Thành tố chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ thái - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÊ THỊ THU THỦY

THÀNH TỐ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI
TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

SƠN LA, NĂM 2015

i


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÊ THỊ THU THỦY

THÀNH TỐ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI
TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ THÁI
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60220102

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Bùi Thanh Hoa

SƠN LA, NĂM 2015



Lê Thị Thu Thủy

iv


DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
BPCTN ........................................................................... bộ phận cơ thể ngƣời
TTCBPCTN ................................................. thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Tần số xuất hiện của các thành tố chỉ BPCTN .............................. 38

v


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 2
2.1. Đối tƣợng ................................................................................................ 2
2.2. Phạm vi ................................................................................................... 2
3. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
4. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................... 4
4.1. Tƣ liệu ..................................................................................................... 4
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................... 4
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 5
5.1. Mục đích ................................................................................................. 5
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 5

2.1.1. Số lƣợng và tần số xuất hiện của các thành tố chỉ bộ phận cơ thể
ngƣời ............................................................................................................ 37
2.1.2. Đặc điểm phân bố các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong thành
ngữ, tục ngữ Thái ......................................................................................... 42
2.2. Khả năng kết hợp của các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời với các từ
loại ............................................................................................................... 43
2.2.1. Các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với danh từ................. 43
2.2.1.1 Các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với danh từ cụ thể .... 44
2.2.1.2 Các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với những danh từ trừu
tƣợng ............................................................................................................ 45
2.2.2. Các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với động từ ................ 46
2.2.2.1. Thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với động từ chỉ vận động
di chuyển ...................................................................................................... 46
2.2.2.2. Thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với các động từ tác động ... 47
2.2.3. Các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với tính từ .................. 48

vii


2.2.3.1. Các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với các tính từ chỉ đặc
trƣng của màu sắc ......................................................................................... 48
2.2.3.2. Các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với tính từ chỉ phẩm
chất của sự vật, thực thể ............................................................................... 48
2.2.3.3. Các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với tính từ đặc trƣng
thuộc tính vật lí ............................................................................................ 49
2.2.4. Các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời kết hợp với số từ ..................... 50
2.2.5. Nhận xét chung................................................................................... 51
2.3. Ý nghĩa và giá trị biểu trƣng của các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời
trong thành ngữ, tục ngữ Thái ..................................................................... 51
2.3.1. Ý nghĩa và giá trị biểu trƣng của “Hua”, (đầu, thủ) ............................ 56

ix


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Về thành ngữ, tục ngữ từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều bài viết, công
trình nghiên cứu. Xuất phát từ các góc độ, khuynh hƣớng và phƣơng pháp tiếp
cận khác nhau, những bài viết, những công trình đó đã cung cấp những cái nhìn
mới mẻ, đa diện hơn về thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt. Có thể nói, thành ngữ, tục
ngữ là mảnh đất đã đƣợc cày xới nhiều và cũng đã thu đƣợc nhiều thành tựu.
Thế nhƣng theo tôi, việc tìm hiểu đặc trƣng văn hóa – ngôn ngữ trong thành ngữ,
tục ngữ vẫn có thể bàn luận thêm, nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ngày càng đƣợc các nhà ngôn
ngữ học quan tâm. Ngƣời ta nhận thấy rằng việc nghiên cứu ngôn ngữ thƣờng
xuyên đòi hỏi phải thuyết minh những ý nghĩa do văn hóa xã hội quyết định,
và ngƣợc lại, việc nghiên cứu những ý nghĩa những khía cạnh khác nhau của
văn hóa đòi hỏi phải thuyết minh những khía cạnh khác nhau của văn hóa đòi
hỏi sự hiểu biết những khía cạnh khác nhau của nền văn hóa đó.
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đƣợc thể hiện ở nhiều cấp độ nhƣ
ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Từ vựng thể hiện rõ nhất mối quan hệ này.
Nghiên cứu hàm nghĩa văn hóa trong từ vựng là một lĩnh vực đã và đang
đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam. Song với nhu cầu tìm về bản sắc văn hóa dân
tộc, nhu cầu giao lƣu văn hóa – ngôn ngữ và nhu cầu hội nhập trong thời đại
hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, nghiên cứu hàm nghĩa văn hóa trở thành một
trong những nhiệm vụ quan trọng.
Ở đây tôi sẽ đi xem xét các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong thành
ngữ, tục ngữ Tiếng Việt nói chung và thành ngữ, tục ngữ dân tộc Thái nói
riêng. Vì trong nhận thức của chúng tôi, thành ngữ, tục ngữ là một đơn vị
ngôn ngữ đồng thời là một thành tố văn hóa nên nó mang trong mình những
đặc trƣng dân tộc. Tìm hiểu, khảo sát giải mã các thành tố chỉ bộ phận cơ thể

của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt, có sự so sánh với các từ
ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Anh.

2


Tiếp đến là luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thanh Tùng với đề tài “Tìm
hiểu đặc trƣng ngôn ngữ - văn hóa của nhóm từ chỉ động thực vật trong
tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)”. Trong công trình này Nguyễn Thanh
Tùng có một tầm nhìn khá bao quát về từ chỉ động – thực vật trong tiếng
Việt. Ông tiến hành so sánh chúng với tiếng Anh trong từ điển giải thích
và trong thành ngữ, tục ngữ, tìm ra những nét tƣơng đồng và dị biệt để từ
đó thấy đƣợc đặc trƣng ngôn ngữ - văn hóa của hai loại hình ngôn ngữ và
văn hóa khác biệt nhau.
Các nhà ngôn ngữ học có tên tuổi cũng quan tâm nghiên cứu vấn đề văn
hóa – ngôn ngữ và để lại công trình có giá trị. Đặc biệt đáng kể nhất là hai
công trình: “Tìm hiểu đặc trƣng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tƣ duy ở
ngƣời Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)” của Nguyễn Đức Tồn và
“Tiến tơi xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt” của Nguyễn Văn Chiến.
Trong công trình của mình GS.TS Nguyễn Đức Tồn đã trình bày khá cặn
kẽ về đặc trƣng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tƣ duy ở ngƣời Việt trong sự
đối chiếu, so sánh với tiếng Nga về các đặc điểm định danh, ngữ nghĩa của
tên gọi động vật, thực vật, bộ phận cơ thể ngƣời. Ở công trình này ông cũng
đã dành một số trang để nói về biểu trƣng của một số tên gọi bộ phận cơ thể
ngƣời trong tiếng Việt vv…
Trong “Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt”, Nguyễn Văn Chiến
đã trình bày khá chi tiết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, xác lập
vốn từ vựng thể hiện vốn văn hóa của ngƣời Việt nhƣ “ nƣớc”, các từ biểu thị
mô hình kinh tế - xã hội lúa nƣớc cổ truyền Việt Nam, các từ chỉ quan hệ thân
tộc và các từ xƣng hô trong tiếng Việt, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể, … Về các

đối chiếu, chúng tôi tiến hành phân tích các ý nghĩa và giá trị biểu trƣng của
các thành chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong thành ngữ, tục ngữ dân tộc Thái. Từ
đó rút ra đặc trƣng tƣ duy và sắc thái văn hóa của ngƣời dân tộc Thái.

4


5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Mục đích
Thực hiện đề tài: “Thành tố chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ Thái”
ngƣời viết hƣớng đến những mục đích sau:
- Tìm ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá trên cứ liệu từ ngữ chỉ
BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ dân tộc Thái. Góp phần làm rõ thêm nguyên
lý ngôn ngữ phản ánh văn hoá.
- Tìm hiểu đặc trƣng ngôn ngữ - văn hoá của ngƣời Việt và ngƣời Thái
qua các thành tố chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ dân tộc Thái.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ sau:
- Xác lập khung lý luận liên quan đến nghiên cứu.
- Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, thuộc tính ngữ pháp của các từ chỉ bộ phận
cơ thể ngƣời đƣợc sử dụng trong thành ngữ, tục ngữ dân tộc Thái.
- Bƣớc đầu tìm hiểu đặc trƣng văn hóa và tƣ duy của ngƣời Thái qua
việc sử dụng các thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong thành ngữ, tục ngữ
dân tộc Thái.
6. Những đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài có những ý nghĩa lí luận và thực tiễn sau:
Về mặt lí luận
Kết quả nghiên cứu về “Thành tố chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong thành
ngữ, tục ngữ Thái” góp phần làm sáng tỏ văn hóa, tƣ duy của ngƣời Thái qua
việc sử dụng các từ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời.

1.1.1. Khái niệm
Kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế
giới, ở Việt Nam vấn đề nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ đƣợc rất nhiều các tác
giả quan tâm. Tác giả Nguyễn Văn Tu trong cuốn “Từ và vốn từ hiện đại” đã
hệ thống các quan niệm khác nhau về nghĩa [[46]; 93 - 97]. Theo đó, tác giả
đã chia các quan niệm khác nhau này theo 7 khuynh hƣớng chính (1) Nghĩa là
đối tƣợng: Theo quan điểm này thì mối quan hệ giữa từ và đối tƣợng là rất
khăng khít. Mỗi từ phải có một nghĩa và mỗi sự vật phải có một tên; (2)
Nghĩa là biểu tƣợng: Nghĩa của từ không quan hệ trực tiếp với đối tƣợng mà
chính là biểu tƣợng của nó. Nghĩa đƣợc coi một cách máy móc là tổng hợp
những biểu niệm; (3) Nghĩa của từ là khái niệm; (4) Nghĩa của từ là quan hệ
giữa tín hiệu và đối tƣợng; (5) Nghĩa là chức năng của tín hiệu – từ; (6) Nghĩa
của từ là bất biến thể của thông tin; (7) Nghĩa là phản ánh hiện thực: Nghĩa
của từ đƣợc coi là sự phản ánh của vật khách quan vào trong ý thức của ngƣời
ta. Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” đã
khẳng định: Cái gọi là nghĩa của từ không phải là một khối phân hóa mà đƣợc

7


xem là một “vi hệ thống” chia thành nhiều lớp nghĩa. Thứ nhất là lớp nghĩa bao
gồm những yếu tố cố định, chung cho mọi thành viên trong xã hội và đã đi vào
mạng quan hệ ngữ nghĩa của từ vựng tức là đã cấu trúc hóa. Lớp nghĩa này lại
đƣợc chia thành nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp. Thứ hai là lớp nghĩa xã hội tâm lí (còn gọi là nghĩa liên hội, nghĩa liên tƣởng) là những nghĩa chƣa cố định,
mang tính chất lâm thời, cá nhân [[3]; 96 - 129]. Tác giả Đỗ Việt Hùng trong
cuốn “Nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ” cũng khẳng định: Nghĩa của ngôn ngữ
thuộc phạm trù tinh thần, khó xác định, và để tìm ra nghĩa của tín hiệu ngôn
ngữ, tác giả đã đƣa ra các khái niệm: ý, nghĩa và ý nghĩa [[26]; 23 - 71].
Về khái niệm nghĩa của từ, có nhiều quan niệm khác nhau. Một số ngƣời
cho nghĩa của từ là sự vật hay hiện tƣợng mà biểu thị. Quan niệm phổ biến hơn

tại sự hiểu biết về nghĩa của từ chứ không phải là nghĩa của từ. Vậy nghĩa của từ
tồn tại trong từ, nói rộng ra là tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ. Nghĩa của từ phản
ánh những đặc trƣng chung, khái quát của sự vật, hiện tƣợng do con ngƣời nhận
thức đƣợc trong đời sống thực tiễn tự nhiên và xã hội.
1.1.2. Các thành phần nghĩa của từ
Từ có liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tƣợng. Bởi thế, nghĩa của từ
không phải chỉ có một thành phần, một kiểu loại. Các nhà nghiên cứu cho
rằng: nghĩa của từ là tập hợp một số thành tố nhất định chứ không phải là một
khối “không phân hóa”. Trong từ vựng, các từ đồng thời đảm nhiệm các chức
năng: chức năng biểu vật, chức năng định danh, chức năng biểu niệm, chức
năng ngữ pháp (gọi chung là hoạt động ngữ pháp trong của từ).
Tuy có sự phân biệt ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp của từ, nhƣng
chúng có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Chỉ có thể biết đƣợc khả năng
hoạt động ngữ pháp của từ khi biết đƣợc ý nghĩa từ vựng của từ, ngƣợc lại
nhờ vào hoạt động ngữ pháp của từ trong câu cụ thể, ta có thể xác định đƣợc
đắc điểm ý nghĩa của từ vựng của từ.

9


Tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ
có những thành tố sau:
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
Tập hợp ba thành phần nghĩa trên đƣợc gọi chung là ý nghĩa từ vựng. Ý
nghĩa từ vựng thƣơng đƣợc đặt trong thế đối lập với thành tố ý nghĩa ngữ
pháp (ứng với chức năng ngữ pháp). Ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng cho
từng từ, ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung, đồng loạt cho nhiều từ. Khi nói
về nghĩa của từ ngƣời ta thƣờng phân biệt các thành phần nghĩa sau đây:

nghĩa biểu niệm cũng có thể đƣợc hiểu là sự phản ánh – biểu vật trong ý thức
con ngƣời, đƣợc tiến hành bằng từ.
1.1.2.3. Ý nghĩa biểu thái
Đó là quan hệ của từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của ngƣời nói.
“Ý nghĩa biểu thái là phần nghĩa của từ liên quan đến thái độ, cảm xúc,
cách đánh giá” [27; 215].
Nghĩa biểu thái có vai trò trong việc định hƣớng cách dùng từ. Đại bộ
phận các từ trong ngôn ngữ là không có yếu tố gợi cảm. Giá trị gợi cảm của
khách quan đối với tập biến thể ngƣời nói. Còn thể hiện ở những nhóm đồng
nghĩa, những biến thể ngữ âm của một từ (ví dụ: so sánh các từ chết, bỏ mạng,
hi sinh, có phần ý nghĩa biểu thái khác nhau).
1.1.3. Sự chuyển nghĩa của từ
Sự phát triển ngữ nghĩa là kết quả của quá trình chuyển nghĩa của từ.
Đây là nguyên nhân dẫn đến hiện tƣợng nhiều nghĩa của từ. Sự chuyển nghĩa của
từ đƣợc rất nhiều các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nƣớc nghiên cứu. Theo
chúng tôi nhận định, hầu hết các công trình nghiên cứu về sự chuyển nghĩa của

11


từ đều bàn đến các nội dung nhƣ: nguyên nhân của sự chuyển nghĩa, các phƣơng
thức chuyển nghĩa, mối quan hệ giữa nghĩa cũ và nghĩa mới,….
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ
học trong và ngoài nƣớc bàn về sự chuyển nghĩa của từ. Các nhà nghiên cứu
theo khuynh hƣớng này đã trả lời câu hỏi ý nghĩa của từ đã nảy sinh nhƣ thế
nào trong lịch sử. Họ cho rằng kết quả của quá trình chuyển nghĩa đƣợc bảo
lƣu trong ý nghĩa mới của từ [37; 10 - 26]. Các tác giả cũng đƣa ra các nhận
định khác nhau về các hình thức phát triển nghĩa của từ.
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ” và “Từ vựng
học tiếng Việt” đã trình bày khá chi tiết về hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ.

con ngƣời đó là phƣơng thức chuyển nghĩa ẩn dụ và phƣơng thức chuyển
nghĩa hoán dụ.
Phƣơng thức chuyển nghĩa ẩn dụ cũng là một vấn đề quan trọng đƣợc
các nhà Việt ngữ học quan tâm. Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ở Việt
Nam có thể chia thành ba hƣớng chính: Ẩn dụ từ vựng, ẩn dụ tu từ và ẩn dụ
trong ngôn ngữ học tri nhận. Ba hƣớng này đƣợc nghiên cứu đan xen. Nói
chung, cũng theo lịch sử phát triển, ẩn dụ đƣợc nghiên cứu nhƣ một biện pháp
tu từ, là hình thức phát triển nghĩa của từ vựng rồi sau đó mới đƣợc nghiên
cứu nhƣ công cụ tri nhận thế giới của con ngƣời. Trong luận văn của mình,
chúng tôi quan tâm đến ẩn dụ từ vựng là phƣơng thức của sự phát triển ngữ
nghĩa và ẩn dụ tri nhận – bản chất của con đƣờng phát triển ngữ nghĩa. Bàn về
ẩn dụ từ vựng, nhà nghiên cứu Nguyễn Lân cho rằng “Ẩn dụ cũng là một cách
ví nhƣng không cần dùng đến những tiếng để so sánh nhƣ: tựa, nhƣ, tƣờng,
nhƣờng, bằng [31; 53]. Nguyễn Văn Tu khi nghiên cứu về ẩn dụ cũng đƣa ra
khái niệm: “Ẩn dụ là sự so sánh “cô đọng” mà ở đó ta thấy rõ sự tƣơng đồng
cụ thể và bằng trực giác” [47; 165 – 167]. Tác giả cũng đƣa ra cách phân loại
ẩn dụ với ba loại chính là: ẩn dụ cùng hình, từ cụ thể đến trừu tƣợng và ẩn dụ
chuyển đổi cảm giác. Cái gọi là “ẩn dụ cùng hình” chính là tiểu loại ẩn dụ lấy

13


tên các bộ phận của ngƣời để đặt tên cho những sự vật khác (Chẳng hạn: đầu
đƣờng, đầu dòng, đầu năm,… Mũi thuyền, mũi kim, mũi Né); dùng tên của
động vật, thực vật để gọi bộ phận của ngƣời (cánh tay, lá phổi, lá gan, quả
tim,…). Ông cũng nhắc đến các tiểu loại ẩn dụ giàu sắc thái biểu cảm và có
tính chất trang trí rõ rệt hơn nhƣ ẩn dụ đi từ trừu tƣợng đến cụ thể hay ẩn dụ
chuyển đổi cảm giác “việc chuyển từ cụ thể đến trừu tƣợng là việc luôn luôn
xảy ra trong tiếng Việt. Hiện tƣợng này càng tăng thêm khả năng diễn tả của
từ, làm cho nghĩa của từ thêm sâu sắc và cho tƣ tƣởng thêm tốt đẹp [47; 93].

dụ phải hiểu đƣợc sự đồng nhất hay đẳng nhất hóa ấy” [45; 466]. Tác giả
cũng đề cập đến bản chất của ẩn dụ tri nhận từ góc nhìn: sự loại suy, sự hiểu
biết từ sự vật A sang sự vật B khi đồng nhất hóa A và B. Sự xác lập rõ ràng
nội hàm khái niệm ẩn dụ nhƣ vậy giúp chúng ta tránh đƣợc cách hiểu chung
chung, đơn giản về ẩn dụ là về ẩn dụ chỉ đơn giản là sự so sánh ngầm.
Về phƣơng thức chuyển nghĩa hoán dụ, thuật ngữ hoán dụ có nguồn gốc
từ tiếng Hy Lạp metonymia có ngĩa chiết tự là sự đổi tên gọi hay cải danh
[Dẫn theo 45, 505]. Nguyễn Lân giải thích hoán dụ “là phƣơng thức chuyển
đổi tên gọi, cách sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển của từ đa nghĩa bằng cách
thay tên gọi của sự vật này bằng sự vật khác theo quan hệ tiếp cận của hai sự
vật; hai sự vật liên quan với nhau về một khía cạnh nào đó có thể đƣợc định
danh bởi một từ. Cơ sở của hoán dụ là các quan hệ giữa các phạm trù riêng rẽ
của hiện thực đƣợc phản ánh trong nhận thức của con ngƣời và đƣợc định
hình bằng ý nghĩa của từ. Các quan hệ đó có thể là quan hệ giữa các sự vật,
quá trình hoạt động, con ngƣời, vị trí, thời gian, sự kiện” [[31]; 96]. Đỗ Hữu
Châu xác định: “Hoán dụ là hiện tƣợng chuyển hóa về tên gọi - tên của một
đối tƣợng này đƣợc chuyển sang gọi sự vật khác dựa trên quan hệ liên tƣởng
tiếp cận” [[4]; 52]. Sau này, ông định nghĩa cụ thể hơn: “Phƣơng thức hoán dụ
là phƣơng thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y nếu X và Y đi đôi với nhau
trong thực tế khách quan [[6]; 145].
15


Nguyễn Thiện Giáp giải thích: “Ngƣợc lại với ẩn dụ, hoán dụ là hiện
tƣợng chuyển tên gọi từ sự vật hiện tƣợng này sang sự vật hiện tƣợng khác
dựa trên mối quan hệ logic giữa các sự vật hoặc hiện tƣợng ấy” [21; 165].
Theo A.A. Rephormatsky, “Hoán dụ là sự chuyển tên gọi đƣợc thực hiện
không phải dựa trên sự giống nhau của các đặc trƣng bên trong hay bên ngoài
của sự vật có trƣớc và sự vật mới mà dựa trên tính kế cận, nghĩa là liền kề
nhau trong không gian hay thời gian”. Nhƣ vậy, khi bàn về bản chất của hoán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status