Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội của thành phố hải phòng luận văn ths luật - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THỊ HƢỜNG

TÁI HÒA NHẬP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI
CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THỊ HƢỜNG

TÁI HÒA NHẬP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI
CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số

: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Khắc Hải



Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI HÒA NHẬP XÃ

8

HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI PHẠM TỘI

1.1.

Khái niệm tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội

8

1.1.1. Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội tại cơ sở giam giữ

14

1.1.2. Trả tự do sớm khỏi các cơ sở giam giữ

20

1.1.3. Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội sau khi được trả
tự do khỏi cơ sở giam giữ

27

1.2.


43

2.3.

Nguyên nhân và những tồn tại trong công tác tái hòa nhập xã
hội đối với người phạm tội của thành phố Hải Phòng

52

4


2.3.1. Những tồn tại trong công tác tái hòa nhập xã hội đối với
người phạm tội của thành phố Hải Phòng

52

2.3.2. Những nguyên nhân dẫn đến các tồn tại, hạn chế trong công
tác tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội của thành phố
Hải Phòng

66

Chương 3:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG

81

CÔNG TÁC TÁI HÒA NHẬP XÃ HỘI ĐỐI VỚI TỘI PHẠM


3.2.4. Các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức và cộng đồng trong
việc tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội

98

3.2.5. Giải pháp mang tính nghiệp vụ

102

3.2.6. Giải pháp mang tính xã hội

106

3.3.

Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các
quy định về tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội

111

KẾT LUẬN

117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

120

5


6


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội là một công tác gắn liền
với việc thực thi các biện pháp hòa nhập cộng đồng cho người phạm tội sau
khi được trở về với xã hội từ cơ sở giam giữ. Giúp đỡ và tạo điều kiện cho
những người đã chấp hành xong án phạt tù xây dựng một cuộc sống bình
thường đồng thời giáo dục họ trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Hạn chế tối đa những trường hợp tái phạm không chỉ là mục tiêu chung mà
còn được thể hiện rất rõ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã nhấn mạnh: "Đối xử nhân đạo với
người bị phạt tù. Có chương trình dạy nghề cho phạm nhân và giới thiệu việc
làm cho họ sau khi ra tù, giúp họ nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng" [18].
Bên cạnh đó, công tác tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội được thực
hiện dựa trên nguyên tắc của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị năm 1966 mà Việt Nam đã tham gia ký kết năm 1982, theo đó: "Chế độ
giam giữ, thi hành án phải nhằm mục đích chính yếu trong việc đối xử với tù
nhân là cải tạo và đưa họ trở lại xã hội" [38].
Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội là một hoạt động có liên
quan đến nhiều cơ quan, ban ngành và toàn xã hội. Khoản 2 Điều 39 Luật Thi
hành án hình sự năm 2010 quy định:
Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện phối hợp với gia đình phạm nhân, chính quyền địa
phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm động viên phạm nhân
tích cực học tập, lao động, rèn luyện để được hưởng sự khoan hồng
của Nhà nước; hỗ trợ các hoạt động giáo dục, dạy nghề cho phạm

lâu dài do đó dù nhiều chương trình tái hòa nhập đã được thực hiện và đạt
được những hiệu quả nhất định thì còn những mặt hạn chế và những tồn tại,
chưa thực sự thu hút được sự quan tâm và tham gia của toàn xã hội. Thời gian
chấp hành hình phạt là quãng thời gian hạn chế tự do, cách ly người bị kết án

8


khỏi cộng đồng xã hội để cải tạo giáo dục họ tại trại giam, việc hạn chế lâu
dài các chức năng xã hội bình thường của một con người đồng thời gây ra sự
lãng quên các thói quen xã hội có ích của họ như học tập, làm việc, quan hệ
cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, đồng nghiệp. Do đó việc khôi phục lại các chức
năng xã hội này là một việc rất khó khăn và tương đối phức tạp. Mặt khác
hiện nay các văn bản về tái hòa nhập xã hội còn chưa đồng bộ và thống nhất.
Thực tế hiện nay cho thấy, các quy định về việc tái hòa nhập xã hội đối với
người phạm tội thường được phân tán ở các văn bản pháp luật khác nhau như
luật hình sự, luật thi hành án phạt tù hoặc trong các văn bản chỉ thị, nghị
quyết của Chính phủ và ngành Công an như Chương trình quốc gia phòng
chống tội phạm, chương trình phòng chống và kiểm soát ma túy. Ngoài ra
công tác tái hòa nhập xã hội cho người phạm tội chưa thực sự được quan tâm
đúng mức cũng góp phần làm cho công tác tái hòa nhập xã hội chưa thực sự
phát huy hết vai trò của nó trong quá trình giáo dục, cảm hóa người phạm tội
để khi mãn hạn tù họ trở thành những người có ích cho xã hội. Theo số liệu
thống kê của của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, tính từ năm 2009
đến năm 2012 số người tái phạm, tái phạm nguy hiểm là khá cao. Thành phố
Hải Phòng là một trong những thành phố lớn với tình hình tội phạm về cả
mức độ phức tạp và số lượng tội phạm trong cả nước và do vậy việc tìm hiểu
và nghiên cứu về công tác tái hoà nhập xã hội đối với người phạm tội của Hải
Phòng là một việc làm cần thiết và đáng quan tâm hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Tái hòa nhập xã

Cơ sở pháp lý nghiên cứu của đề tài là Hiến pháp năm 1992, Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị, các quy định của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung
năm 2009, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật Thi hành án năm 2010,
các văn bản hướng dẫn thi hành và một số văn bản hướng dẫn của các cơ
quan chuyên môn về công tác tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội.
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề về mặt lý luận và
những quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam về tái hòa nhập xã hội đối với
người phạm tội. Thông qua việc phân tích tình hình tái hòa nhập xã hội nói
chung và đi sâu phân tích công tác tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội

11


của thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây (2008 - 2012), luận văn
đánh giá được thực trạng của công tác tái hòa nhập xã hội đối với người phạm
tội của thành phố Hải Phòng nói riêng, một trong những địa phương điển hình
của cả nước về tình hình tội phạm. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra các giải
pháp, đề xuất có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn để vận dụng có hiệu quả
vào công tác tái hòa nhập xã hội, nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này
trong thời gian sắp tới. Đồng thời luận văn cũng đưa ra một vài kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật nước ta về vấn đề này.
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác tái hòa
nhập xã hội như: Khái niệm tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội; các
quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; thi hành án hình sự và các
luật có liên quan về tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội.
Hai là, đánh giá đúng thực trạng công tác tái hòa nhập xã hội của
thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây để tìm ra những thiếu sót,

hoàn thiện quy định của pháp luật về lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tái hòa nhập xã hội đối với người
phạm tội.
Chương 2: Thực trạng, kết quả đạt được, nguyên nhân và tồn tại trong
công tác tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội của thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác tái hòa
nhập xã hội đối với tội phạm.

13


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ TÁI HÒA NHẬP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI PHẠM TỘI

1.1. KHÁI NIỆM TÁI HÒA NHẬP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI PHẠM TỘI

Quan niệm chung của Việt Nam hiện nay, vấn đề tái hòa nhập xã hội
chỉ đặt ra với những người vi phạm pháp luật hình sự, hành chính mà bị cách
ly khỏi cộng đồng xã hội trong một thời gian. Hệ thống chế tài về hình sự và
hành chính của Việt Nam đã đưa ra các đối tượng bị cách ly khỏi xã hội bao
gồm những đối tượng sau: thứ nhất là người bị kết án tù có thời hạn, tù chung
thân; thứ hai là người bị đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; thứ ba là
người bị đưa vào trường giáo dưỡng (áp dụng đối với người chưa thành niên).
Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội là quá trình tính từ khi một người
trở thành bị can bị cáo, bị kết án, chấp hành án và mãn hạn tù. Tuy nhiên đối
tượng mà luận văn đi sâu nghiên cứu thuộc đối tượng thứ nhất đó là những

thì tù tha về là những kẻ phạm tội bị phạt án tù giam đã hết hạn được tha hoặc
chưa hết hạn nhưng được ân xá, ân giảm tha về. Cần quản lý chặt chẽ đối
tượng tù tha về và cần bố trí công ăn việc làm cho họ, tạo điều kiện để cho họ
làm ăn lương thiện. Nếu hiểu theo quan điểm này thì đối tượng mãn hạn tù
bao gồm số đối tượng bị phạt án tù giam được tha kể cả số đã hết thời hạn
nhưng ân xá, ân giảm tha về do có nhiều tiến bộ trong quá trình cải tạo. Khái
niệm này đã có cái nhìn toàn diện hơn so với những quan điểm trên về đối
tượng mãn hạn tù, tuy nhiên chưa phân định được rõ số tù giam có thời hạn
với số tù chung thân được tha về và cũng chưa đề cập tới vấn đề đối tượng tù
tha được đặc xá. Để có được khái niệm đầy đủ về người mãn hạn tù, Điều 2
Quyết định của Chủ tịch nước số 35/QĐ-CTN ngày 23/2/2000 về đặc xá năm
2000 cũng chỉ rõ: "Đối tượng được xét đặc xá tha tù là những phạm nhân
đang chấp hành án tại các trại giam do Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quản
lý, kể cả những phạm nhân đang được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù hoặc
hoãn thi hành án phạt tù có những hoàn cảnh đặc biệt theo luật định" [25].
Theo đó thì đối tượng đặc xá bao gồm ba loại: Phạm nhân đang chấp hành án

15


phạt tù tại các trại giam thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng và quản lý có
nhiều tiến bộ được tha trước thời hạn; Phạm nhân trong thời gian được tạm
đình chỉ thi hành án phạt tù có nhiều tiến bộ được miễn thi hành án phạt tù;
Những người bị kết án tù trong thời gian được hoãn thi hành án phạt tù có
nhiều tiến bộ được miễn hình phạt tù. Tổng hợp từ những quan điểm trên thì
người mãn hạn tù hay còn gọi là đối tượng tù tha:
Là những người có hành vi phạm tội đã bị Tòa án nhân dân
kết án bằng bản án tù chung thân hoặc có thời hạn, phải chấp hành
hình phạt tù tại các trại giam, bị cách ly khỏi đời sống xã hội nay đã
chấp hành xong hình phạt tù hoặc vì một lý do nào đó được tha ra

thời gian nhất định theo quyết định của Tòa án, nay họ đã hết thời hạn giam
giữ, cải tạo hoặc chưa hết thời hạn nhưng có tiến bộ, được hưởng chính sách
khoan hồng được tha về địa phương. Đây là những đối tượng đã bị kết án tù
giam hoặc tù chung thân đã chấp hành án ở các trại giam và được tha về.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về tái hòa nhập xã hội và
tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội. Một số quan điểm cho rằng tái
hòa nhập xã hội là "tái hoàn lương" trở lại đối với cuộc sống đời thường mà
những người vi phạm, những người lầm lỗi đã mất đi. Cũng có ý kiến cho
rằng tái hòa nhập xã hội thực chất là các biện pháp quản lý của cộng đồng đối
với những người phạm tội. Bên cạnh đó đa phần các quan điểm đều cho rằng
tái hòa nhập xã hội là "quay lại lần thứ hai" hòa nhập với cộng đồng xã hội
đối với những người có quá khứ tội lỗi sau một thời gian bị cách ly khỏi xã
hội, cộng đồng dân cư. Tuy nhiên có thể hiểu tái hòa nhập xã hội như sau: Tái
hòa nhập xã hội là xóa đi những quá khứ tội lỗi và mặc cảm của người phạm
tội, tạo cơ hội, bình thường hóa các mối quan hệ để họ hội nhập với cộng
đồng nơi cư trú với tư cách là một công dân, một thành viên của gia đình,
cộng đồng xã hội [26, tr. 24]. Đây là những biện pháp tác động tích cực giúp
đỡ những người lầm lỗi, những người có quá khứ phạm tội xóa bỏ đi mọi mặc
cảm của bản thân họ đối với cộng đồng, gia đình và xã hội để họ có thể trở về
là người dân lương thiện với đúng nghĩa của nó. Có thể hiểu tái hòa nhập xã
hội là khái niệm thường đề cập đến các biện pháp hòa nhập xã hội được thiết
kế riêng biệt để giúp người phạm tội được tha từ một cơ sở giam giữ và để

17


giúp họ đối mặt với những thách thức liên quan đến việc trở về với cộng
đồng. Tái hòa nhập không có nghĩa chỉ là việc đưa đối tượng lầm lỡ từ các cơ
sở tập trung trở về nơi cư trú cũ, về với gia đình họ và cộng đồng dân cư nơi
họ sống trước đây. Tái hòa nhập xã hội cần được hiểu ở mức độ và phạm vi

cộng đồng; Bên cạnh đó các chủ thể là nhà nước và xã hội, thông qua các hoạt
động hỗ trợ cụ thể, tạo các điều kiện cần và đủ cho đối tượng tạo lập cuộc
sống bình thường trong cộng đồng và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau để
chuẩn bị cho người phạm tội những điều kiện cần thiết và tâm lý, kỹ năng
sống khi trở về với xã hội sau một thời gian bị cách ly [26, tr. 23- 25].
Tái hòa nhập xã hội bao gồm nhiều giai đoạn bắt đầu từ việc chuẩn bị
cho người phạm tội bị cách ly khỏi xã hội những điều kiện cần thiết về nhận
thức, tâm lý và một số kỹ năng nghề nghiệp ngay trong quá trình giáo dục, cải
tạo tại nơi giam giữ và kết thúc khi họ được hỗ trợ các yếu tố cần thiết để tạo
lập được một cuộc sống bình thường trong xã hội, do đó có thể phân chia quá
trình tái hòa nhập xã hội theo thành nhiều giai đoạn như sau: giai đoạn thứ
nhất là quá trình chuẩn bị tái hòa nhập của người phạm tội tại các cơ sở cải
tạo, giam giữ. Ở giai đoạn này họ được giáo dục về văn hóa, pháp luật, giáo
dục về đạo đức, tư tưởng cũng như rèn luyện ý thức lao động, đây là sự chuẩn
bị cần thiết cho sự thích ứng nhanh chóng của đối tượng với môi trường bên
ngoài cơ sở cải tạo, giam giữ; giai đoạn thứ hai là quá trình hòa nhập vào gia
đình. Gia đình là môi trường đầu tiên và quan trọng nhất mà đối tượng phải
hòa nhập sau khi trở về với cuộc sống cộng đồng. Kết thúc quá trình này là
người thân chấp nhận họ trở lại là một thành viên bình thường của gia đình,
quan tâm đùm bọc họ; giai đoạn thứ ba là quá trình hòa nhập vào cộng đồng
xã hội tại địa phương mà đối tượng trở lại sinh sống, đây là quá trình thích
nghi và điều chỉnh hành vi phù hợp với các quy định của pháp luật và các quy
tắc đạo đức tại địa phương. Kết quả của quá trình này là sự ghi nhận của đoàn
thể xã hội, của chính quyền địa phương, của những người xung quanh với
những tiến bộ của họ; giai đoạn thứ tư là quá trình khẳng định vị trí của đối
tượng tại cộng đồng, quá trình này thể hiện rõ sự nỗ lực thực sự của họ trong
việc xây dựng một cuộc sống lương thiện, từng bước hoàn thiện nhân cách,
nâng cao kiến thức văn hóa và năng lực, trách nhiệm trong lao động. Lúc này

19

định tại Điều 16 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 về nhiệm vụ, quyền hạn,

20


cơ cấu tổ chức của trại giam thì: Trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù, có
nhiệm vụ quyền hạn "tiếp nhận, tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm
nhân". Trại giam có phân trại, khu giam giữ, nhà giam, các công trình phục vụ
việc quản lý giam giữ, phục vụ sinh hoạt, chăm sóc y tế, giáo dục cải tạo
phạm nhân; các công trình phục vụ làm việc, sinh hoạt của sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức công tác tại trại
giam. Tổ chức bộ máy quản lý của trại giam gồm có Giám thị, Phó giám thị,
Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng; sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan; chiến sĩ và công nhân, viên chức. Giám
thị, Phó giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội
trưởng phải là người đã tốt nghiệp đại học cảnh sát, đại học an ninh, đại học
luật trở lên và bảo đảm các tiêu chuẩn khác theo quy định của Chính phủ.
Quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân là quá trình kiểm soát, tổ chức
và hướng dẫn các loại hình hoạt động và giao tiếp của người phạm tội được
thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch trong những điều kiện cụ thể
của trại giam trên cơ sở quy định của pháp luật. Đây là một quá trình khó
khăn, phức tạp do những hành vi thói quen xấu, nhất là những người đã bị ảnh
hưởng và chi phối bởi những quan điểm, tư tưởng sai lầm, nhân cách lệch lạc,
suy thoái đến mức trầm trọng. Những người phạm tội đã mang trong họ
những phẩm chất tâm lý tiêu cực như: triết lý sống thấp hèn, thói quen vô đạo
đức, tính hung bạo, nhẫn tâm, tàn ác, tham lam, ích kỉ, cục cằn, thiếu văn hóa,
lối sống tự do, bừa bãi, vô kỉ luật của phạm nhân là khá phổ biến và không thể
ngày một ngày hai có thể thay đổi được. Tuy nhiên, dù nhân cách của người
phạm tội có suy thoái, vô đạo đức đến mức nào thì ở mỗi con người vẫn còn
tính nhân bản, trong sâu thẳm tâm hồn của họ, ít nhiều vẫn còn lương tri, nỗi

thủ bóng đá hay trang phục biểu diễn văn nghệ, thi đấu hay biểu diễn hết
mình như bất kỳ đội bóng, đội văn nghệ nào ngoài xã hội. Những hoạt động
đó giúp phạm nhân vơi đi mặc cảm, quyết tâm rèn luyện, phấn đấu để sớm
được trở về đoàn tụ với gia đình.
Cùng với đó các trại giam còn chuẩn bị khâu "đầu ra" cho các phạm
nhân tái hòa nhập xã hội. Với cách thức được thực hiện thống nhất như sau:
Số phạm nhân sắp chấp hành xong hình phạt tù được tập trung giam giữ tại

22


một khu vực riêng trong trại giam, được bố trí với những điều kiện thuận lợi
hơn về sinh hoạt, học tập, vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe, thăm gặp thân
nhân. Tổ chức cho những phạm nhân này học tập những kiến thức cần thiết về
pháp luật, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, học tâm lý để tránh
mặc cảm, tự ti và giáo dục kỹ năng sống, nhất là kỹ năng tìm kiếm việc làm,
kỹ năng phòng tránh, từ chối những tác động tiêu cực của xã hội, cung cấp
thông tin, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương cho phạm
nhân khỏi lạc hậu trước khi trở về. Sau khi tiếp nhận phạm nhân, trại giam
tiến hành quản lý, giam giữ phạm nhân. Nghị định 117/2011/NĐ-CP ngày
15/12/2011 của Chính phủ đã quy định khá rõ về tổ chức quản lý phạm nhân
và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân. Chế độ ăn,
mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân được thực hiện theo quy
định tại các Điều từ Điều 8 đến Điều 15 Nghị định 117. Bên cạnh đó trại giam
còn có nhiệm vụ "thông báo cho thân nhân của phạm nhân về việc tiếp nhận
phạm nhân và tình hình chấp hành án của người đó". Hai tháng trước khi
phạm nhân hết hạn chấp hành hình phạt tù, Giám thị trại có văn bản thông báo
kết quả chấp hành hình phạt tù và những thông tin cần thiết khác về phạm
nhân cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi phạm
nhân về sinh sống để quan tâm, giúp đỡ họ tạo lập cuộc sống bình thường,

án phạt tù (Điều 8 Nghị định 80/2011/NĐ-CP ngày 16/09/2011 của Chính
phủ quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người
chấp hành xong án phạt tù). Các phạm nhân được giam giữ ở các khu giam
khác nhau để thuận tiện cho việc quản lý và giam giữ, theo đó: khu giam giữ
đối với phạm nhân có mức án tù trên 15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc
loại tái phạm nguy hiểm; khu giám giữ đối với phạm nhân có mức án tù từ 15
năm trở xuống, phạm nhân có mức án tù trên 15 năm nhưng có kết quả chấp
hành án tốt, đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù còn dưới 15 năm.
Các phạm nhân nữ; phạm nhân là người chưa thành niên; phạm nhân là người
nước ngoài; phạm nhân là người có bênh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm;
phạm nhân có dấu hiệu bị tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình trong thời gian chờ
quyết định của Tòa án; phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy, quy chế

24


trại giam được chia ra thành các khu giam giữ riêng. Phạm nhân được chia
thành các đội, tổ để lao động, học tập và sinh hoạt.
Nghị định số 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ quy
định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc
y tế đối với phạm nhân đã quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể về: chế độ ăn
đối với phạm nhân (Điều 8), chế độ ở của phạm nhân (Điều 9), chế độ mặc và
cấp phát tư trang đối với phạm nhân (Điều 10), chế độ ăn, mặc và cấp phát nhu
yếu phẩm đối với trẻ em dưới 36 tháng tuổi là con của phạm nhân ở cùng cha,
mẹ trong trại giam (Điều 11), chế độ sinh hoạt đối với phạm nhân (Điều 12),
chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân (Điều 13), chế độ đối với phạm nhân
là người chưa thành niên (Điều 14), chế độ ăn, mặc, sinh hoạt, chăm sóc y tế
đối với phạm nhân là người nước ngoài. Như vậy các chế độ và việc giam giữ
người phạm tội tại trại giam đối với phạm nhân được quy định khá chi tiết và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status