bệnh này hại từ lúc cây con cho đến khi thu hoạch, vi khuẩn thường ký
chủ trên nhiều loại cây nhất là cây họ đậu, họ cà.
trồng khắp các châu lục trên thế giới, sản lượng vừng hằng năm khoảng 2
triệu tấn. Các vùng trồng chính:
- Châu Á, sản xuất chiếm 55- 65 % sản lượng trên thế giới.
- Châu mỹ chiếm, 18-20 %.
- Châu Phi chiếm, 18-20%.
Còn lại là các châu lục khác trồng với diện tích không đáng kể.
Một số nước trồng nhiều vừng trên thế giới:
- Ấn Độ, đứng đầu thế giới với sản lượng khoảng 4.000.000 nghìn
tấn/năm.
- Trung Quốc, nước sản xuất lớn đứng thứ 2 sản lượng đạt 320-350
nghìn tấn/năm.
19
- Su Dan, sản lượng đạt 150-200 nghìn tấn/năm.
- Mehico, 150-180 nghìn tấn/năm.
Ngoài ra còn một số nước có sản lượng tương đối như: Buma, Pakistan,
Thái Lan (Đông Nam Á); Tanazania, Uganda (Châu Phi); Colombia,
Venezuela (Châu mỹ).
Tình hình sản xuất vừng và một số cây có dầu trên thế giới (bảng2.6)
(bảng 2.7) và (bảng 2.8).
Bảng 2.6 Diện tích sản xuất vừng và một số cây có dầu trên
thế giới năm 2010 - 2013
Chỉ tiêu
Diện tích (ha)
Cây có dầu
25.721.316
25.107.691
25.590.104
Lạc
25.477.523
24.740.451
24.590.726
25.445.613
Đậu tương
(Nguồn: FAO.STAT, 2015)
Qua bảng trên cho thấy:
Cây vừng năm 2010 có diện tích là 8.298.161 ha đến năm 2011 diện
tích đã tăng lên 356.308 ha với tổng diện tích năm 2011 là 8.654.469 ha, đến
năm 2012 thì diện tích sản xuất của cây vừng đã giảm xuống còn 7.952.407
ha như vậy so với năm 2011 thì diện tích đã giảm xuống 702.062 ha so với
năm trước. Vậy nhưng đến năm 2013 thì diện tích sản xuất đã tăng vọt lên so
với những năm trước với tổng diện tích sản xuất năm 2013 là 9.398.770 ha.
Cây đậu tương nhìn chung có diện tích sản xuất tăng từ năm 2010 đến
năm 2013, diện tích sản xuất năm 2010 là 102.807.828 ha và đến năm 2011
thì diện tích sản xuất đã tăng lên là 103.805.537 ha, đến năm 2012 diện tích