Tái hòa nhập xã hội đối với người chưa thành niên phạm tội mãn hạn tù theo pháp luật thi hành án hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh hà giang) - Pdf 39

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH VIT

TáI HòA NHậP Xã HộI
ĐốI VớI NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN PHạM TộI MãN HạN Tù
THEO PHáP LUậT THI HàNH áN HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH VIT

TáI HòA NHậP Xã HộI
ĐốI VớI NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN PHạM TộI MãN HạN Tù
THEO PHáP LUậT THI HàNH áN HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN KHC HI


mãn hạn tù .....................................................................................................7

1.2.

Tầm quan trọng của các chƣơng trình tái hòa nhập đối với ngƣời chƣa
thành niên phạm tội mãn hạn tù ..................................................................11

1.3.

Chuẩn mực quốc tế về tái hòa nhập xã hội cho ngƣời chƣa thành niên
phạm tội .......................................................................................................12

1.4.

Chƣơng trình tái hòa nhập cho ngƣời chƣa thành niên phạm tội mãn
hạn tù ...........................................................................................................15

1.5.

Pháp luật về tái hòa nhập xã hội đối với ngƣời chƣa thành niên phạm
tội mãn hạn tù ..............................................................................................18

1.5.1.

Tái hòa nhập xã hội đối với ngƣời phạm tội tại cơ sở giam giữ ...................18

1.5.2.

Trả tự do sớm khỏi các cơ sở giam giữ .......................................................23



2.3.

Nguyên nhân dẫn đến các tồn tại, hạn chế trong công tác tái hòa nhập
xã hội đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội mãn hạn tù trên địa bàn
tỉnh Hà Giang ..............................................................................................67

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2..........................................................................................76
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÁI HÒA NHẬP XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI MÃN HẠN TÙ...............78
3.1.

Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về tái hòa nhập xã hội đối với
ngƣời chƣa thành niên phạm tội mãn hạn tù ...............................................78

3.2.

Một số giải pháp, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các
quy định về tái hòa nhập xã hội đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội
mãn hạn tù ...................................................................................................80

3.3.

Các giải pháp khác ......................................................................................83

3.3.1.

Tăng cƣờng sự lãnh đạo của các cơ quan, ngƣời có thẩm quyền trong
công tác tái hòa nhập xã hội đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội

Bảng 2.2: Khảo sát số ngƣời chấp hành xong án phạt tù từ năm 2002
- 2015

41

Bảng 2.3: Khảo sát phân tích về tình trạng chấp hành pháp luật của
ngƣời chƣa thành niên phạm tội đã chấp hành xong án từ
2011- 2015

41

Bảng 2.4: Khảo sát về tình trạng việc làm của ngƣời chƣa thành niên
đƣợc mãn hạn tù từ 2011-2015

43

Bảng 2.5: Thống kê số liệu ngƣời chƣa thành niên tái hòa nhập xã
hội của tỉnh Hà Giang từ năm 2011 đến năm 2015

46

Bảng 2.6: Số liệu về ngƣời chƣa thành niên phạm tội đƣợc đặc xá từ
2011 đến 2015 đƣợc trở về tại tỉnh Hà Giang

47

Bảng 2.7: Bảng số liệu về tái phạm, tái phạm nguy hiểm của tỉnh Hà
Giang từ 2011-2015

64

lại cuộc sống lƣơng thiện, góp phần ổn định an ninh, trật tự tại địa phƣơng, minh
chứng cho chủ trƣơng đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc.
1


Để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lƣợng công tác tái hoà nhập xã hội cho
ngƣời phạm tội theo tinh thần Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị
quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị:
Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tƣ
pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án. Xác định
rõ trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân xã, phƣờng, thị trấn và của cơ quan
chuyên môn của uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trong việc thi hành các
hình phạt không phải là hình phạt tù để thực hiện nghiêm túc các bản án
của Toà án. Từng bƣớc thực hiện việc xã hội hoá và quy định những hình
thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nƣớc thực
hiện một số công việc thi hành án.
Thực tiễn đã cho thấy tình hình tội phạm ngày càng phức tạp, số lƣợng ngƣời
phạm tội mãn hạn tù hàng năm có chiều hƣớng gia tăng, do đó việc tái hoà nhập xã
hội cho các đối tƣợng này cần đƣợc quan tâm một cách đúng đắn. Việc tiếp nhận số
lƣợng các đối tƣợng đã bị cách ly với xã hội trong một thời gian dài là một thách
thức không nhỏ trong công tác tái hoà nhập xã hội.
Trong những năm vừa qua thực tiễn công tác tái hoà nhập xã hội có những
biến chuyển tích cực và đạt đƣợc một số thành tích nhất định. Tuy nhiên, tái hoà
nhập xã hội đƣợc xác định là công tác mang tầm quốc gia và lâu dài do đó dù nhiều
chƣơng trình tái hoà nhập đã đƣợc thực hiện và đạt đƣợc những hiệu quả nhất định
thì còn những mặt hạn chế và những tồn tại, chƣa thực sự thu hút đƣợc sự quan tâm
và tham gia của toàn xã hội. Thời gian chấp hành hình phạt là quãng thời gian hạn
chế tự do, cách ly ngƣời bị kết án khỏi cộng đồng xã hội để cải tạo giáo dục họ tại
trại giam, việc hạn chế lâu dài các chức năng xã hội bình thƣờng của một con ngƣời
đồng thời gây ra sự lãng quên các thói quen xã hội có ích của họ nhƣ học tập, làm

tái hoà nhập cộng đồng ở Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2001;
Dƣơng Thanh Mai, Nguyễn Hữu Duyện, Ngô Văn Thâu, Nguyễn Hoàng Hà,
Nguyễn Văn Hiển, Nguyễn Quang Hƣng. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tái
hòa nhập cộng đồng của công dân sau thời gian cải tạo, giam giữ. Thông tin khoa
học pháp lý. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tƣ pháp. Tháng 4/2001; Vụ
pháp luật hình sự hành chính, Bộ Tƣ pháp - Rà soát, đánh giá pháp luật, chính sách
và thực tiễn tái hoà nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp
luật ở Việt Nam, năm 2007; Phạm Văn Lợi - Thực trạng pháp luật thi hành án phạt
tù và hƣớng hoàn thiện, năm 2006, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 2; Hồ Sĩ Sơn
(2009), "Hình phạt tù và vấn đề tái hòa nhập cộng đồng ở Việt Nam hiện nay", Kỷ

3


yếu hội thảo khoa học: Pháp luật và thực tiễn về tái hòa nhập xã hội của những
người mãn hạn tù ở Việt Nam và Na Uy, Viện Nhà nƣớc và Pháp luật và Norwegian
Center for Human Rights tổ chức tại Hạ Long - Quảng Ninh, ngày 26 - 27/11; Trần
Thị Quang Vinh (2009), "Phòng ngừa tái phạm tội đối với người bị kết án tù của,
Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh", Kỷ yếu hội thảo khoa học: Pháp luật và
thực tiễn về tái hòa nhập xã hội của những người mãn hạn tù ở Việt Nam và Na Uy,
Viện Nhà nƣớc và Pháp luật và Norwegian Center for Human Rights tổ chức tại Hạ
Long - Quảng Ninh, ngày 26 - 27/11. Một số giáo trình giảng dạy ở các trƣờng Đại
học chuyên ngành (Đại học Luật, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viên An
Ninh, Đại học Cảnh sát…) cũng đề cập đến vấn đề này. Mặt khác tái hoà nhập xã hội
đối với ngƣời phạm tội chƣa đáp ứng hết những đòi hỏi trong thực tiễn, pháp luật
điều chỉnh về lĩnh vực này còn nhiều vấn đề phải đi sâu nghiên cứu và làm rõ. Vì thế,
tác giả cho rằng việc nghiên cứu, tìm hiểu về chế định này là cần thiết và hữu ích.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề về mặt lý luận và những
quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam về tái hoà nhập xã hội đối với ngƣời phạm

biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Cơ sở pháp lý: nghiên cứu của đề tài là Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết số
08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/06/2005 của
Bộ Chính trị, các quy định của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009, Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật thi hành án năm 2010, các văn bản hƣớng dẫn thi
hành và một số văn bản hƣớng dẫn của các cơ quan chuyên môn về công tác tái hoà
nhập xã hội đối với ngƣời phạm tội.
Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn công tác tái hoà nhập xã hội đối với ngƣời chƣa
thành niên phạm tội tại tỉnh Hà Giang. Ngoài ra luận văn còn dựa trên các công
trình nghiên cứu của các nhà luật học, các công trình nghiên cứu của các nhà
chuyên môn trong lĩnh vực tội phạm học và các quy định của pháp luật Việt Nam về
lĩnh vực này.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp biện chứng khoa học
kết hợp với một số phƣơng pháp thống kê, tổng hợp; phƣơng pháp điều tra xã hội
học; phƣơng pháp phân tích, lựa chọn; phƣơng pháp đối chiếu, so sánh; phƣơng
pháp khảo sát thực tiễn; phƣơng pháp hệ thống và một số phƣơng pháp bổ trợ khác.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn chủ yếu nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật cũng nhƣ
thực trạng công tác tái hoà nhập xã hội đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội của
5


tỉnh Hà Giang một cách có hệ thống trên cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đƣa ra
những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật góp phần nâng cao chất lƣợng công tác
tái hoà nhập xã hội của cả nƣớc nói chung và tỉnh Hà Giang nói riêng.
8. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có 3 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tái hòa nhập xã hội đối với ngƣời chƣa

hạn nhưng được ân xá, ân giảm tha về. Cần quản lý chặt chẽ đối tượng tù tha về và
cần bố trí công ăn việc làm cho họ, tạo điều kiện để cho họ làm ăn lương thiện”.
Nếu hiểu theo quan điểm này thì đối tƣợng mãn hạn tù bao gồm số đối tƣợng bị
phạt án tù giam đƣợc tha kể cả số đã hết thời hạn nhƣng ân xá, ân giảm tha về do có
nhiều tiến bộ trong quá trình cải tạo. Khái niệm này đã có cái nhìn toàn diện hơn so
với những quan điểm trên về đối tƣợng mãn hạn tù, tuy nhiên chƣa phân định đƣợc
rõ số tù giam có thời hạn với số tù chung thân đƣợc tha về và cũng chƣa đề cập tới
vấn đề đối tƣợng tù tha đƣợc đặc xá. Để có đƣợc khái niệm đầy đủ về ngƣời mãn hạn
tù, cần phải hiểu bao gồm cả “Đối tượng được xét đặc xá tha tù là những phạm nhân
7


đang chấp hành án tại các trại giam do Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quản lý, kể cả
những phạm nhân đang được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù hoặc hoãn thi hành án
phạt tù có những hoàn cảnh đặc biệt theo luật định” [15, Điều 2]. Theo đó thì đối
tƣợng đặc xá bao gồm ba loại: Phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam
thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quản lý và có nhiều tiến bộ đƣợc tha trƣớc thời
hạn; Phạm nhân trong thời gian đƣợc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù có nhiều tiến
bộ đƣợc miễn thi hành án phạt tù; Những ngƣời bị kết án tù trong thời gian đƣợc hoãn
thi hành án phạt tù có nhiều tiến bộ đƣợc miễn hình phạt tù. Tổng hợp từ những quan
điểm trên thì người chưa thành niên mãn hạn tù là những người chưa thành niên
phạm tội và đã được kết án bởi Toà án nhân dân bằng bản án tù chung thân hoặc tù
có thời hạn, phải chấp hành hình phạt tù tại các trại giam, bị cách ly khỏi đời sống
xã hội nay đã chấp hành xong hình phạt tù hoặc vì một lý do nào đó theo quy định
của pháp luật được tha ra khỏi cơ sở giam giữ và trở về nơi sinh sống - cộng đồng.
Trong khi nhiều ngƣời phạm tội bị kết án tù hoặc ở trong trƣờng giáo dƣỡng
là do đã phạm phải những tội ít nghiêm trọng, thì những ngƣời khác có tiểu sử
phạm tội khá dầy dặn. Nhƣ vậy sự hội nhập xã hội của những ngƣời phạm tội này
cũng phải khác nhau. Tại thời điểm đƣợc tha từ một cơ sở giáo dục, ngƣời phạm tội
thƣờng gặp phải những thách thức mà họ không đƣợc trang bị tốt để có thể tự đối

phạm tội với nỗ lực nhằm ngăn cản họ tham gia vào hành vi phạm tội (phòng ngừa)
hoặc làm giảm khả năng tái phạm của họ (phục hồi).
Các chƣơng trình hòa nhập xã hội, đặc biệt là những chƣơng trình đƣợc thiết
kế cho ngƣời phạm tội chƣa thành niên, thƣờng đƣợc xem nhƣ là một dạng chƣơng
trình giáo dục đặc biệt. Ở hầu hết các quốc gia, những nỗ lực để hòa nhập ngƣời
chƣa thành niên liên quan đến một loạt các chính sách và chiến lƣợc, bao gồm cả
các chƣơng trình can thiệp sớm, tập trung vào nhóm trẻ em có nguy cơ và gia đình
họ [63], [64] những chƣơng trình dựa vào cộng đồng nhằm thay thế cho việc giam
giữ, các chƣơng trình trong cơ sở cải tạo nhằm chuẩn bị cho ngƣời chƣa thành niên
kỹ năng sống trong xã hội, và các chƣơng trình dựa vào cộng đồng nhằm tạo thuận
lợi cho ngƣời chƣa thành niên tái hòa nhập vào cộng đồng sau khi rời khỏi trƣờng
giáo dƣỡng hay trại giam [66].
Tái hòa nhập xã hội nói chung đề cập cụ thể hơn đến các chƣơng trình và
sáng kiến nhằm giúp ngƣời phạm tội đang trong các cơ sở giam giữ. Mục đích của
nó là giúp ngƣời phạm tội tái hoà nhập cộng đồng thành công sau khi chấp hành bản
án tại cơ sở cải tạo. Thông thƣờng có hai loại chƣơng trình: (1) các chƣơng trình hỗ
trợ ngay trong các cơ sở giam giữ, trƣớc khi phóng thích của ngƣời phạm tội, nhằm
9


giúp ngƣời phạm tội giải quyết các vấn đề, xử lý các yếu tố nguy cơ liên quan đến
hành vi phạm tội của họ, trang bị các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt các chức
năng xã hội của mình và chuẩn bị tái tham gia vào cộng đồng; và (2) những chƣơng
trình dựa trên cộng đồng, thƣờng đƣợc gọi là chƣơng trình "hậu chăm sóc" nhằm
tạo thuận lợi cho hòa nhập xã hội của ngƣời phạm tội sau khi thả họ từ các cơ sở
giam giữ.
Các yếu tố nguy cơ
Một vấn đề then chốt đối với sự hỗ trợ hiệu quả cho ngƣời phạm tội hòa nhập
xã hội là nhận thức đƣợc các yếu tố đƣa họ đối mặt với nguy cơ và gây khó khăn cho
họ hoạt động bình thƣờng trong xã hội. Có rất nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến

tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và cả cộng đồng xã hội thông qua nhiều chính
sách và mô hình cụ thể, đóng vai trò hỗ trợ, đảm bảo, tạo điều kiện nâng cao năng
lực thích nghi cho đối tƣợng và đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi tình hình tội
phạm ngày càng diễn biến phức tạp. Nhƣ vậy từ những phân tích nêu trên, theo tác
giả có thể hiểu: Tái hoà nhập xã hội đối với người chưa thành niên phạm tội mãn
hạn tù là khâu cuối cùng trong việc thực hiện trọn vẹn và có ý nghĩa một bản án kết
tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án đối với người đó, là một quá trình với nhiều
giai đoạn khác nhau từ khi người đó ở trong cơ sở giam giữ đến khi người đó trở về
cộng đồng với nhiều biện pháp, cách thức và chương trình hòa nhập xã hội được
thiết kế riêng biệt nhằm mục đích đưa người chưa thành niên phạm tội trở về với xã
hội trở thành những người có ích, sau một thời gian bị cách ly khỏi xã hội với sự
tham gia của chính bản thân người phạm tội và Nhà nước cũng như cộng đồng xã
hội, góp phần ổn định an ninh và phòng chống tội phạm.
1.2. Tầm quan trọng của các chương trình tái hòa nhập đối với người
chưa thành niên phạm tội mãn hạn tù
Ngƣời chƣa thành niên phạm tội có những đặc điểm riêng khiến cho các
chƣơng trình tái hòa nhập dành cho họ cũng cần phải đƣợc thiết kế riêng, từ khi họ
bị cách ly khỏi xã hội đến khi họ trở lại cộng đồng.
Mục đích chủ yếu của việc hòa nhập xã hội và tái hòa nhập xã hội là nhằm
cung cấp cho những ngƣời phạm tội những hỗ trợ cũng nhƣ sự giám sát để giúp họ
hoạt động trong xã hội nhƣ là những công dân tốt, tuân thủ pháp luật và tránh việc
tái phạm tội. Những chƣơng trình này tạo cơ hội cho ngƣời chƣa thành niên phạm
tội liên kết với gia đình và cộng đồng, sống tốt và tuân thủ pháp luật.
Tại Việt Nam, cũng nhƣ tại nhiều quốc gia khác, nhìn chung hiện nay có rất
ít những chƣơng trình hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho những ngƣời chƣa thành
11


niên phạm tội bị giam giữ. Những chƣơng trình tái hòa nhập tại các trại giam nói
chung còn ít và chƣa sâu rộng. Vì thế, để thúc đẩy sự phát triển của chƣơng trình tái



nhập của họ là một trong những nhiệm vụ cơ bản của hệ thống tƣ pháp hình sự.
Những điều này cũng đã đƣợc thừa nhận trong các tiêu chuẩn về quyền con ngƣời
trên toàn thế giới. Nguyên tắc 10 trong Những nguyên tắc cơ bản về đối xử với tù
nhân của Liên Hợp Quốc tuyên bố rằng: “Với sự tham gia và giúp đỡ của cộng
đồng và các tổ chức xã hội và với sự quan tâm thích đáng tới những lợi ích của
người phạm tội, những điều kiện thuận lợi sẽ được tạo ra để việc hòa nhập cộng
đồng của những người phạm tội mãn tù được diễn ra trong những điều kiện tốt
nhất” [65]. Điều 8 cũng nói tới sự cần thiết phải giúp đỡ những ngƣời phạm tội
mãn hạn tù có khả năng đƣợc làm những công việc bình thƣờng trong xã hội bởi
những công việc này sẽ giúp họ tái hòa nhập vào thị trƣờng lao động của đất nƣớc
mình cũng nhƣ cho phép họ có đƣợc nguồn thu nhập để nuôi sống bản thân cũng
nhƣ giúp đỡ gia đình họ.
Đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội, Công ước về quyền trẻ em (CRC),
đƣợc Việt Nam phê chuẩn năm 1990, yêu cầu các bên của Công ƣớc phải xây dựng
những luật đặc biệt, những quy trình đặc biệt, thiết lập những cơ quan chức năng có
thẩm quyền một cách cụ thể để xử lý trƣờng hợp ngƣời chƣa thành niên phạm tội
một cách hợp lý. Những luật và quy trình này phải đảm bảo rằng ngƣời phạm tội là
ngƣời chƣa thành niên phải đƣợc đối xử với sự tôn trọng những giá trị cơ bản về
nhân phẩm của họ và những luật, quy trình nói trên cũng phải tính đến độ tuổi, cũng
nhƣ những nhu cầu của họ để thúc đẩy quá trình hòa nhập xã hội của những ngƣời
phạm tội này thành công.
Điều 24.1 của Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng
pháp luật với người chưa thành niên nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc cung
cấp điều kiện vật chất, dịch vụ cũng nhƣ các sự hỗ trợ cần thiết khác để thúc đẩy
việc đảm bảo những quyền lợi cho ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong suốt quá
trình tái hòa nhập cộng đồng. Điều này quy định rằng “sẽ có những nỗ lực đƣợc
dành cho việc cung cấp cho ngƣời chƣa thành niên phạm tội những sự hỗ trợ cần
thiết hay bất cứ sự hỗ trợ hữu ích và thiết thực nào ở tất cả các giai đoạn của quá

những cơ sở giáo dục đa dạng để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của những
ngƣời chƣa thành niên phạm tội tái hòa nhập cộng đồng và cũng để cung cấp cho họ
những chỉ dẫn cũng nhƣ hỗ trợ và đây là khâu quan trọng để giúp họ tái hòa nhập xã
hội thành công. Mặt khác, Bộ quy tắc này cũng chứa đựng những hƣớng dẫn liên
quan đến không giam giữ (xử lý tại cộng đồng) (Điều 23), yêu cầu phải cung cấp
những hỗ trợ để giúp quá trình tái hòa nhập cộng đồng đƣợc diễn ra thuận lợi (Điều
24), và yêu cầu kêu gọi những ngƣời tình nguyện, các tổ chức tình nguyện, những
14


tổ chức tại địa phƣơng và các nguồn giúp đỡ khác trong cộng đồng để góp phần
giúp cho ngƣời chƣa thành niên phạm tội trở lại với cuộc sống bình thƣờng một
cách hiệu quả trong môi trƣờng xã hội và trong gia đình.
1.4. Chương trình tái hòa nhập cho người chưa thành niên phạm tội
mãn hạn tù
Trong việc thiết kế và thực thi những can thiệp nhằm giúp cho việc tái hòa
nhập ngƣời chƣa thành niên phạm tội về với cộng đồng thành công và giúp họ tránh
những liên quan đến tội phạm về sau, có rất nhiều điều cần lƣu ý. Những ngƣời sau
khi đƣợc giải phóng khỏi nhà tù, họ có thể lại phải đối mặt với vô số những thách
thức có thể khiến họ lại tái phạm.
Những ngƣời phạm tội phải đối mặt với nhiều thử thách. Họ có khoảng thời
gian bị cô lập và cách ly với xã hội; bị ngƣợc đãi về thể xác và tinh thần; có công
việc lƣơng thấp hay thất nghiệp hoặc từ nhỏ có lối sống liên quan đến tội phạm.
Những khuyết tật về thể chất và tinh thần, cũng nhƣ vấn đề sức khỏe đôi khi liên
quan đến sự lạm dụng hay nghiện ma túy là những điều thách thức họ. Nhiều ngƣời
phạm tội đối mặt với việc thiếu các kĩ năng khiến họ gặp khó khăn trong việc cạnh
tranh và thành công trong cộng đồng: các kỹ năng kết hợp cá nhân kém, nền tảng
giáo dục chính quy là thấp, mù chữ hay không biết làm toán, vận hành nhận thức và
cảm xúc nghèo kém, hoặc thiếu kỹ năng quản lý kế hoạch và tài chính [62]. Khi
những ngƣời phạm tội đƣợc đƣa vào cơ sở giam giữ, họ phải đối mặt thêm những

nghề nghiệp có thể chuẩn bị cho họ một công việc có thu nhập. Trong phạm vi nhất
định, họ có thể đƣợc quyền lựa chọn loại đào tạo hƣớng nghiệp mà họ đƣợc nhận.
Trong những trƣờng hợp cụ thể, các chƣơng trình đào tạo hƣớng nghiệp cần thiết kế
để cung cấp cho những ngƣời phạm tội những kĩ năng có thể phù hợp với những cơ
hội nghề nghiệp hiện có trong cộng đồng nơi họ hòa nhập.
Nghề nghiệp
Điểm mấu chốt trong mọi trƣờng hợp tái hòa nhập thành công của ngƣời phạm
tội nằm ở khả năng của họ trong việc đảm bảo và duy trì công việc có thu nhập.
Nghề nghiệp cung cấp không chỉ thu nhập cần thiết để hỗ trợ
những điều kiện đầy đủ về vật chất, mà còn cung cấp một cấu trúc và
công việc làm hằng ngày. Nó tạo các cơ hội để mở rộng mạng lƣới xã hội
của một ngƣời tới những thành viên hữu ích của xã hội. Thêm vào đó,
nghề nghiệp còn đóng góp vào việc tăng cƣờng lòng tự trọng và sức khỏe
tâm lý khác.
Những nỗ lực để tìm ra nghề nghiệp phù hợp với ngƣời phạm nhân trong một
16


cơ sở giam giữ cần đƣợc bắt đầu trƣớc khi họ mãn hạn tù. Việc này bao gồm đánh
giá những kĩ năng hiện tại của họ, nhận diện những cơ hội nghề nghiệp, đem lại sự
giáo dục thích hợp và đào tạo hƣớng nghề để tăng cƣờng khả năng đƣợc tuyển dụng
của họ trƣớc khi họ đƣợc phóng thích. Điều quan trọng nữa là những dịch vụ nghề
nghiệp cần đƣợc cung cấp liên tục từ thời điểm ngƣời phạm tội vào tù cho đến khi
họ trở lại cộng đồng...
Chăm sóc sức khỏe tinh thần
Những phạm nhân chƣa thành niên đang bị ảnh hƣởng bởi bệnh tâm thần
thƣờng gặp vấn đề khi hòa nhập cộng đồng. Họ phải trải qua những sự cô lập với xã
hội cực kì khắc nghiệt cũng nhƣ thƣờng có nguy cơ rối loạn do lạm dụng ma túy.
Họ cũng thƣờng xuyên đối mặt với những khó khăn, đặc biệt trong việc hòa nhập
với gia đình mình cũng nhƣ các cơ hội nghề nghiệp hoặc giáo dục phù hợp. Những

1.5.1. Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội tại cơ sở giam giữ
Việc tái hòa nhập thành công của ngƣời chƣa thành niên phạm tội phải bắt đầu
ngay trong khi họ đang trong trại giam. Vì mỗi ngƣời chƣa thành niên phạm tội
không giống nhau nên những chƣơng trình và sự can thiệp phải dựa trên kế hoạch
riêng cho từng ngƣời. Do đó, các cơ quan nên đề ra những chƣơng trình và sự giúp đỡ
đối với những nhu cầu của các cá nhân phạm tội này. Khi xác định đƣợc những nhu
cầu của ngƣời phạm tội, sự giúp đỡ, giáo dục hoặc những chƣơng trình việc làm để
họ có thể mở rộng cánh cửa cho việc tái hòa nhập xã hội đƣợc thành công.
Ở nhiều quốc gia, các cơ sở giam giữ thực hiện điều này bằng cách thuê
những ngƣời quản lý ca (quản lý từng vụ). Những ngƣời quản lý ca đánh giá toàn
diện những nhu cầu và rủi ro đối với từng phạm nhân vào thời điểm họ nhập trại
giam. Dựa vào sự đánh giá này, ngƣời quản lý ca sau đó phát triển, giám sát, cải tạo
và có kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng cho từng phạm nhân. Kế hoạch đƣa ra phải
dựa vào những điểm mạnh ngƣời phạm tội, các nhân tố nguy hiểm, những nhu cầu
chính và nó là chiến lƣợc nhằm giúp đỡ ngƣời phạm tội giải quyết những vấn đề của
chính mình khi họ trong trại giam.
Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đã thể hiện tƣ tƣởng
chỉ đạo xuyên suốt về vấn đề tái hòa nhập xã hội đối với ngƣời phạm tội, theo đó tại
Điều 3 có quy định về nguyên tắc xử lý nhƣ sau: "Đối với người bị phạt tù thì buộc
họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành
người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành
hình phạt" [36]. Bên cạnh đó Điều 27 Bộ luật Hình sự cũng đã nhấn mạnh mục đích
của hình phạt nhƣ sau: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn
18


giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các
quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới" [36, Điều 27].
Theo quy định tại Điều 16 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 về nhiệm vụ, quyền
hạn, cơ cấu tổ chức của trại giam thì: Trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù, có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status