ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******
NGUYỄN THỊ PHƢỢNG
VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH
HẢI DƢƠNG TRONG XÓA ĐÓI, GIẢM
NGHÈO HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội- 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******
NGUYỄN THỊ PHƢỢNG
VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH
HẢI DƢƠNG TRONG XÓA ĐÓI, GIẢM
NGHÈO HIỆN NAY
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 03 08
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Thanh Khôi
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 3
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 3
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn. ............................. 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn. .......................................... 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn............................................ 9
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn. ............................. 9
6. Đóng góp mới của luận văn........................................................................... 9
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn. .................................................. 10
8. Kết cấu của luận văn. .................................................................................. 10
NỘI DUNG ....................................................................................................... 11
CHƢƠNG 1 ...................................................................................................... 11
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ
NỮ VIỆT NAM TRONG XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ TÌNH HÌNH
ĐÓI NGHÈO Ở TỈNH HẢI DƢƠNG HIỆN NAY ....................................... 11
1.1 Quan niệm về đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam. .............. 11
1.1.1 Quan niệm về đói nghèo ........................................................................... 11
1.1.2 Xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam ............................................................. 22
1.2 Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và vai trò của Hội trong xóa đói, giảm
nghèo . ............................................................................................................... 31
1.2.1 Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam- một tổ chức của hệ thống chính
trị................ ........................................................................................................ 31
1.2.2 Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong xóa đói, giảm nghèo.
............................................................................................................................ 37
1
1.3 Tình hình đói nghèo và công tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Hải Dƣơng
hiện nay ............................................................................................................. 43
Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu, là sự quan tâm của nhiều
quốc gia. Khi xã hội càng phát triển thì sự tồn tại của một bộ phận lớn những
người nghèo lại làm cho khoảng cách chênh lệch giàu- nghèo trở nên lớn hơn
và khi đó người nghèo lại càng có ít cơ hội tiếp cận với các dịch vụ của xã hội.
Nghèo đói chính là một rào cản lớn thực hiện tiến bộ xã hội, là nguyên nhân
của tình trạng thất học, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, sự gia tăng các tệ nạn
xã hội và mất ổn định an ninh chính trị. Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo là một
nhiệm vụ mang tính kinh tế- chính trị, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời
sống cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu- nghèo, hướng tới việc thực
hiện công bằng và tiến bộ xã hội.
Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân. Bác nói: “ Hễ dân đói là Đảng và
Chính phủ có lỗi, hễ dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, hễ dân không được
học hành là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Người cũng xem đói là một thứ giặc
giống như giặc dốt và giặc ngoại xâm. Chính vì vậy, ngay sau khi Cách mạng
tháng Tám thành công, Người đã sớm phát động cuộc thi đua yêu nước, kêu
gọi toàn dân bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau để giúp nhân dân
thoát khỏi nạn đói như: tăng gia sản xuất, thực hiện tiết kiệm, nhường cơm sẻ
áo, quyên góp gạo cứu đói... Theo Người, xóa đói, giảm nghèo là: “ làm cho
người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm”.
Tiếp thu tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta đã coi xóa đói, giảm
nghèo là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trong Văn kiện Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ X Đảng ta khẳng định: “ Đa dạng hóa các nguồn
lực và phương thức xóa đói giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và
kết hợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế... kết hợp chính sách của
Nhà nước với sự trợ giúp trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những
3
4
rất cần có các tổ chức chính trị- xã hội đứng ra làm công tác tuyên truyền, vận
động để người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của xóa đói giảm nghèo;
trong đó Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam - một tổ chức đoàn thể trong hệ
thống chính trị, đã nhận thức được rõ vị trí quan trọng, sự liên quan chặt chẽ
giữa xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển, từ đó Hội đã chủ động tham gia
một cách bền bỉ vào công tác xóa đói giảm nghèo với nhiều hình thức đa dạng
và phong phú.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng- một trong
những cái nôi của nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hàng
ngàn năm của dân tộc đã để lại cho vùng đất này một tài sản vô giá với hàng
trăm di tích lịch sử- văn hoá. Mặt khác, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc, Hải Dương có điều kiện thuận lợi để giao lưu, phát triển kinh tế.Tuy
nhiên, là một tỉnh nông nghiệp chiếm đa số, nên số hộ nghèo ở Hải Dương vẫn
còn chiếm tỷ lệ cao? Do đó, xóa đói giảm nghèo ở Hải Dương được đặt ra một
cách cấp thiết? Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh- một tổ chức chính trị xã hội có vai trò
tích cực trong việc hỗ trợ việc làm, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế địa
phương đã tích cực tham gia vào công tác này?
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Vai trò
của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương trong xóa đói, giảm nghèo hiện
nay” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Triết học chuyên ngành Chủ nghĩa xã
hội khoa học của mình.
2.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn.
Trong những năm qua, vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nước ta được
Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương quan
trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã đánh giá một
cách tổng quan về thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; chủ trương, đường lối
của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về xóa đói, giảm nghèo; các
chương trình xóa đói, giảm nghèo điển hình; đánh giá tổng quát việc thực hiện
chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001-2010; nêu ra
những định hướng, mục tiêu xóa đói, giảm nghèo cùng những cơ chế, giải
6
pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam
thời gian tới.
Quang Huy ( 2014), Những điều cần biết để xóa đói, giảm nghèo bền
vững, Nxb Văn hóa thông tin. Tác giả đã trình bày những chính sách của
Đảng, Nhà nước với những nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách để xóa đói, giảm
nghèo, kỹ năng tổ chức lao động sản xuất, tiếp cận nguồn lực hỗ trợ, kinh
nghiệm tham gia thị trường... giúp người dân thoát nghèo.
Bên cạnh đó có thể kể đến một số luận án, luận văn nghiên cứu về xóa
đói, giảm nghèo như:
Đinh Thị Thúy Hường ( 2009), Xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng
hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh. Tác giả đã phân tích những nhận thức cơ bản về nghèo đói và xóa đói,
giảm nghèo, chỉ ra thực trạng nghèo đói và hoạt động xóa đói, giảm nghèo ở
tỉnh Cao Bằng, qua đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh công
tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng.
Nguyễn Thị Hoa ( 2009), Hoàn thiện các chính sách xóa đói, giảm
nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2013, Luận án Tiến sỹ Kinh tế. Tác giả
đã phân tích, đánh giá một số chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam từ
năm 1986 đến nay và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao, tác động
của chúng đến công cuộc xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian
tới.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về vai trò của Hội Liên hiệp phụ
nữ trong xóa đói, giảm nghèo và thực trạng vai trò này của Hội Liên hiệp phụ
nữ tỉnh Hải Dương, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương trong xóa đói, giảm nghèo hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải
quyết những nhiệm vụ sau:
Làm rõ những vấn đề lý luận chung về vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ
trong xóa đói, giảm nghèo: quan niệm về đói nghèo; xóa đói, giảm nghèo ở
Việt Nam; vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ trong xóa đói, giảm nghèo.
8
Trình bày thực trạng vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương
trong xóa đói, giảm nghèo: những thành tựu đạt được và hạn chế, đồng thời
chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó.
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Hội Liên hiệp phụ
nữ tỉnh Hải Dương trong xóa đói, giảm nghèo hiện nay.
4.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của Hiệp Liên hiệp phụ nữ Hải Dương trong xóa đói, giảm
nghèo.
Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương trong xóa đói,
giảm nghèo ( chủ yếu phụ nữ ở nông thôn), giai đoạn 2010- 2014.
Kết cấu của luận văn.
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương với 6 tiết.
10
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘI LIÊN
HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ
TÌNH HÌNH ĐÓI NGHÈO Ở TỈNH HẢI DƢƠNG HIỆN NAY.
1.1
Quan niệm về đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.
1.1.1 Quan niệm về đói nghèo
Thứ nhất về khái niệm đói nghèo
Trên thế giới
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế- xã hội mang tính chất toàn cầu. Nó
không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển mà còn tồn tại
ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Để giải quyết vấn đề nghèo đói
cần phải có quan niệm đúng về nó. Tuy nhiên, do mỗi quốc gia lại có trình độ
phát triển kinh tế- xã hội, điều kiện tự nhiên, trình độ dân trí, văn hóa, chính trị
khác nhau, nên mỗi quốc gia ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử lại có cách
làm và giải pháp khác nhau. Điều đó đã dẫn đến có nhiều quan niệm khác
nhau về đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo.
Trước hết, có thể kể đến quan điểm về đói nghèo của Liên Hợp Quốc
( UN): Người nghèo là những người có thu nhập dưới đường ranh giới nghèo,
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống ( nhu cầu về ăn,
mặc, ở, giáo dục, y tế...). Những nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt
theo từng quốc gia và được mở rộng dần trong quá trình phát triển.
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định. Khái
niệm nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ
phận dân cư với mức sống trung bình của địa phương trong một thời kỳ nhất
định. Vì vậy, việc xóa dần nghèo tuyệt đối là có thể làm, nhưng còn nghèo
tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề ở đây là rút ngắn
khoảng cách giàu- nghèo, hạn chế sự phân biệt giàu- nghèo trong xã hội.
12
Cùng với đó, nghèo đói còn được nhận diện ở bốn khía cạnh là thời gian,
không gian, môi trường và giới.
Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác
định như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được trong một thời gian dài
( tuy nhiên cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo tình
thế do thất nghiệp, do thiên tai, rủi ro hay do con người gây ra).
Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng
sâu, vùng xa... cho dù nền kinh tế có phát triển thế nào đi chăng nữa dân cư ở
những vùng này vẫn bị rơi vào nghèo đói.
Về môi trường: Hầu hết những người nghèo đói đều phải sống trong môi
trường khắc nghiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo đói
không đủ khả năng và điều kiện để giữ gìn, đảm bảo và cải thiện môi trường
sống.
Về giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ. Mặc dù trong
gia đình, nam giới là chủ gia đình, nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều
hơn gánh nặng của nghèo đói.
Tóm lại, những quan niệm về nghèo đói do cách tiếp cận khác nhau nên
nói riêng chỉ tiêu số lượng kg gạo bình quân đầu người/ tháng rất có ý nghĩa
thực tế.
Một hộ có thu nhập cao thì nhất thiết không phải là người nghèo và
ngược lại. Còn mức độ chi tiêu và cơ cấu chi tiêu không thể thay thế thu nhập,
vì chi tiêu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: sở thích, phong tục tập
quán, điều kiện khí hậu, quan hệ thị trường. Tương tự như vậy, vấn đề mặc,
nhà ở, phương tiện đi lại cũng không thể thay thế chỉ tiêu thu nhập, ngược lại
có tác dụng bổ sung cho chỉ tiêu thu nhập.
Qua nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu và đi đến thống nhất ở các Bộ,
ngành, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã đưa ra khái niệm nghèo đói ở
Việt Nam như sau:
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống
tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
14
Khái niệm đói cũng có hai dạng: đói kinh niên và đói cấp tính ( đói gay
gắt)
Đói kinh niên là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm
đang xét;
Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều
nguyên nhân như: gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời thời điểm đang xét.
Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn
một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức
sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm
đau không có tiền chữa trị, nhà cửa rách nát.
Hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không lành và không
đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất.
Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD/ người/ năm là nước trung bình.
Từ 500 đến dưới 2.500 USD / người/ năm là nước nghèo.
Dưới 500 USD/ người/ năm là nước cực nghèo.
Phương pháp sức mua tương đương PPP ( Purchasing Power Parity)
cũng tính bằng USD, khi tính toán chuẩn nghèo quốc tế, WB đã tính theo mức
năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.100 calo/ ngày. Với
mức giá chung của thế giới, để đảm bảo mức năng lượng đó thì cần khoảng 1
USD/ người/ ngày.
Cách tính của Tổ chức Liên Hợp Quốc: dùng cách tính dựa trên cơ sở
phân phối thu nhập theo đầu người hoặc theo nhóm dân cư.
Thước đo này tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình
nhận được trong thời gian nhất định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại
thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân
cư.
16
Phương pháp tính: Đem chia số dân của một nước, một châu hoặc toàn
cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân cố, bao gồm: rất giàu, giàu, trung
bình, nghèo và rất nghèo.
Như vậy, trên thế giới có nhiều tiêu chí xác định chuẩn nghèo đói, tuy
nhiên quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng nghèo đói của từng quốc gia hay
từng vùng, từng nhóm dân cư không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung
nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người: ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa, đi
lại, giao tiếp xã hội.... Sự khác nhau chung nhất là thỏa mãn ở mức độ cao hay
thấp, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế- xã hội cũng như
phong tục, tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đói của Việt Nam
Chuẩn nghèo đói chung
thực phẩm
1993
750.000 đồng/ người/ năm
1.160.000 đồng/ người/ năm.
1998
1.287.000 đồng/ người/ năm.
1.178.000 đồng/ người/ năm
2002
1.381.000 đồng/ người/ năm
1.915.000 đồng/ người/ năm
2004
1.488.000 đồng/ người/ năm
2.076.000 đồng/ người/ năm
Phương pháp này có hạn chế là sử dụng một chuẩn nghèo duy nhất áp
dụng cho cả khu vực thành thị và nông thôn.
Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia.
Chia hộ đói nghèo trong cả nước thành hai loại là hộ đói và hộ nghèo;
chia cả nước thành ba vùng đói nghèo là thành thị, nông thôn miền núi và hải
đảo, nông thôn đồng bằng và trung du, trong đó:
Hộ đói là hộ có thu nhập lương thực quy ra gạo bình quân dưới 13kg/
người/ tháng, tương đương 45.000 đồng, tính cho mọi vùng.
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân quy ra gạo tùy theo từng vùng ở
các mức như sau:
Vùng nông thôn miền núi và hải đảo dưới 15kg/ người/ tháng, tương
đương 55.000 đồng;
Vùng nông thôn đồng bằng dưới 20kg/ người/ tháng, tương đương
70.000 đồng;
19
Khu vực thành thị dưới 25kg/ người/ tháng, tương đương 90.000 đồng.
Chuẩn nghèo lần 4: Ban hành năm 2000 ( Quyết định số 1143/ QĐLĐTBXH ngày 01/11/2000), quy định:
Bỏ tiêu chí xác định hộ đói, giữ lại tiêu chí xác định hộ nghèo, không
dựa vào thu nhập lương thực quy gạo mà dựa vào thu nhập tính theo tiền Việt
Nam, trong đó:
Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân:
Vùng nông thôn miền núi và hải đảo dưới 80.000 đồng/ người/ tháng;
Vùng nông thôn đồng bằng dưới 100.000 đồng/ người/ tháng;
Khu vực thành thị dưới 150.000 đồng/ người/ tháng.
Chuẩn nghèo lần 5: Ban hành năm 2005 ( Quyết định số 170/2005/ QĐTTg ngày 08/07/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo
áp dụng cho giai đoạn 2006- 2010), quy định chuẩn nghèo giai đoạn này được
nâng lên cho phù hợp với mức sống đã được nâng lên của nhân dân và để gần
với chuẩn nghèo đói của quốc tế.
Hộ nghèo là hộ mức thu nhập bình quân:
Vùng nông thôn dưới 200.0000 đồng/ người/ tháng;
Khu vực thành thị dưới 260.000 đồng/ người/ tháng.
và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm cho biết: “ Từ năm 2015, chuẩn nghèo mới dự
kiến sẽ xem xét dựa trên 5 chiều bao gồm: y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp
cận thông tin, bảo hiểm và trợ giúp xã hội. Kết quả đo lường nghèo đa chiều
này sẽ cho thấy sự thiếu hụt các chiều của từng cộng đồng, khu vực để các nhà
hoạch định chính sách có thể thiết lập thứ tự ưu tiên trong việc đầu tư cơ sở hạ
tầng, y tế, giáo dục....”.
Cũng tại Hội thảo, các đại biểu dự hội thảo cho rằng đo lường nghèo đa
chiều là phương pháp mới đang được các tổ chức quốc tế, một số quốc gia trên
thế giới nghiên cứu, chuyển đổi nhưng chưa có hình mẫu và quy định chung.
Ở Việt Nam, tiếp cận nghèo đa chiều cần đạt được 3 mục tiêu: đo lường sự
thiếu hụt; giám sát giảm nghèo và định hướng chính sách; xác định hộ nghèo
và đối tượng thụ hưởng chính sách.
21