Hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm huy động nguồn vốn ngoài ngân sách đầu tư cho khoa học và công nghệ trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

PHẠM QUANG ANH

HÌNH THÀNH QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM
NHẰM HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH
ĐẦU TƢ CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2015

1


MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 4
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................4
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ..........................................................................4
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................7
3.1. Mục tiêu nghiên cứu .....................................................................................7
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................7
4. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................8
5. Mẫu khảo sát........................................................................................................8

trên địa bàn Hà Nội ........................................................................................47
2.2.1. Khái quát về doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên địa bàn Hà Nội
.................................................................................................................47
2


2.2.2. Khảo sát thực trạng nguồn vốn dành cho các doanh nghiệp khoa học và
công nghệ trên địa bàn Hà Nội ...............................................................52
2.3. Nhận xét về thực trạng nguồn vốn dành cho các doanh nghiệp khoa học và
công nghệ trên địa bàn Hà Nội .......................................................................58
2.3.1. Khái quát thực trạng nguồn vốn ..............................................................58
2.3.2. Kết quả phỏng vấn nhận định về thực trạng nguồn vốn ..........................59
2.4. Nguyên nhân khó huy động vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp khoa học và
công nghệ .......................................................................................................63
Tiểu kết chƣơng 2 ..................................................................................................68
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH QUỸ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM....................69
NHẰM HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH ......................................69
CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ............................................................................69
3.1. Hoạt động của các quỹ đầu tƣ mạo hiểm .......................................................69
3.1.1. Kinh nghiệm về đầu tư mạo hiểm tại một số nước ..................................69
3.1.2. Sự cần thiết hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm .........................................72
3.1.3. Việc huy động vốn cho quỹ đầu tư mạo hiểm ..........................................73
3.2. Nhóm giải pháp về chính sách hình thành quỹ đầu tƣ mạo hiểm cho khoa học
và công nghệ...................................................................................................81
3.2.1. “Vốn mồi” (Seed Capital) cho việc hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm ....81
3.2.2. Nguồn vốn ngoài ngân sách cho hoạt động và duy trì quỹ đầu tư mạo
hiểm..........................................................................................................83
3.3. Nhóm giải pháp về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tƣ mạo hiểm .............85
3.3.1. Tổ chức của quỹ đầu tư mạo hiểm ...........................................................85
3.3.2. Hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm .......................................................85

phù hợp thì có thể thúc đẩy sự đầu tƣ một cách hiệu quả vào khoa học và
công nghệ từ các nguồn vốn của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tài trợ.
Do vậy, nghiên cứu hình thành quỹ đầu tƣ mạo hiểm là một giải pháp
khả thi nhằm huy động nguồn vốn ngoài ngân sách đầu tƣ cho khoa học và
công nghệ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chính vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Hình thành quỹ đầu tư
mạo hiểm nhằm huy động nguồn vốn ngoài ngân sách đầu tư cho khoa học và
công nghệ trên địa bàn thành phố Hà Nội đƣợc chọn làm đề tài Luận văn
Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Quỹ đầu tƣ mạo hiểm đã xuất hiện khá lâu trên thế giới dƣới nhiều hình
thức khác nhau. Loại hình định chế tài chính này đƣợc các nhà khoa học kinh
tế nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực với những nội dung đa dạng
4


và phong phú. Tuy nhiên quỹ đầu tƣ mạo hiểm đầu tƣ cho khoa học và công
nghệ vẫn là một đề tài mới mẻ tại Việt Nam, ở Hà Nội hầu nhƣ chƣa có, nên
các nghiên cứu và đề xuất hình thành quỹ đầu tƣ mạo hiểm đầu tƣ cho khoa
học và công nghệ gần nhƣ chƣa có mà chỉ có những nghiên cứu về quỹ đầu tƣ
mạo hiểm nói chung. Tại Việt Nam, trong vài năm gần đây có thể kể tới một
số công trình sau:
- Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh (2003), “Tìm
hiểu quỹ đầu tư mạo hiểm và tình hình hoạt động của các quỹ đầu tư mạo
hiểm tại Việt Nam”, Đề án cấp thành phố (Sở Khoa học và Công nghệ thành
phố Hồ Chí Minh chủ trì). Nội dung của đề án cho thấy các quỹ đầu tƣ mạo
hiểm đa số tập trung vào lĩnh vực internet, thƣơng mại điện tử, giải trí, truyền
thông…, bản đề án cũng mới chỉ dừng lại ở việc kiến nghị trung ƣơng cần
sớm có chính sách cụ thể quy định về việc khuyến khích thành lập các quỹ
đầu tƣ mạo hiểm, cơ chế cho vay đặc biệt đối với các dự án về công nghệ cao,

- Nghiên cứu của Ngô Thị Kim Oanh (2006), Luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ khoa học: Những khó khăn trong việc hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm
công nghệ cao tại thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong
Luận văn này, tác giả đã phân tích, khảo sát những khó khăn trong việc hình
thành Quỹ đầu tƣ mạo hiểm công nghệ cao tại thành phố Hồ Chí Minh, tìm
hiểu những nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó, đồng thời đã đề ra giải
pháp để khắc phục những khó khăn đãn nêu, nhằm đề xuất tổ chức và hoạt
động của Quỹ đầu tƣ mạo hiểm công nghệ cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu của tác giả Phạm Đại Dƣơng (2008), “Giải pháp tạo kênh
huy động vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp
khoa học và công nghệ ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ (Khoa Khoa học Quản
lý, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).
Đã nghiên cứu về thực trạng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp khoa học
và công nghệ, nghiên cứu các giải pháp và cách thức hỗ trợ vốn cho các
doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nghiên cứu các hình thức huy động vốn
để hỗ trợ cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nghiên cứu các chính
sách hiện hành của nhà nƣớc đối với việc huy động và đầu tƣ vốn cho doanh
nghiệp nhằm thành lập một kênh huy động và đầu tƣ vốn cho các doanh
nghiệp khoa học và công nghệ.
6


- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Hƣng (2009), “Điều kiện khả thi
của Quỹ đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động đổi mới công nghệ của các
doanh nghiệp ở ”, Luận văn thạc sỹ (Khoa Khoa học Quản lý, Trƣờng Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội). Luận văn đã
tập trung nghiên cứu điều kiện về tính minh bạch trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, vì tính minh bạch trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những cơ sở quan trọng để giữ
vững, phát triển doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận

- Đề xuất hình thành quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm huy động nguồn vốn
ngoài ngân sách đầu tƣ cho khoa học và công nghệ.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: năm 2008 - 2014.
5. Mẫu khảo sát
Luận văn tiến hành khảo sát trên các mẫu sau:
- Các đơn vị đã và đang triển khai các đề tài khoa học cấp thành phố
Hà Nội;
- 24 doanh nghiệp KH&CN trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Quỹ đầu tƣ mạo hiểm ở Việt Nam nhƣ: Vietnam Fund, Dragon
Capital, Mekong Enterprise, IDG Việt Nam.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Cần hình thành và duy trì hoạt động của quỹ đầu tƣ mạo hiểm theo
những tiêu chí nào nhằm huy động vốn cho khoa học và công nghệ?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Để hình thành và duy trì hoạt động của quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm huy
động vốn cho khoa học và công nghệ, cần theo các tiêu chí sau đây:
- Chính sách hình thành quỹ đầu tƣ mạo hiểm: Nhà nƣớc chỉ chi “vốn
mồi’ ban đầu cho việc hình thành quỹ đầu tƣ mạo hiểm; Nguồn vốn cho quá
trình hoạt động và duy trì quỹ đầu tƣ mạo hiểm đƣợc hình thành từ ngoài
ngân sách nhà nƣớc
- Hoạt động của quỹ đầu tƣ mạo hiểm;

8


- Điều kiện tiếp cận quỹ đầu tƣ mạo hiểm: Tính minh bạch trong quản
lý tài chính – Điều kiện tiên quyết để tiếp cận nguồn vốn từ quỹ đầu tƣ mạo
hiểm.

- Chƣơng 3. Giải pháp hình thành quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm huy động
nguồn vốn ngoài ngân sách cho khoa học và công nghệ

10


CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM
CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1. Khoa học và công nghệ
1.1.1. Khái niệm khoa học
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về khái niệm khoa học xuất phát từ
nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Luật KH&CN (2013), đƣa ra định nghĩa khoa học: “Khoa học là hệ
thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện
tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”.
UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp
quốc) cũng sử dụng định nghĩa: “Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại
quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự
nhiên, xã hội, tư duy”. [29;17]
Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát
triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh
nghiệm và tri thức khoa học.
Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết đƣợc tích lũy qua hoạt động
sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và giữa con
ngƣời với thiên nhiên. Quá trình này giúp con ngƣời hiểu biết về sự vật, về
cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con ngƣời
trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm đƣợc con ngƣời không ngừng sử dụng và
phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chƣa thật
sự đi sâu vào bản chất, chƣa thấy đƣợc hết các thuộc tính của sự vật và mối

1.1.2. Khái niệm công nghệ
Thuật ngữ công nghệ đƣợc hình thành từ khá lâu. Công nghệ (có nguồn
gốc từ technologia, trong tiếng Hy Lạp; techne có nghĩa là thủ công và logia
có nghĩa là "châm ngôn") là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và
mƣu mẹo của con ngƣời.
Thuật ngữ công nghệ đƣợc sử dụng để chỉ các hoạt động ứng dụng
những kiến thức là kết quả nghiên cứu khoa học ở mọi lĩnh vực nhằm mang
12


lại hiệu quả cao trong hoạt động của con ngƣời. Khái niệm công nghệ này dần
đƣợc chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên thế giới nhƣng việc đƣa ra định
nghĩa công nghệ lại chƣa có sự thống nhất.
Theo OECD (1996): “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình
và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, thiết
bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung
cấp dịch vụ”. [27;34]
Với định nghĩa trên thì công nghệ là một tập hợp của phần cứng và
phần mềm, bao gồm 4 dạng cơ bản:
- Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản
phẩm hoàn chỉnh…).
- Dạng con ngƣời (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm).
- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phƣơng pháp, dữ liệu thích hợp…
đƣợc mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu…).
- Dạng thiết kế tổ chức (dịch vụ, phƣơng tiện truyền bá, công ty tƣ vấn,
cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp…).
Định nghĩa về công nghệ của OECD đƣợc coi là bƣớc ngoặt trong quan
niệm về công nghệ. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới
dùng công nghệ mà khái niệm công nghệ đƣợc mở rộng ra tất cả lĩnh vực hoạt
động xã hội.

chấ t/thông tin, gồ m: Phầ n cứng và Phầ n mề m”.
Khái niệm 3 (Mô hình Sharif ) Sharif Nawaz (1983): “Công nghê ̣ là
một cơ thể (hê ̣ thố ng) tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc thông tin về
phương tiê ̣n và phương pháp chế biế n vật chấ t và /hoặc thông tin. Công nghệ
gồm 4 yếu tố: Kỹ thuật (Technoware); Thông tin (Inforware); Con người
(Humanware); Tổ chức (Orgaware)”. [28;17]
Ở Việt Nam, cách phổ biến nhất hiện nay, phù hợp với các quan điểm,
chính sách phát triển và quản lý công nghệ, đớ là khái niệm về công nghệ đã
đƣợc quy định tại Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ.
Luật Khoa học và Công nghệ (2013), đƣa ra định nghĩa công nghệ:
“Công là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm
theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
Trong Luật Chuyển giao công nghệ (2006), công nghệ đƣợc hiểu là:
“Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm
công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.
Định nghĩa của tác giả Luận văn:
14


Từ những phân tích ở trên, tác giả Luận văn sử dụng định nghĩa: Công
nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm
theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
1.1.3. Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ
Hoạt động khoa học và công nghệ là thuật ngữ đƣợc sử dụng trong các
văn kiện chính sách khoa học và công nghệ của UNESCO từ thập niên 1970.
Theo UNESCO, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm:
- Hoạt động nghiên cứu và triển khai.
- Chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ.
- Hoạt động phát triển công nghệ, bao gồm mở rộng công nghệ, nâng
cấp công nghệ và đổi mới công nghệ.

trƣơng đó đã thúc đẩy và tạo điều kiện các ngành các cấp, các tầng lớp tri
thức, sinh viên, doanh nhân, kể cả nông dân, nghệ nhân, chủ trang trại,…
nghiên cứu ứng dụng tri thức khoa học, kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công
nghệ với tinh thần làm giàu cho mình, cho quê hƣơng, cải thiện điều kiện lao
động, mới có giá trị cao, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Doanh nghiệp đã trở
thành chủ thể của đổi mới công nghệ, nhân tố quan trọng trong hệ thống đổi
mới quốc gia.
1.2. Đầu tƣ cho khoa học và công nghệ
1.2.1. Nguồn vốn cho khoa học và công nghệ
Xét trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế nguồn vốn đầu tƣ nói chung và
đầu tƣ cho khoa học và công nghệ nói riêng bao gồm nguồn vốn đầu tƣ trong
nƣớc và nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc
bao gồm hai nguồn vốn chính là nguồn vốn nhà nƣớc và nguồn vốn của dân
cƣ và tƣ nhân. Nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc là một bộ phận quan trọng của
nguồn vốn nhà nƣớc có vai trò nhất định.
Vốn ngân sách Nhà nƣớc là nguồn vốn mà Nhà nƣớc bỏ ra cho các
công cuộc đầu tƣ. Chi cho các địa phƣơng để tiến hành các hoạt động của
mình trong đó có hoạt động đầu tƣ nói chung và đầu tƣ cho khoa học và công
nghệ nói riêng.
Nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc là nguồn chi của ngân sách Nhà nƣớc
cho đầu tƣ. Là một nguồn vốn đầu tƣ quan trọng trong chiến lƣợc phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thƣờng đƣợc sử dụng cho
16


các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các
dự án của doanh nghiệp đầu tƣ vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nƣớc,
chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và phát triển nông
thôn.

Thứ nhất, đối tƣợng đầu tƣ không chỉ đơn thuần thuộc lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh để nhà đầu tƣ trực tiếp thu lợi nhuận, thu đƣợc một giá trị
lớn hơn giá trị vốn đã bỏ ra, mà khoản đầu tƣ này còn lấy đối tƣợng là phục
vụ cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai tìm kiếm, phát hiện tri thức mới
và vận dụng những tri thức đó vào việc tạo ra những phƣơng tiện, phƣơng
pháp mới thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lƣợng cuộc sống xã hội. Nó
không là bộ phận đầu tƣ trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lƣu động,
mà là là bộ phận đầu tƣ để tăng năng lực sản xuất và để nâng cao chất lƣợng
của sự tăng trƣởng. Đầu tƣ cho phát triển khoa học và công nghệ thực chất là
đầu tƣ cho phát triển tri thức. Bởi vậy, đây là hình thức đầu tƣ có tính “sống
còn” trong việc nâng cao năng suất lao động của từng doanh nghiệp cũng nhƣ
thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế của một quốc gia.
Thứ hai, xét theo chu trình nghiên cứu và triển khai đến sản xuất hàng
loạt, thì hoạt động khoa học và công nghệ nằm trong giai đoạn trƣớc khi đƣa
ra sản xuất đại trà, hàng loạt.
Theo cách tiếp cận này, đầu ra của các đề tài, dự án khoa học và công
nghệ mới chỉ dừng lại ở sản phẩm loạt nhỏ.
Sản phẩm của đề tài, dự án khoa học và công nghệ có thể là tri thức
mới, là công nghệ hoàn chỉnh với đầy đủ tính năng mong muốn và có khả
năng thƣơng mại hóa. Sản phẩm của khoa học và công nghệ thực chất là tri
thức, chất xám nên khó lƣợng định, đƣợc thể hiện dƣới dạng vật chất hữu
hình nhƣ bằng sáng chế hoặc vô hình dƣới dạng ý tƣởng công nghệ. Việc xác
định giá trị của hàng hóa này là điều rất khó, do lao động sáng tạo ra hàng hóa
là lao động trí óc. Thực tế cho thấy, sự thành công trong việc tạo ra tri thức,
công nghệ và khả năng chuyển giao, thƣơng mại hóa phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố: kinh tế, kỹ thuật, tài chính, xã hội, v.v... Điều này có nghĩa là đầu tƣ
vào các đề tài, dự án khoa học và công nghệ thƣờng có độ mạo hiểm và rủi ro

18


nghệ nào mà xã hội có nhu cầu. Theo quy luật về dòng chảy của các nguồn
19


vốn đầu tƣ sản xuất, kinh doanh, thì sức cầu là một yếu tố quyết định việc chủ
kinh tế nên đầu tƣ vào dự án khoa học và công nghệ nào và mức độ nhiều hay
ít. Bởi vì loại vốn đầu tƣ này cũng tìm kiếm lợi nhuận. Nó sẽ vận động từ nơi
hoạt động đầu tƣ kém hiệu quả đến nơi hoạt động đầu tƣ có hiệu quả hơn.
Trên thị trƣờng công nghệ, sự cạnh tranh giữa các cơ sở khoa học với
tƣ cách là ngƣời bán (nghiên cứu, tìm kiếm sản phẩm tốt nhất phục vụ khách
hàng), và cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp với tƣ cách là ngƣời mua (lựa
chọn sản phẩm tốt nhất của các cơ sở khoa học phục vụ mục tiêu phát triển).
Điều đó có nghĩa là trong kinh tế thị trƣờng, đầu tƣ cho phát triển khoa học và
công nghệ không chỉ đơn thuần là công việc đƣợc Nhà nƣớc bao cấp nhƣ đã
hiểu và làm trƣớc đây ở nƣớc ta. Đầu tƣ cho khoa học và công nghệ trƣớc hết
phải là hoạt động đầu tƣ cho sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp
không phân biệt thuộc thành phần kinh tế nào trong cơ chế thị trƣờng. Vì
khoản đầu tƣ này gắn với lợi ích thiết thân của mỗi chủ kinh tế.
Tuy nhiên, đầu tƣ vào khoa học và công nghệ không chỉ đơn thuần là vì
bản thân khoa học và công nghệ, mà sâu xa hơn là vì đầu tƣ đó có đem lại cho
chủ sản xuất kinh doanh một hàng hóa và dịch vụ nào đó có chi phí thấp hơn
và có chất lƣợng sản phẩm cao hơn năng lực hiện có hay không. Đầu tƣ cho
khoa học và công nghệ là khoản đầu tƣ phái sinh, chỉ xuất hiện khi có nhu cầu
đầu tƣ tạo sản phẩm mới hoặc làm tăng thêm năng lực sản xuất kinh doanh
của một hàng hóa, dịch vụ nào đó trên thị trƣờng.
Thứ tƣ, do hiệu quả của hoạt động khoa học và công nghệ có độ trễ
nhất định, không dễ thấy, nên việc đầu tƣ không thể đòi hỏi nhìn thấy hiệu
quả ngay lập tức. Đầu tƣ cho khoa học và công nghệ là đầu tƣ phát triển, đầu
tƣ cho tƣơng lai. Nghiên cứu đã mất nhiều thời gian, đƣa kết quả nghiên cứu
vào cuộc sống cũng cần có thời gian, để kết quả nghiên cứu phát huy hiệu quả

hình thức tín dụng, cổ phiếu, trái phiếu và quỹ đầu tƣ cũng là kênh dẫn vốn
thiết yếu cho hoạt động đầu tƣ này.
Tuy nhiên, do hoạt động khoa học và công nghệ có độ trễ, hiệu quả
hoạt động của nó là gián tiếp hoặc vô hình, nên sự hỗ trợ về tài chính của Nhà
nƣớc là rất cần thiết cho các hoạt động khoa học và công nghệ, nhất là đối với

21


các nghiên cứu cơ bản, có tính chất đột phá nhằm nâng cao tiềm lực khoa học
và công nghệ quốc gia.
Vốn đầu tƣ có tầm quan trọng đặc biệt. Nó là yếu tố vật chất trực tiếp
quyết định tốc độ tăng trƣởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ, cải thiện
môi trƣờng. Trên bình diện vĩ mô tất cả các chiến lƣợc, các chƣơng trình phát
triển kinh tế - xã hội đều rất cần đến vốn đầu tƣ. Đối với hoạt động khoa học
và công nghệ, vốn đầu tƣ có vai trò là điều kiện tiên quyết. Nếu không có
vốn, các dự án khoa học và công nghệ chỉ có thể dừng lại ở ý tƣởng và sự
mong muốn, chứ không thể trở thành hiện thực. Vốn đầu tƣ là điều kiện
không thể thiếu đƣợc để nâng cao năng lực khoa học và công nghệ của một
doanh nghiệp, một tổ chức và của một quốc gia.
1.2.2. Nguồn vốn ngoài ngân sách cho khoa học và công nghệ
Để khoa học và công nghệ nƣớc ta đạt trình độ tiên tiến trong khu vực,
mức đầu tƣ tối thiểu hàng năm cho khoa học và công nghệ phải trên 2% GDP.
Thế nhƣng, mức đầu tƣ những năm gần đây của nƣớc ta ở nƣớc ta còn rất
khiêm tốn so với các nƣớc trong vùng.
Ví dụ, năm 2006 nƣớc ta đầu tƣ 428 triệu USD cho khoa học và công
nghệ, chiếm khoảng 0,17% GDP toàn quốc. Trong khi đó, theo số liệu của
UNESCO, Singapore là nƣớc trong vùng có mức đầu tƣ cho khoa học và công
nghệ chiếm 2,2% GDP (tƣơng đƣơng 3,01 tỉ USD), Malaysia 0,5% GDP hay
1,54 tỉ USD, Thái Lan 0,3% GDP hay 1,79 tỉ USD. Theo số liệu năm 2004,

vụ của Nhà nƣớc.
- Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp
cho cấp địa phƣơng hƣởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ƣơng cho ngân
sách địa phƣơng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi của
cấp địa phƣơng.
- Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp
cho cấp trung ƣơng hƣởng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm
vụ chi của cấp trung ƣơng.
Đó là cách hiểu về ngân sách nhà nƣớc, còn nguồn vốn ngoài ngân
sách đầu tƣ cho khoa học và công nghệ là vốn của các tổ chức nghiên cứu
khoa học và công nghệ và của doanh nghiệp đƣợc hình thành từ phần trích lập
quỹ, do liên doanh liên kết hay thực hiện các hợp đồng về nghiên cứu và
23


chuyển giao công nghệ; vốn vay ngân hàng theo các quy định của pháp luật;
viện trợ của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ và các cá nhân trong và
ngoài nƣớc.
Đến nay, mức vốn thu hút cho đầu tƣ phát triển khoa học và công nghệ
đã đạt khoảng 0,65% GDP, trong đó vốn Nhà nƣớc đã bảo đảm mức chi bằng
0,52% GDP (tƣơng đƣơng 2% tổng chi ngân sách Nhà nƣớc), còn mức đầu tƣ
cho khoa học và công nghệ từ vốn ngoài nhà nƣớc đạt khoảng 0,13% GDP.
Ngoài ra, việc thu hút đầu tƣ cho khoa học và công nghệ còn đƣợc thực
hiện từ các nguồn nƣớc ngoài với ba hình thức: hợp tác quốc tế về khoa học
và công nghệ theo Nghị định thƣ song phƣơng hay đa phƣơng; hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA); và đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI). Hiện nay, số
vốn thu hút từ nguồn nƣớc ngoài chƣa có số liệu thống kê cụ thể.
Nếu trƣớc đây, quy mô vốn đầu tƣ cho khoa học và công nghệ chỉ đƣợc
thực hiện bởi Nhà nƣớc, thì đến nay đã có khoảng 9-12% nguồn vốn cho khoa
học và công nghệ hàng năm đƣợc thu hút từ các nguồn khác ngoài ngân sách

dân huy động vốn, cùng có trách nhiệm chung khi đầu tƣ vào lĩnh vực
KH&CN phục vụ phát triển kinh tế địa phƣơng; tiếp tục đổi mới cơ chế quản
lý KH&CN nhƣ tăng nguồn thu ngân sách địa phƣơng, tăng tỷ lệ chi ngân
sách nhà nƣớc cho KH&CN, huy động các nguồn vốn của ngân sách Trung
ƣơng, sửa đổi và bổ sung mục lục ngân sách đảm bảo nội dung chi cho
KH&CN nhƣ một nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện; tiếp tục mở rộng
quy mô, hoàn thiện các quy định quản lý Quỹ Phát triển KH&CN nhƣ:
Khuyến khích đầu tƣ vốn mạo hiểm vào KH&CN; huy động các nguồn vốn
ngoài ngân sách nhà nƣớc nhƣ vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, vốn từ các thành phần
kinh tế và các tầng lớp dân cƣ trong nƣớc...
1.3. Các thể chế liên quan trực tiếp đến nguồn vốn ngoài ngân sách cho
khoa học và công nghệ
1.3.1. Thị trường công nghệ
Thị trƣờng công nghệ là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, có vai trò then chốt trong việc tạo môi
trƣờng thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực
khoa học và công nghệ quốc gia phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất
nƣớc. Để hình thành và phát triển thị trƣờng này, trong những năm qua, một
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status