Năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP quốc tế việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

HOÀNG TUẤN ANH

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM TRONG ĐIỀU
KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai

Hà Nội, 2007
1


LỜI NÓI ĐẦU
1.

Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra nhanh

chóng, quyết liệt và trở thành xu thế phát triển không thể đảo ngược của nền kinh
tế thế giới hiện nay. Trong quá trình này, sự liên kết phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế trên thế giới nói chung và giữa các thành phần trong nền kinh tế của
mỗi quốc gia nói riêng đang ngày một gia tăng, được thể hiện ở xu hướng tăng
cường các hoạt động hợp tác song phương, đa phương và các cấp độ liên kết khu
vực.
Nhận thức rõ xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã
xác đinh rõ sự cần thiết phải tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Hội
nhập kinh tế quốc tế đã và đang tiếp tục được khẳng định là một nội dung quan
trọng trong công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay và được thực hiện với quy

các đối tác trong và ngoài nước trong việc chuyển giao công nghệ, phát triển sản
phẩm và khai thác thị trường.
Dưới sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, các
dịch vụ ngân hàng phát triển rất nhanh và có chất lượng hơn, đặc biệt là các dịch
vụ ngân hàng có hàm lượng công nghệ cao. Qua đó, uy tín và vị thế của NHTM sẽ
được nâng lên, ít nhất là ở thị trường khu vực và từ đó sẽ góp phần thúc đẩy sự
phát triển của khu vực tài chính, khơi thông dòng vốn, các NHTM trong nước có
khả năng huy động các nguồn vốn từ thị trường tài chính quốc tế và sử dụng vốn
có hiệu quả hơn để giảm thiểu rủi ro và các chi phí cơ hội.
Theo lộ trình ra nhập WTO thì kể từ ngày 1/4/2007 Việt nam cho phép ngân
hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập và đi vào hoạt động tại thị trường Việt
Nam. Các ngân hàng 100% vốn nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài
có năng lực tài chính mạnh, có kinh nghiệm quản lý rủi ro tốt và đặc biệt có quy
trình nghiệp vụ chuẩn mực tiên tiến và công nghệ hơn hẳn các Ngân hàng Thương
mại trong nước. Đó sẽ là một thách thức lớn đối với hệ thống NHTM Việt nam,
đặc biệt là hệ thống Ngân hàng TMCP.
Trong khi đó, các ngân hàng TMCP trong nước chiếm tỷ trọng rất nhỏ (tính
đến tháng 06/2006 thì Việt nam có 37 ngân hàng TMCP và chiếm khoảng 20% thị
3


phần NHTM trong nước) và hầu hết nằm ở mức độ thấp về công nghệ, quy mô
vốn nhỏ, trình độ quản lý rủi ro còn nhiều hạn chế, các sản phẩm dịch vụ còn đơn
điệu, chất lượng chưa cao và còn nặng về dịch vụ ngân hàng truyền thống. Huy
động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi(chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động) và
cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu(chiếm trên 80% tổng thu nhập).
Trước tình hình đó, nâng cao NLCT của các Ngân hàng TMCP Việt nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu hết sức thực tế và cấp thiết. Để
nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Năng lực canh
tranh của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh

gia Hà nội, năm 2004. Công trình này đã phân tích thực trạng khả năng
cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp giải
4


pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
-

Lê Đình Hạc_Luận án Tiến sỹ Kinh tế “ Giải pháp nâng cao NLCT của các
NHTM Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế “_ĐH Kinh tế Hồ
Chí Minh năm 2005. Công trình nghiên cứu này đã nghiên cứu hoạt động
của NHTM trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế. Thực trạng năng lực cạnh tranh và giải pháp nâng cao NLCT của các
NHTM Việt Nam.

-

Trịnh Quốc Trung_Luận án Tiến sỹ Kinh tế “Các giải pháp nâng cao NLCT
và hội nhập của các NHTM”_Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh , năm 2004.
Công trình này đã nghiên cứu những lí luận chung về NHTM, thực trạng
cạnh tranh và hội nhập quốc tế của các NHTM Việt Nam trong thời gian qua.
Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của NHTM Việt
Nam đến năm 2010.
Các nghiên cứu trên đây đều tập trung vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá

một cách chung nhất về những cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu và khả
năng cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Tuy nhiên, vẫn cần phải có những nghiên cứu sâu, nhận thức một cách
toàn diện và có những đánh giá cụ thể, chi tiết về năng lực cạnh tranh của một

Nam.

-

Đề xuất một số giải pháp nâng cao NLCT của Ngân hàng TMCP Quốc Tế
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1

Đối tƣợng nghiên cứu
Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến nâng

cao NLCT của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế.
4.2
-

Phạm vi nghiên cứu
Về không gian:
÷

Luận văn tập trung vào nghiên cứu NLCT của hệ thống NHTM Việt
Nam và đồng thời luận văn cũng khảo sát một số khía cạnh về năng lực
cạnh tranh của một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

÷

NHTM cổ phần trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

-

Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức của Ngân hàng
TMCP Quốc Tế Việt Nam

-

Đề xuất các giải pháp khắc phục những điểm yếu, điểm hạn chế để nâng cao
NLCT của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam và đưa Ngân hàng TMCP
Quốc Tế Việt Nam vượt qua những thách thức tụt hậu khi Việt nam ra nhập
WTO.

7.

Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1:
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
Thương mại.
Chƣơng 2:
Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam.
Chương 3:
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP
Quốc Tế Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

7


1997, NHTM được định nghĩa là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận,
góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Như vậy, một cách chung nhất có thể thấy NHTM là một doanh nghiệp đặc
biệt hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng.
8


1.1.2

Các sản phẩm cung ứng của NHTM
Hiện nay ở nước ta , chưa có sự thống nhất về danh mục các chỉ tiêu về dịch

vụ ngân hàng và cũng chưa có công trình nghiên cứu điều tra thống kê về dịch vụ
ngân hàng. Theo một số tác giả, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía
cạnh: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung ứng
dịch vụ cho nền kinh tế. Quan niệm này phù hợp với phân ngành dịch vụ ngân
hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định Thương mại Việt Nam –
Hoa Kỳ, cũng như nhiều nước phát triển. Còn theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng
chỉ bao gồm các hoạt động chức năng của định chế tài chính trung gian huy động
vốn và cho vay.
Ở nước ta lĩnh vực dịch vụ ngân hàng được Luật Các tổ chức tín dụng( tại
khoản 1 và khoản 7, điều 20) quy định nhưng không định nghĩa và giải thích. Cụm
từ “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao trùm cả ba nội
dung: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Trong phạm vi
luận văn này, tác giả chia dịch vụ ngân hàng thành hai mảng, đó là: các sản phẩm
dịch vụ truyền thống và các sản phẩm dịch vụ hiện đại.
Các sản phẩm truyền thống:
-

mua bán hàng hoá và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được
xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi
vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch
kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
-

Thực hiện trao đổi ngoại tệ: Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ

ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ và hưởng phí dịch vụ. Sự
trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và
thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố mà họ đến.
Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các Ngân
hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có độ rủi ro cao, đồng thời
yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
-

Chiết khấu thương phiếu: Ngay ở thời kỳ đầu các ngân hàng đã chiết khấu

thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương, những
người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của các khách hàng cho ngân hàng để
lấy tiền mặt.
- Cho vay và đầu tư:
 Cho vay kinh doanh: Các NHTM cho các doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn
và trung dài hạn để bổ sung vốn kinh doanh. Các khoản vay ngắn hạn
thường có mục đích bổ sung vốn lưu động với các hình thức như thấu chi,
cho vay trực tiếp từng lần và cho vay luân chuyển; trong khi các khoản vay
trung dài hạn thường dùng để đầu tư vào tài sản cố định như mua sắm máy
móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay thực hiện các dự án.

10

người được uỷ thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng
cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả và đảm bảo
cho người thừa kế hợp pháp việc nhận được khoản thừa kế. Trong phòng uỷ thác
thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền
lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại
11


KẾT LUẬN
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu và không thể đảo ngược. Tiến
trình đó đang tạo áp lực lớn lên hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt
nam nói chung và hệ thống ngân hàng TMCP nói riêng. Cơ hội cũng nhiều nhưng
khó khăn, thách thức cũng lớn, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt ấy, ngân hàng
Quốc Tế cũng không thể “chậm chễ” đứng ngoài cuộc.
Mặc dù đã có những chính sách thúc đẩy năng lực cạnh tranh trong thời
gian qua, nhưng qua phân tích cho thấy năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Quốc
Tế vẫn còn nhiều hạn chế so với một số NHTM Nhà nước, ngân hàng TMCP
trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Để nâng cao
nâng lực cạnh tranh cho Ngân hàng Quốc Tế thì đòi hỏi phái có những giải pháp
đồng bộ từ cả phía Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là những giải pháp
từ chính Ngân hàng Quốc Tế.
Xuất phát từ sự cần thiết đó tôi đã chọn đề tài “ Năng lực canh tranh của
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”
và đề tài tập trung vào những vấn đề sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về NHTM, NLCT của các NHTM.
- Phân tích thực trạng về NLCT của Ngân hàng Quốc Tế Việt, đề tài cũng
nêu ra điểm hạn chế về NLCT của Ngân hàng Quốc Tế, đồng thời cũng chỉ ra
nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao NLCT của Ngân hàng Quốc Tế
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có giải pháp từ phía Ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status