Học viện chính trị - hành chính quốc gia hồ chí minh
----------------
báo cáo tổng hợp
kết quả nghiên cứu khoa học
Đề tài khoa học cấp bộ năm 2008
Đề tài :
Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế
toàn cầu hóa và những vấn đề đặt ra đối
với việt nam giai đoạn hiện nay
Cơ quan chủ trì : Học viện CT-HCQG Hồ CHí MINH
Chủ nhiệm đề tài : Phan Văn Rân
7245
26/3/2009
Hà Nội - 2008
Mục lục
Mở đầu ..........................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ...................................... 11
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài................................... 18
4. Phơng pháp nghiên cứu ................................................................. 20
5. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài............................................ 21
Quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn
cầu hóa và vấn đề đặt ra đối với việt nam ........................................23
trong giai đoạn hiện nay Tài liệu tham khảo XU THế Toàn
cầu hoá và những vấn đề mới đặt ra đối với việc bảo vệ chủ
quyền nhà nớc dân tộc ................................................................................92
I. Toàn cầu hoá và bản chất của toàn cầu hoá trong giai đoạn hiện
nay........................................................................................................... 92
1.1. Toàn cầu hoá là gì ? ..................................................................... 92
1.2. Về bản chất của toàn cầu hoá, hay là về tính hai mặt của toàn cầu
hóa trong giai đoạn hiện nay ............................................................... 96
II. Tác động của xu thế toàn cầu hoá đến các nhà nớc dân tộc
(nation state), hay những vấn đề mới đặt ra đối với việc bảo vệ chủ
quyền nhà nớc dân tộc, đặc biệt là các nớc đang phát triển dới
tác động của xu thế toàn cầu hoá....................................................... 101
2.1. Những tác động tích cực của toàn cầu hoá và những cơ hội mới,
thuận lợi mới đối với việc bảo vệ chủ quyền nhà nớc dân tộc của các
nớc đang phát triển .......................................................................... 101
2.2. Những tác động tiêu cực và những thách thức mới, những vấn đề
mới mà toàn cầu hoá đặt ra đối với việc bảo vệ chủ quyền nhà nớc
dân tộc, nhất là với các nớc đang phát triển .................................... 106
tài liệu tham khảo ..........................................................................................114
290
Một số nội dung cơ bản về chủ quyền quốc gia dân tộc
trong xu thế toàn cầu hóa Đối sách của các nớc nhằm bảo
vệ chủ quyền quốc gia dân tộc dới tác động của xu thế
toàn cầu hoá .......................................................................................................126
1. Đối sách của các nớc XHCN còn lại........................................... 127
Tác động của toàn cấu hoà đối với con đờng đi lên chủ
nghĩa x hội ở Việt Nam ................................................................................215
1. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội:
con đờng tất yếu của cách mạng Việt Nam. ................................... 215
2. Toàn cầu hoá kinh tế - một trong những khả năng khách quan cho
sự quá độ lên CNXH của cách mạng Việt Nam................................ 218
3. Quan điểm, chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta trong việc khai
thác có hiệu quả những mặt tích cực của TCH phục vụ sự nghiệp cách
mạng XHCN...................................................................................... 222
Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về độc lập dân tộc, chủ quyền
quốc gia trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế .............231
1. Quan điểm của Đảng và Nhà nớc về độc lập dân tộc hiện nay... 231
2. Quan điểm của Đảng và Nhà nớc về bảo vệ độc lập dân tộc, chủ
quyền quốc gia trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ...... 236
Tài liệu tham khảo ..........................................................................................256
Quá trình thực hiện chủ trơng bảo vệ chủ quyền Quốc gia dân tộc trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ở nớc ta ....258
I. Chủ trơng bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế của Đảng........................................................... 258
1. Một số quan điểm về chủ quyền quốc gia trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế ................................................................................... 258
2. Quan điểm của Đảng ta về chủ quyền quốc gia trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế .......................................................................... 264
II. Bảo vệ chủ quyền quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 268
1.Trong lĩnh vực kinh tế .................................................................... 268
2. Trong lĩnh vực an ninh chính trị.................................................... 274
3. Trong lĩnh vực văn hóa.................................................................. 278
TCH kinh tế là một đòi hỏi khách quan của lịch sử, là xu thế tất yếu
trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. Nhng nó cũng
kèm theo một hệ quả khó tránh khỏi là làm phai mờ dần các đờng biên
giới quốc gia, phá vỡ hàng rào ngăn cách giữa các nớc và thúc đẩy các
1
quốc gia thâm nhập, phụ thuộc lẫn nhau. Đồng thời, nó buộc các nớc phải
tìm cách thích ứng với tình hình, áp dụng các thành tựu của sự phát triển
nền kinh tế thế giới để hoà nhập trên cơ sở duy trì, củng cố, bảo vệ lợi ích
và bản sắc của dân tộc mình. Trong một thế giới mà sự phát triển không đều
là một quy luật thì mặt tích cực và tiêu cực của TCH lẽ dĩ nhiên cũng tác
động không đều đến các nớc với những hình thức và mức độ khác nhau.
Quá trình tự do hoá thơng mại, đầu t, sự mở rộng của thị trờng tài chính
- tiền tệ thế giới và sự hoạt động ngày càng mạnh mẽ của các công ty xuyên
quốc gia đã dẫn đến những biến đổi lớn về địa vị, tính chất, vai trò và năng
lực của các quốc gia trên trờng quốc tế, tức là động chạm đến lợi ích và
chủ quyền của các quốc gia - dân tộc. Theo một số nhà nghiên cứu, trong
tơng lai gần, các thể chế toàn cầu, các khối kinh tế, các công ty xuyên
quốc gia sẽ phát triển mạnh mẽ và trong tơng lai xa chúng sẽ quyết định
các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến lúc đó, các thể chế nhà nớc quốc gia dân tộc sẽ thực sự bị lu mờ. Điều này có trở thành hiện thực hay không?
Vấn đề đó cha có câu trả lời chắc chắn. Nhng có thể khẳng định một điều
là dới tác động của TCH, bản chất chủ quyền quốc gia dân tộc ít nhiều
đang có sự biến đổi, thể chế quốc tế lấy chủ nghĩa quốc gia làm bản vị đang
bị thách thức. Điều đó đợc biểu hiện trên các lĩnh vực sau:
- Trong lĩnh vực thơng mại, trớc đây khi các hàng rào buôn bán
còn cao, các chính phủ có thể phân biệt rõ ràng các chính sách quốc tế và
chính sách trong nớc. Các chính sách quốc tế xử lý các hàng rào buôn bán
ngoài biên giới, còn các chính phủ đều có chủ quyền hoàn toàn đối với các
chính sách trong nớc mà không ảnh hởng đến các nớc khác. Ngày nay,
cả các mẫu quốc "về thuế, di chuyển vốn, xuất khẩu kỹ thuật, tạo công ăn
việc làm làm cho bản thân chủ quyền của "mẫu quốc" cũng bị sứt mẻ.
- Trong lĩnh vực đầu t, một vấn đề nổi bật đợc nhiều nớc (đặc biệt
là các nớc đang phát triển) quan tâm. Đó là các nớc thành viên của Tổ
chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đang đi đến thoả thuận ký kết
Hiệp định đa phơng về đầu t (AMI). Khi Hiệp định này có hiệu lực, các
công ty xuyên quốc gia sẽ có nhiều quyền lực hơn.Thậm chí các chính phủ
3
phải nhờng một phần chủ quyền quốc gia cho họ. Hiệp định thừa nhận vốn
của các tập đoàn xuyên quốc có giá trị hơn và tự do lu thông hơn so với
vốn của chính phủ và địa phơng nhận đầu t. Nó sẽ mở ra một phạm vi rất
rộng, bảo đảm cho các công ty xuyên quốc gia không bị sự can thiệp của
các chính phủ trung ơng và chính quyền địa phơng các cấp ở nớc sở tại
trên các mặt nh mua, bán và tự chuyển dịch tài sản. Do vậy, có thể coi bản
Hiệp định này nh một bản "Hiến pháp kinh tế toàn cầu", tạo ra sự tự do lu
thông nguồn vốn mà không bị bất kỳ một sự ràng buộc nào.
Nh vậy, Hiệp định đầu t đa phơng sẽ tạo điều kiện cho các nớc
(đặc biệt là các nớc đang phát triển) có khả năng thu hút đợc nhiều vốn
đầu t nớc ngoài hơn. Nhng rõ ràng Hiệp định cũng làm hạn chế một
phần chủ quyền và mâu thuẫn với pháp luật, quy chế của nhiều quốc gia và
khu vực. Một nớc khi tham gia ký kết AMI sẽ tự từ bỏ sự kiểm soát vốn
đầu t đợc thực hiện trên lãnh thổ của mình. Một nhóm các công ty xuyên
quốc gia có thể xây dựng các nhà máy, mua đất đặt ở cái mà họ muốn, thu
về toàn bộ bất động sản mà họ quan tâm; khai thác các khoáng sản sinh lợi
của công dân các nớc nhận đầu t. Đến lúc đó các quốc gia bị hạn chế khả
năng kiểm soát cũng nh tự bảo vệ (điều này thể hiện trên tất cả các lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội) Các công ty xuyên quốc gia dới sự bảo trợ
tộc của mỗi nớc bị sự tấn công, gặm nhấm của các giá trị văn hoá bên
ngoài. Cha bao giờ văn hoá nhân loại lại đứng trớc một nghịch lý phức
tạp nh trong kỷ nguyên TCH hiện nay: vừa có khả năng giao lu rộng mở,
vừa có nguy cơ bị nghèo văn hoá rất nghiêm trọng. Mu đồ dùng văn hoá
Mỹ, văn hoá phơng Tây thống trị toàn thế giới đã đợc nhiều chính khách
quốc tế xác định là biểu hiện của CNĐQ về văn hoá. Thế lực này, cũng nh
các loại CNĐQ về kinh tế và chính trị, đang là nguy cơ đe doạ sự sống còn
và phát triển của mọi cộng đồng, quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Xét dới góc độ chủ quyền, an ninh quốc gia và nền ĐLDT, TCH
trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI tiếp tục đặt ra hàng loạt các vấn đề cần
nghiên cứu làm rõ. Dới tác động của TCH, quan niệm ĐLDT, chủ quyền
và quốc gia ngày càng gắn bó chặt chẽ với quan niệm tổng thể về an ninh
quốc gia. Theo đó, an ninh của mỗi quốc gia không chỉ là sự tồn tại của
quốc gia với t cách là một chủ thể chính trị độc lập, có chủ quyền trong hệ
5
thống quốc tế, mà còn đợc hiểu là quốc gia đó đợc bảo vệ khỏi những đe
doạ, sự tiến công xâm lợc, những hiểm hoạ cả từ bên ngoài lẫn từ bên
trong mỗi quốc gia. Các mối hiểm hoạ hay đe doạ rất đa dạng và mang bản
chất khác nhau có thể thuộc loại chính trị, quân sự, kinh tế hay văn hoá, xã
hội, môi trờng.. An ninh quốc gia ngày càng đợc nhìn nhận nh một tổng
thể của các lĩnh vực chủ yếu gồm an ninh quân sự, an ninh chính trị, an
ninh kinh tế, an ninh văn hoá, an ninh môi trờng, an ninh con ngời
Trên phơng diện chính trị, TCH đặt ra những vấn đề phải xử lý liên
quan đến độc lập chủ quyền chính trị, đến hệ thống chính trị và các thiết
chế xã hội của các nớc. Tính độc lập của quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự
gia tăng tuỳ thuộc lẫn nhau giữa họ, bởi sự hạn chế thẩm quyền và khả năng
hành xử theo ý chí của riêng mỗi quốc gia. Sự ổn định của hệ thống chính
trị và các thiết chế xã hội sẽ luôn chịu áp lực của quá trình tự do hoá thơng
với ít nhất bốn mối đe doạ và thách thức không ít nan giải.
Thứ nhất, chủ nghĩa thực dân kinh tế mới trỗi dậy, an ninh kinh tế
quốc gia ngày càng nổi bật. TCH kinh tế có thể thúc đẩy sự phân phối lý
các yếu tố sản xuất, tạo ra những điều kiện có lợi cho nền kinh tế các nớc
bổ trợ nhau và phát triển không ngừng, nhng ảnh hởng tiêu cực cũng khó
tránh khỏi và không thể xem nhẹ. Trong quá trình TCH, do các nớc phát
triển chiếm vị trí chủ đạo, các nớc ĐPT thờng phải chấp nhận một số
điều kiện không bình đẳng, không công bằng, biểu hiện nổi bật nhất là "chủ
nghĩa thực dân kinh tế mới" trỗi dậy. Các nớc phát triển phơng Tây thực
hiện chính sách "chính trị hoá kinh tế", lợi dụng các tổ chức quốc tế nh
WTO, IMF và WB để giành lợi ích kinh tế cao hoặc can thiệp vào công việc
nội bộ nớc khác, thậm chí dùng những biện pháp rút viện trợ và vốn đầu
t, gây khủng hoảng, kiềm chế kinh tế các nớc ĐPT. Trong hệ thống phân
công quốc tế, các nớc ĐPT ở vành đai ngoại vi dễ tiếp nhận những ngành
nghề cấp thấp từ các nớc phát triển, dẫn đến tính đơn nhất và tính phụ
thuộc của kết cấu ngành nghề, thị trờng, các nớc ĐPT dễ bị các nớc phát
triển lấn át. Trong tình hình hệ thống tiền tệ thiếu hoàn thiện và khả năng
đối phó tơng đối kém, các nớc ĐPT có thể tạo ra điều kiện đầu cơ cho
những hành động vụ lợi của t bản tài chính quốc tế trên phạm vi thế giới.
7
Thứ hai, cạnh tranh khoa học kỹ thuật (KHKT) ngày càng gay gắt,
khiến cho an ninh KHKT của quốc gia ngày càng quan trọng nổi bật. Mặc
dù, chiến tranh lạnh kết thúc, giữa các nớc lớn đã tăng cờng hợp tác và
giao lu, nhng cuộc chạy đua nội lực tổng hợp lấy KHKT làm tiên phong,
kinh tế làm nền tảng ngày càng diễn ra dữ dội, TCH trở thành "chất xúc
tác" của cuộc cạnh tranh gay gắt ấy, ảnh hởng kép của KHKT đối với an
ninh quốc gia càng bộc lộ rõ, Một mặt, KHKT là lực lợng sản xuất
suy yếu nhân tố hội tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, phá hoại sự ổn định
chính trị xã hội của các nớc khác.
Thứ t, sự suy thoái môi trờng đi đôi với tiến trình TCH khiến cho
an ninh sinh thái của các nớc, nhất là các nớc ĐPT trở nên nóng bỏng và
nhức nhối hơn. TCH kinh tế có nghĩa là một sự chuyển dịch lớn trong phân
công lao động quốc tế. Các nớc phát triển tập trung vào các ngành kinh tế
tri thức không ô nhiễm có lợi nhuận cao, còn các nớc ĐPT trở thành khu
vực chủ yếu sản xuất các chế phẩm công nghiệp và sản phẩm vật chất từ tài
nguyên, nên trở thành nạn nhân chủ yếu phải trả giá cho môi trờng toàn
cầu. Trong tiến trình TCH hai thập niên tới, sự phát triển của các nớc phát
triển vẫn phụ thuộc vào tài nguyên, thị trờng, hàng hoá và sức lao động với
giá rẻ của các nớc ĐPT, cho nên sự phát triển ấy tạo ra sự xuống cấp của
môi trờng sinh thái loài ngời, thể hiện chủ yếu ở tình trạng các nguồn tài
nguyên sinh tồn của con ngời thiếu thốn về số lợng (nớc, dầu mỏ, than
và các kim loại quý hiếm ngày càng cạn kiệt), giảm sút về chất lợng (đất
đai thoái hoá, cây cối bị phá hoại và ảnh hởng của nó đối với khí hậu).
Nguy cơ bị xâm lợc sinh thái đối với các nớc ĐPT tiếp tục hiện
hữu do việc các nớc phát triển chuyển những nhà máy sản xuất gây ô
nhiễm, có hại cho môi trờng và sức khoẻ con ngời sang, hoặc trực tiếp
xuất khẩu hay bán tháo rác thải công nghiệp có hại sang các nớc ĐPT. An
ninh môi trờng những thập nhiên đầu thế kỷ XXI sẽ trở thành một nội
dung quan trọng cấu thành an ninh quốc gia và tác động mạnh đến an ninh
chính trị, kinh tế, thơng mại, tài chính, KHKT v.v.
Những phân tích nêu trên cho thấy, TCH bên cạnh những mặt tích
cực, rõ ràng chứa đựng không ít nguy cơ, thách thức đối với chủ quyền
quốc gia - dân tộc, đặc biệt là đối với các nớc ĐPT. Những tác động tích
9
cực và tiêu cực do quá trình TCH tạo đối với từng quốc gia dân tộc đều tồn
không thật phù hợp với tất cả mọi ngời nhng điểm chung của các công
11
trình này đều chỉ rõ những mặt tích cực và tiêu cực của TCH. "TCH (một
mặt) thúc đẩy rất mạnh, rất nhanh sự phát triển và xã hội hoá của LLSX,
đa lại sự tăng trởng kinh tế cao. TCH tạo thêm những tiền đề rất quý cho
xã hội mới - hiện đại của con ngời". Mặt khác, "TCH làm trầm trọng thêm
sự bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách giàu - nghèo trong từng nớc và
giữa các nớc TCH làm cho mọi mặt hoạt động và đời sống con ngời
thêm kém an toàn, từ an toàn kinh tế, tài chính, văn hoá, xã hội, môi trờng,
đến an toàn chính trị; từ an toàn của từng con ngời, từng gia đình đến an
toàn quốc gia và an toàn của hệ thống kinh tế, tài chính tiền tệ toàn cầu
TCH có phần thu hẹp quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của các nhà
nớc - dân tộc, làm rung chuyển một nền tảng cực kỳ quan trọng của đời
sống các quốc gia".
Các giáo s Vô-lô-đin và Si-rô-cốp (Nga) trong công trình "Toàn cầu
hoá: nguồn gốc, xu thế, triển vọng" cho rằng "nghịch lý của TCH là sự
thờng xuyên xuất hiện và tái hiện mâu thuẫn giữa hai cơ sở nền tảng của
kết cấu thế giới: một mặt là nguyên tắc chủ quyền chính trị đợc thể hiện
trong nhà nớc - dân tộc và mặt khác là các giá trị chung của nhân loại hoặc
các điểm chủ yếu trong sự tồn tại của nhân loại làm nảy sinh một cách logic
từ quốc tế hoá các quá trình kinh tế, chính trị và văn hoá - t tởng và ý
định giải quyết mâu thuẫn đó về mặt lý luận biến thành quan niệm "chủ
nghĩa can thiệp mới" nghĩa là đe doạ đến chủ quyền quốc gia - dân tộc của
các nớc.
Cũng liên quan đến vấn đề này, nhiều công trình nghiên cứu của
nớc ngoài nh "Toàn cầu hoá - nghịch lý của thế giới t bản chủ nghĩa"
của Tôn Ngũ Viên, "Những mảng tối của toàn cầu hoá" (nhiều tác giả),
"Toàn cầu hoá các cuộc phản kháng" của Samir Amin và Francois
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chủ quyền, an ninh quốc gia và nền
ĐLDT trong xu thế TCH tiếp tục đặt ra hàng loạt vấn đề cần phải tiếp cận
và cần đợc bổ sung thêm nhiều nội dung mới. Quan niệm truyền thống
khẳng định nội dung cốt lõi của chủ quyền an ninh quốc gia và nền ĐLDT
bao gồm quyền bất khả xâm phạm về mọi lĩnh vực trong phạm vi quốc gia
(trong đó quan trọng nhất là chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và quyền lựa chọn
định hớng phát triển) và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế cho đến nay
vẫn còn giữ nguyên giá trị. Tuy nhiên, trong nền kinh tế TCH, quốc gia dân
tộc có chủ quyền không còn là nhân tố duy nhất có vai trò chế định chính
14
sách kinh tế mà là sự tồn tại đồng thời của 4 nhân tố đảm nhận vai trò này.
Đó là quốc gia dân tộc có chủ quyền; các khối kinh tế khu vực (ví dụ
ASEAN, EU); các thể chế kinh tế quốc tế (IMF, WB, WTO); các công
ty xuyên quốc gia. Các lực lợng này có ảnh hởng với nhau, ràng buộc,
hợp tác và xung đột với nhau, tác động đến an ninh, chủ quyền quốc gia và
nền ĐLDT. Dới góc độ chính trị, quá trình TCH đặt ra những vấn đề phải
xử lý liên quan chủ quyền quốc gia, nền ĐLDT, đến hệ thống chính trị và
các thiết chế xã hội. Tính độc lập của mỗi quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự
gia tăng tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, sự hạn chế thẩm quyền và
khả năng hành xử theo ý chí riêng của mỗi quốc gia.
- Về xu thế TCH:
Xét về nguồn gốc, bản chất của TCH, các nhà nghiên cứu Việt Nam
đều khẳng định: TCH là xu thế khách quan. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự
phát triển của LLSX, từ tính xã hội hoá của LLSX trên phạm vi quốc gia
và quốc tế, từ nền kinh tế thị trờng thế giới, từ sự phát triển mạnh mẽ của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, từ sự phát triển và tác động mạnh
mẽ của các công ty xuyên quốc gia. TCH là xu thế khách quan gắn liền
không ít khó khăn, thách thức và nguy cơ trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học tác động tích cực và tiêu cực,
thời cơ và thách thức của TCH phải đợc xem xét theo quan điểm biện
chứng. Nghĩa là, tiêu cực có thể chuyển thành tích cực và ngợc lại
Đồng thời mức độ và hiệu lực tác động của tích cực và tiêu cực trong quá
trình TCH đến đâu còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan, nhất là chính sách
của các quốc gia, các chính đảng cầm quyền, các nhà nớc (xu thế toàn
cầu hoá trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Nxb Chính trị quốc gia, H.
2007, tr. 53).
- Tác động của TCH kinh tế đối với chủ quyền an ninh quốc gia và
các thể chế chính trị.
Về vấn đề này, các công trình nghiên cứu đều khẳng định: "Xu thế
của qua trình TCH kinh tế đặt ra cả những cơ hội, thuận lợi và những trở
ngại, thách thức lớn trớc các nhà nớc dân tộc cũng nh chủ quyền an
ninh quốc gia.
16
Về cơ hội, nhiều nhà phân tích nêu lên rằng, quá trình TCH làm ra
đời và củng cố mạng lới dày đặc các thiết chế quốc tế, nhất là các tổ chức
quốc tế trong mọi lĩnh vực. Vai trò ngày càng tăng của các tổ chức quốc tế
trong quan hệ quốc tế góp phần hạn chế và giúp giải quyết xung đột giữa
các nớc, duy trì và củng cố hoà bình, an ninh quốc tế. Thông qua các thiết
chế và tổ chức này, các nớc, đặc biệt là các nớc vừa và nhỏ, có khả năng
bảo vệ tốt hơn lợi ích quốc gia cũng nh an ninh của mình và có vị thế ít bất
lợi hơn trong quan hệ với các nớc lớn. Bên cạnh đó, xu thế TCH cũng tạo
ra những cơ hội quan trọng (thị trờng, vốn, công nghệ, cạnh tranh nâng
cao hiệu quả kinh tế) mà các nớc có thể tận dụng để phát triển kinh tế xã hội, tạo cơ sở để bảo đảm an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, quá trình TCH cũng đặt các nớc trớc rất nhiều thách
gia của hầu hết các quốc gia. Đây đợc xem nh là một điều kiện để phát
triển đất nớc. Song tham gia vào quá trình này lại đặt các nớc, trớc hết
là các nớc ĐPT trớc thách thức lớn về chủ quyền quốc gia và nền ĐLDT.
Vậy làm thế nào để vừa tham gia hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, vữa
giữ vững chủ quyền quốc gia và nền ĐLDT. Một trong những nội dung
quan trọng của chủ quyền và ĐLDT là an ninh quốc gia. Trong xu thế TCH,
quan niệm an ninh quốc gia có những nội dung gì mới Đây là những vấn
đề mà thực tiễn đang đặt ra, cần có một công trình nghiên cứu toàn diện từ
cơ sở lý luận đến những phân tích thực tiễn. Trên cơ sở giải quyết đúng đắn
các vấn đề này, đề tài sẽ đề xuất một số kiến nghị, giải pháp để vừa thực
hiện có hiệu quả chủ trơng chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,
khai thác tối đa nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất
nớc, đồng thời "kiên quyết làm thất bại các âm mu, hành động xuyên tạc
và lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" hòng
can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam" nh Văn kiện Đại hội
X của Đảng đã xác định.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu bao gồm nhiều nội dung với những vấn đề ở các
cấp độ phức tạp khác nhau. Do đó, việc xác định mục tiêu nghiên cứu của
đề tài phải đảm bảo những yêu cầu sau:
18
- Phù hợp với tên đề tài
- Đảm bảo đúng thời gian cho phép (1 năm), nguồn kinh phí (100
triệu đồng), lực lợng nghiên cứu (ở mục a của hồ sơ) và giới hạn phạm vi
nghiên cứu.
- Đảm bảo tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu (đợc trình bày ở
mục 2 phần luận chứng).
nớc Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc trong thời kỳ đổi
mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, những thành tựu đã đạt đợc cũng
nh những khó khăn, hạn chế và những vấn đề đang đặt ra trong quá trình
thực hiện.
5. Từ thực tiễn thực hiện chủ trờng, đờng lối bảo vệ chủ quyền
quốc gia dân tộc trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế và từ kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới trong việc giải quyết mối
quan hệ này, đề tài sẽ đề xuất định hớng, các giải pháp và kiến nghị với
Đảng, Chính phủ và các cơ quan có liên quan nhằm tăng cờng bảo vệ chủ
quyền quốc gia dân tộc (trong đó có quyền đợc lựa chọn con đờng phát
triển của dân tộc Việt Nam) trong điều kiện thăm gia ngày càng sâu rộng
vào quá trình TCH với t cách là nớc thành viên WTO.
4. Phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài đợc thực hiện trên cơ sở lý luận và phơng
pháp luận Mác Lênin về hoà bình và cùng tồn tại hoà bình giữa các nớc
có chế độ chính trị khác nhau trong xu thế TCH, về mối quan hệ biện chứng
giữa LLSX và QHSX, giữa kinh tế và chính trị để xem nguồn gốc, bản chất
và tính hai mặt của TCH. Đề tài cũng dựa trên nền tảng Hồ Chí Minh về
mối quan hệ giữa các dân tộc và quốc tế, quan điểm đánh giá về tình hình
thế giới và xu thế TCH của Đảng Cộng sản Việt Nam tại các Văn kiện Đại
hội VII, VIII, IX, X và các Nghị quyết Hội nghị TW3 khoá VII, TW4 khoá
X, Nghị quyết số 01 và 07 của Bộ Chính trị khoá VIII, xem đây là nguồn
cung cấp những căn cứ lý luận, những định hớng t tởng và khoa học để
thực hiện đề tài.
20