Đồ án tốt nghiệp
INEST
Mở đầu
Trong những năm gần đây, làng nghề nông thôn Việt Nam đã phát triển
rất nhanh và đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc
làm, tăng thu nhập cho ngời lao động nông thôn, góp phần ổn định kinh tếxã
hội và là tiền đề cho sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Theo số liệu điều
tra của Viện Khoa học và Công nghệ môi trờng, hiện nay Việt Nam có khoảng
1450 làng nghề đợc phân bố ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nớc, trong đó phía
Bắc chiếm hơn 50%, các tỉnh miền Trung chiếm khoảng 20%, các tỉnh miền
Nam chiếm khoảng 30% tổng số làng nghề. Hoạt động của các làng nghề đã tạo
ra nhiều loại sản phẩm từ đơn giản nh những vật dụng gia đình đến những mặt
hàng cao cấp nh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ sơn mài, gốm sứ, đúc tợng,
chạm khắc, thêu ren mang lại thu nhập, tạo công ăn việc làm cho trên 2,2
triệu lao động ở nông thôn.
Việc phát triển làng nghề đã đem lại hiệu quả kinh tếxã hội, bên cạnh
đó đã có những tác động tiêu cực đến môi trờng sống, gây ảnh hởng không nhỏ
đến sức khoẻ cộng đồng. Do trình độ công nghệ thấp, chậm đợc đổi mới; cơ sở
vật chất, kết cấu hạ tầng kém; trình độ quản lý còn hạn chế đã làm cho môi trờng ở hầu hết các làng nghề bị ô nhiễm trầm trọng.
Theo tiêu chí về tiêu chuẩn làng nghề công nghiệptiểu thủ công
nghiệp tỉnh Hà Tây, hiện nay Hà Tây có 120 làng nghề đợc phân bố ở hầu hết
các huyện, thị trong tỉnh với các nhóm ngành nh: dệt mayhàng tiêu dùng
(29 làng); chế biến lơng thựcthực phẩm (17 làng); thủ công mỹ nghệchế
biến lâm sản (65 làng); cơ khí-điện (9 làng). Nhiều làng nghề đã phát triển với
những sản phẩm nổi tiếng nh: tơ Đốc Tín, lụa Hà Đông, nón lá làng Chuông,
giày Phú Yên, điêu khắc Thanh Thuỷ, giang đan Phú Vinh, sơn mài Chuyên
Mỹ, cày bừa Phùng Xáđợc ngời ta biết đến từ lâu đời nay. Với nhiều loại hình
sản phẩm phong phú đa dạng, hình thức tổ chức linh hoạt, các làng nghề nông
thôn Hà Tây đã tạo ra một lợng lớn hàng hoá, giải quyết công ăn việc làm cho
lề, đinh ghim, sắt thép xây dựngđáp ứng nhu cầu thị trờng, tạo công ăn việc
làm và thu nhập cho phần lớn ngời dân trong làng. Tuy nhiên, sự phát triển của
làng nghề còn mang tính tự phát, cha có quy hoạch, trình độ công nghệ còn
thấp, ngời lao động cha đợc đào tạo đầy đủ. Nớc thải từ quá trình mạ kẽm, cán
kéo sắt thép; khí thải từ các lò nung, nấu kim loại và hơi hoá chất; chất thải rắn
từ sinh hoạt và sản xuất thải ra ngày một nhiều. Ước tính mỗi ngày làng nghề
Phùng Xá thải ra khoảng 5000 m3 nớc thải các loại, 13 tấn chất thải rắn và
khoảng 450 m3 khí thải. Nếu không có các giải pháp kịp thời và thích hợp, điều
đó sẽ tác động không chỉ tới sự phát triển chung của làng nghề mà còn gây nên
những hậu quả nghiêm trọng cho môi trờng và phát triển bền vững.
Đề tài Hiện trạng sản xuất và môi trờng làng nghề cơ khí Phùng Xá,
tỉnh Hà Tây. Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trờng đợc thực hiện
nhằm đa ra một số giải pháp khả thi cho làng nghề Phùng Xá, góp phần bảo vệ
môi trờng làng nghề bền vững.
Chơng I
hiện trạng sản xuất và môi trờng làng nghề
tỉnh hà tây
I.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Hà Tây.
I.1.1. Điều kiện tự nhiên:
I.1.1.1. Vị trí địa lý.
Hà Tây là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, là tỉnh liền kề
với thủ đô Hà Nội và tỉnh Hng Yên về phía Đông, phía Tây giáp với tỉnh Hoà
Bình, phía Bắc giáp với tỉnh Vĩnh Phúc, phía Nam giáp với tỉnh Hà Nam.
- Điểm cực Bắc thuộc xã Tân Đức, huyện Ba Vì ở toạ độ 20018 vĩ độ Bắc
và 105o22 kinh độ Đông.
- Điểm cực Nam thuộc xã Hơng Sơn, huyện Mỹ Đức ở toạ độ 20o33 vĩ
độ Bắc và 105o47 kinh độ Đông.
- Điểm cực Tây thuộc xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì ở toạ độ 21 o10 vĩ độ
Bắc và 105o17 kinh độ Đông.
4
5
6
7
8
9
Hạng mục
Diện tích, ha
Tỷ lệ, %
Đất nông nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất không có rừng cây
Ao, hồ, đầm
Sông, suối
Thổ c, làng mạc
Đờng giao thông
Đất chuyên dùng khác
Đất cha sử dụng
117 309
15 221
3 336
8 772
11 186
12 773
10 282
mùa đông, gió thổi theo các hớng chính là Bắc và Đông Bắc. Vào mùa hạ gió
lại thổi chủ yếu theo các hớng Đông Nam và Nam.
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
3
Đồ án tốt nghiệp
INEST
Đại bộ phận lãnh thổ của tỉnh có nền nhiệt cao, nhiệt độ trung bình năm
lớn hơn 230C (dao động từ 23,1 23,3 oC), đạt và vợt tiêu chuẩn nhiệt của vùng
nhiệt đới. Lợng ma dao động từ 15002000 mm/năm, thuộc loại ma vừa, số
ngày ma trong năm dao động từ 90 đến 150 ngày. Độ ẩm trung bình năm khá
cao, từ 83- 85%.
I.1.2. Điều kiện kinh tế-xã hội:
Trong những năm qua, Hà Tây đã có nhiều nỗ lực trong việc chuyển đổi
cơ cấu kinh tếxã hội để thoát khỏi tình trạng thuần nông. Mặc dù nông
nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhng có xu hớng
giảm dần; trong khi đó, các khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng lên.
Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình quân hàng năm 7,3%, cơ cấu kinh tế có bớc
chuyển dịch, trong đó về sản xuất công nghiệp-xây dựng từ 25,3% (năm 1995),
tăng lên 30,5% (năm 2000), sản xuất CNTTCN có nhiều cố gắng giữ đợc
nhịp độ tăng trởng khá, giá trị sản xuất CNTTCN tăng bình quân hàng năm là
16%. Năm 2000 công nghiệp đạt giá trị 2.997 tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài
quốc doanh đạt 1.610 tỷ đồng (chiếm 54%).
Về nông nghiệp: Nền nông nghiệp của tỉnh hiện nay sử dụng 65,56% lực
lợng lao động xã hội và đóng góp 43,03% trong toàn bộ GDP của tỉnh. Tuy diện
tích tự nhiên lớn nhất đồng bằng sông Hồng, nhng quỹ đất của tỉnh không nhiều
làng).
Trong quá trình đổi mới, các loại hình doanh nghiệp nh công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp t nhân, hợp tác xã công nghiệp,
xây dựng, tổ hợp sản xuất cùng với kinh tế hộ gia đình phát triển khá mạnh
ngay trong làng nghề. Đến nay toàn tỉnh có hơn 80 công ty trách nhiệm hữu
hạn, 35 doanh nghiệp t nhân, 6 hợp tác xã công nghiệp, xây dựng, 100 tổ sản
xuất và hơn 150 nghìn hộ gia đình tham gia làm nghề công nghiệp tiểu thủ
công nghiệp. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong các làng nghề là hạt
nhân trong việc tìm kiếm thị trờng tiêu thụ sản phẩm theo mẫu mã mới, góp
phần xây dựng phát triển ngành nghề, làng nghề.
Ngành nghề và làng nghề ở tỉnh Hà Tây rất đa dạng, phong phú. Làng
nghề phần lớn là những làng có nghề cổ truyền đợc khôi phục, duy trì. Làng
nghề mới hình thành phát triển là do tìm đợc nghề phù hợp với địa phơng, sản
phẩm phù hợp với thị trờng, có kỹ thuật, kỹ năng tinh xảo. Hoạt động trong làng
nghề chủ yếu là các hộ gia đình, là thành viên của các loại hình doanh nghiệp
sản xuất trên diện rộng khắp cả làng, có nơi cả xã và phát triển rộng thành cả
một vùng.
Trong 5 năm 1996-2000, dới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ, các làng nghề đã
dần thích nghi với điều kiện kinh tế thị trờng Thành tựu phát triển kinh tế của
tỉnh có sự đóng góp rất lớn của làng nghề, làng có nghề, với nhiều loại hình sản
xuất CNTTCN, công tác nhân cấy nghề mới đợc chú trọng và phát triển có
hiệu quả. Các chính sách của nhà nớc, của tỉnh nhằm khuyến khích hỗ trợ đối
với nghề truyền thống đợc ban hành, thực thi, là những nhân tố thúc đẩy cho
các làng nghề thủ công phục hồi phát triển nh các nghề dệt, cơ kim khí, thêu
ren, sơn mài, khảm trai, điêu khắc, đồ mộc,đã gắn với các địa danh nổi tiếng
nh lụa Vạn Phúc, cơ kim khí Phùng Xá, rèn Đa Sĩ Những làng nghề đã khôi
phục và phát triển mạnh nh mây tre giang đan (Chơng Mỹ), cỏ tế, sơn khảm
(Phú Xuyên), điêu khắc, thêu (Thờng Tín), dệt (Hà Đông)...[1]
Theo số liệu điều tra tổng hợp liên ngành Công nghiệpKế hoạch đầu tTài chínhVật giá thì kết quả khôi phục phát triển làng nghề tính đến
31/12/2000 nh sau:[12]
I.2.1. Giá trị sản xuất.
Hoạt động sản xuất trong làng nghề chủ yếu là các hộ gia đình, là thành
viên của các loại hình doanh nghiệp sản xuất trên diện rộng khắp cả làng. Theo
[7], tình hình hoạt động các làng nghề Hà Tây đợc tổng hợp đánh giá cụ thể
trên biểu đồ hình I.1:
Giá trị sản xuất của 88 làng nghề trong năm 1996 là 717,2 tỷ đồng, trong
đó sản xuất công nghiệp 448,2 tỷ đồng chiếm 62,6%; kinh doanh dịch vụ 90,1
tỷ đồng chiếm 12,6%; nông nghiệp 177,9 tỷ đồng chiếm 24,8%. Đến năm 2000,
giá trị sản xuất của 120 làng nghề là 1.045,8 tỷ đồng (tăng 45,8% so với năm
1996), trong đó sản xuất CNTTCN là 653,6 tỷ đồng chiếm 62,5% (tăng
46%); về kinh doanh dịch vụ 141,4 tỷ đồng (tăng 57%); sản xuất nông nghiệp
250,8 tỷ đồng (tăng 40,5%) .
700
650
600
550
500
450
400
350
300
250
200
150
100
50
0
1996
- Từ 35 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng có 2 làng nghề (làng nghề chế biến nông
sản thực phẩm Cát Quế, Minh Khai).
- Từ 50 tỷ đồng trở lên có 2 làng nghề (làng nghề chế biến nông sản thực
phẩm Dơng Liễu, dệt La Phù).
- Đặc biệt làng nghề La Phù (Hoài Đức) đạt gần 195 tỷ đồng với nhiều
hoạt động phong phú, đều khắp và sôi nổi.
I.2.2. Số hộ, số lao động tham gia hoạt động làng nghề, thu nhập trong các
làng nghề [1, 5]:
Theo báo cáo tổng kết hoạt động làng nghề CNTTCN tỉnh Hà Tây thời
kì 1996-2000 thì năm 1996, tổng số hộ tham gia làm nghề CNTTCN là 33
ngàn hộ chiếm 66%, hộ làm dịch vụ 4 ngàn hộ chiếm 7,8%, hộ làm nông
nghiệp thuần nông là 14,5 ngàn hộ chiếm 28,2%. Đến năm 2000, đã có tổng số
hộ làm nghề CNTTCN là 44,2 ngàn hộ chiếm 64,3%, hộ làm dịch vụ 12,6
ngàn hộ chiếm 9,5%, hộ làm nông nghiệp thuần nông 17,9 ngàn hộ chiếm
28,2%. Địa phơng có nhiều hộ làm nghề CNTTCN là huyện Thờng Tín, Phú
Xuyên, Hoài Đứcnhiều làng đã trở thành trung tâm của cả một vùng rộng lớn,
thu hút số đông hộ gia đình làm nghề.
Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các làng nghề năm 1996 là
110,9 ngàn ngời, trong đó lao động CNTTCN là 76,4 ngàn ngời chiếm
61,2%. Đến năm 2000, số lao động tham gia sản xuất làng nghề lên tới 161,2
ngàn ngời, trong đó lao động CNTTCN là 107 ngàn ngời chiếm 66,4%.
Thu nhập bình quân 1 lao động trong làng nghề năm 1996 theo ngành
nghề CNTTCN đạt 3,2 triệu đồng/năm, kinh doanh dịch vụ 2,9 triệu
đồng/năm, làm nông nghiệp thuần nông 1,6 triệu đồng/năm. Đến năm 2000, thu
nhập bình quân một lao động trong làng nghề theo ngành nghề CNTTCN đã
tăng lên 4 triệu đồng/năm, kinh doanh dịch vụ 3,4 triệu đồng/năm, làm nông
nghiệp thuần nông 1,6 triệu đồng/năm.
I.2.3. Vốn và công nghệ trong các làng nghề [1, 13]:
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
1
2
3
4
Làng nghề
Nông sản thực phẩm Dơng Liễu
Mộc Chàng Sơn
Mây tre đan Phú Nghĩa
Cơ kim khí Phùng Xá
Nguyên liệu
Đơn vị
Lợng
Dong củ, sắn củ Tấn/năm 550.000
Gỗ các loại
m3/năm 40.000
Mây, tre, nứa
Tấn/năm 45.000
Sắt thép phế liệu Tấn/năm 60.000
Về nhiên liệu, hầu hết các làng nghề Hà Tây đang sử dụng nhiên liệu
chính là than, củi. Ước tính trung bình mỗi năm, làng nghề Hà Tây sử dụng
khoảng 150 ngàn tấn than các loại. Bên cạnh than, hoạt động của các làng nghề
còn sử dụng một số nhiên liệu phụ là dầu, gas..
Làng nghề
Sản phẩm
Đơn vị
Nông sản thực phẩm
Tinh bột, miến
Tấn/năm
Dơng Liễu
dong, mạch nha
Mộc Chàng Sơn
Giờng tủ, bàn ghế
Chiếc/năm
Dệt lụa Vạn Phúc
Vải lụa tơ tằm
m/năm
Mây tre đan Phú Nghĩa Lãng, làn, đĩa mây Sản phẩm/năm
Giày da Phú Yên
Giày da, mũ giày
Đôi/năm
Sản lợng
260.300
300.000
466.000
10 triệu
320.000
mạnh, ngời dân đã đầu t vốn vào sản xuất. Sự phát triển này một mặt góp phần
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
9
Đồ án tốt nghiệp
INEST
tăng trởng kinh tế, nhng mặt khác làm tăng chất thải ra môi trờng. Hầu hết chất
thải không đợc thu gom, xử lí mà đổ trực tiếp vào ao, hồ xung quanh ngời dân
ở. Sự đan xen các cơ sở hoạt động sản xuất nhỏ với các gia đình dân c nông
thôn tuy chỉ gây ô nhiễm cục bộ, quy mô không lớn nhng vì phân bố rải rác nên
có thể tác hại trên diện rộng [13].
Tại các làng nghề Hà Tây đã xuất hiện các dạng ô nhiễm môi trờng.
Không khí bị ô nhiễm về nhiệt, tiếng ồn, hơi độc, bụi khóigây ra các loại bệnh
về hô hấp, viêm xoang, bụi phổi sillic và 90% số lao động thờng xuyên trong
các làng nghề sản xuất các loại sản phẩm công nghiệp bị mắc bệnh; không gian
thì ngày càng thu hẹp vì bị chiếm dụng để xây dựng các cơ sở sản xuất, để chứa
nguyên liệu, chất đốt, sản phẩm và chất thải đủ các loại. Đất và nớc mặt đang bị
chất thải rắn và nớc thải xâm hại ở hầu hết các làng nghề. Nớc ngầm ở nhiều
nơi bị ô nhiễm nặng nề về mặt sinh học và hoá học. Một số làng trớc đây đã xây
dựng hệ thống cống rãnh thì nay mất tác dụng do bị chất thải rắn lấp, gây ngập
úng sau mỗi trận ma. Nớc thải không đợc xử lý chứa các hoá chất vô cơ, hữu cơ
độc hại từ các làng nghề đổ trực tiếp vào hệ thống cống đã xuống cấp để chảy ra
mơng thoát hoặc đổ trực tiếp ra ao, hồ và khu vực lân cận gây ô nhiễm môi trờng và các bệnh về tiêu hoá, gây mất cân bằng sinh thái. Chính vì vậy, nguy cơ
ô nhiễm môi trờng do chất thải làng nghề Hà Tây đã và đang trở thành vấn đề
bức bách cần đợc quan tâm giải quyết.
I.3.1. Môi trờng nớc:
Tiền): Tuy lợng nớc thải không lớn nhng lại có tính độc hại rất cao,
đặc biệt là nớc thải mạ điện có đặc điểm là độ pH dao động lớn, chứa
kim loại nặng và nhiều hoá chất
Ô nhiễm nguồn nớc do tác nhân là các hợp chất vô cơ độc hại nh acid,
xút, các muối kim loại nặng thờng thấy ở các làng nghề cơ khí, mạ, đúc, tẩy
nhuộm. Đây là những chât thải nguy hại, không những gây tác động trực tiếp
tới các nguồn nớc mặt mà còn ảnh hởng tới các nguồn nớc ngầm, gây nhiều
bệnh hiểm nghèo cho nhân dân làng nghề.
Kết quả khảo sát môi trờng nớc một số làng nghề Hà Tây đợc trình bày
trong bảng I.5 cho thấy hoạt động của làng nghề Hà Tây đã làm ô nhiễm nguồn
nớc, phần lớn các chỉ tiêu đều vợt so với tiêu chuẩn cho phép nhiều lần nh BOD,
COD, SS, Coliform, đặc biệt là hai làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Dơng LiễuHoài Đức và làng nghề dệt lụa Vạn PhúcHà Đông.
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
11
Đồ án tốt nghiệp
INEST
I.3.2. Môi trờng không khí:
Môi trờng không khí đợc đặc biệt quan tâm ở các làng nghề sản xuất vật
liệu xây dựng, cơ khí, sơn mài Ví dụ nh làng nghề sơn mài Duyên Thái, do
quá trình sử dụng than, dầu với số lợng lớn đã tạo ra các khí nh SO2, CO2, CO,
NOx, ngoài ra còn do sử dụng các hoá chất bay hơi nh HCl, H2SO4, alđêhyt,
axêtôn
Ô nhiễm môi trờng không khí do tác nhân bụi thờng thấy ở hầu hết các
làng nghề ở các mức độ khác nhau. Làng nghề cơ khí, dệt, sản xuất đồ mộc có
hàm lợng bụi cao nhất. Ví dụ ở làng nghề mộc Chàng Sơn-Thạch Thất có hàm lợng bụi vợt tiêu chuẩn cho phép từ 3 5 lần [4].
Bảng I.7: Ước tính lợng chất trải rắn tại một số làng nghề tỉnh Hà Tây.
TT
Làng nghề khảo sát
Thành phần chủ yếu
1
Nông sản thực phẩm Dơng
Liễu Hoài Đức
Dệt lụa
Vạn Phúc Hà Đông
Mây tre đan
Phú Nghĩa Chơng Mỹ
Sơn mài
Duyên Thái Thờng Tín
Mộc
Chàng Sơn Thạch Thất
Bã sắn, rong; Xỉ than;
Rác sinh hoạt
Xỉ than; Rác sinh hoạt
Xỉ than; Đầu mẩu tre,
nứa; Rác sinh hoạt
Xỉ than; Rác sinh hoạt
Xỉ than; Cám ca; Rác
sinh hoạt
2
I.4.1. Đặc điểm về các làng nghề cơ kim khí ở tỉnh Hà Tây.
Tính đến năm 2000, Hà Tây có 8 làng nghề cơ kim khí đợc phân bố ở các
huyện nh: làng nghề cơ kim khí nông cụ Vĩnh Lộcxã Phùng Xáhuyện
Thạch Thất; làng nghề rèn Đa Sỹxã Kiến Hngthị xã Hà Đông; làng nghề
kim khí Rùa Thợng, kim khí thôn Gia Vĩnh, kim khí thôn Rùa Hạ, kim khí thôn
Dụ Tiền, kim khí thôn Từ Amxã Thanh Thuỳhuyện Thanh Oai; làng nghề
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
13
INEST
Đồ án tốt nghiệp
kim khí thôn Liễu Nộixã Khánh Hàhuyện Thờng Tín. Sản phẩm của các
làng nghề cơ kim khí Hà Tây đợc thể hiện ở bảng I.9.
Bảng I.9: Ước tính sản phẩm của một số làng nghề kim khí tỉnh Hà Tây
TT
1
2
3
4
5
Làng nghề
Sản Phẩm
Đơn vị
Làng rèn Đa Sỹ có nghề rèn truyền thống đã hình thành và phát triển
hàng trăm năm nay. Trớc năm 1996, cả làng chỉ có hơn 300 lò rèn, sản lợng
trung bình/năm làm ra chỉ hơn 2 triệu sản phẩm. Những sản phẩm này đợc một
số gia đình khá giả làm nhiệm vụ thu gom và tiêu thụ khắp cả nớc. Đến năm
2000, số lò rèn trong thôn đã phát triển lên hơn 500 lò, đa số các lò đã đa máy
móc vào sản xuất, nâng sản lợng năm 2000 đạt trên 6 triệu sản phẩm. Nhờ vậy,
đời sống nhân dân đã đợc cải thiện, sản phẩm làm ra tạo đợc uy tín rộng khắp
cả nớc.
Làng nghề kim khí Rùa Thợng trớc đây sản phẩm chủ yếu là đinh, bản lề,
yên xe đạp. Đến nay với quy mô sản xuất lớn hơn, làng nghề đã có nhiều thay
đổi. Một số hộ đã đầu t máy công cụ, máy đột dập trăm tấn tạo dây chuyền sản
xuất khép kín làm phong phú thêm các mặt hàng. Bên cạnh những sản phẩm
truyền thống, còn có các mặt hàng vật liệu xây dựng, vật liệu đồ điện, các chi
tiết xe đạp, xe máy với hàng ngàn mẫu mã đa dạng, phong phú, thích ứng với
thị trờng trong nớc.
Làng nghề kim khí thôn Gia Vĩnh, từ những sản phẩm đơn giản nh đinh
bản lềđến nay bằng sự cần cù sáng tạo của ngời dân, cộng với sự đầu t một số
máy móc cho sản xuất nên sản phẩm làm ra đã rất đa dạng, thu hút hơn 70%số
lao động trong thôn. Bằng sự phấn đấu của mình, sản phẩm kim khí truyền
thống của Gia Vĩnh đã đợc tiêu thụ rộng rãi trên khắp cả nớc.
Làng nghề kim khí thôn Rùa Hạ, với hơn 80% số hộ sản xuất, quy mô
sản xuất thành nhà xởng, các dây chuyền sản xuất khép kín, làng nghề ngày
càng phát triển. Sản phẩm rất đa dạng gồm: bản lề, cửa hoa, cửa xếp, phụ tùng
xe đạp, đồ điện gia dụng có chất lợng cao, thích ứng với thị trờng trong nớc.
Làng nghề kim khí thôn Dụ Tiền, từ chỗ công nghệ thủ công, nay đã đợc
cơ khí hoá, điện khí hoá. Sản phẩm làm ra với nhiều mẫu mã phong phú, chất lợng ổn định nh các chi tiết xe đạp, xe máy, vật liệu xây dựng, vật liệu đồ điện
đợc thị trờng trong nớc a chuộng, đã giải quyết công ăn việc làm cho phần đông
lao động trong thôn.
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
- Công nghệ sản xuất lạc hậu; điều kiện cơ sở hạ tầng, trình độ lao động
và mặt bằng dân trí thấp; những hạn chế về khả năng đầu t, điều kiện cạnh tranh
trên thị trờnglàm tăng mức phát thải, lãng phí vật t và ô nhiễm môi trờng.
- Lực lợng lao động thủ công còn chiếm tỷ lệ cao trong lực lợng lao động
ở các làng nghề, điều đó làm tăng áp lực về dân số ở khu vực làng nghề, tác
động đến môi trờng kinh tế, xã hội.
- Những hạn chế trong công tác quản lý, ý thức và trách nhiệm cộng đồng
đã cản trở việc thực hiện các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trờng ở các làng
nghề. Thêm vào đó chúng ta cha có biện pháp quản lý và xử lý môi trờng hiệu
quả, nhất là các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại.
- Máy móc thiết bị sử dụng trong các làng nghề phần lớn là loại cũ, mua
từ Trung Quốc hoặc mua thanh lý từ các nhà máy của Việt Nam, một số là sản
phẩm tự tạo. Các thiết bị này lạc hậu, chắp vá, năng suất thấp và mức độ gây ô
nhiễm môi trờng cao.
Tình hình hoạt động của các làng nghề cơ kim khí tỉnh Hà Tây đợc đa ra
ở bảng I.10.
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
15
Đồ án tốt nghiệp
INEST
I.4.2. Vấn đề môi trờng trong các làng nghề cơ kim khí.
Tác động đến môi trờng đất, nớc, không khí:
Môi trờng đất chịu tác động của các chất độc hại từ các nguồn thải đổ
bừa bãi và nớc ma bị nhiễm bẩn ngấm xuống. Dải đất phía sau các hộ sản xuất
đều bị bỏ hoang do ô nhiễm. Ước tính trong khoảng 5 đến 7 năm tới, diện tích
16
Đồ án tốt nghiệp
INEST
sau thời gian làm việc lâu nhất là 5 năm, ngời lao động buộc phải bỏ việc vì
không đủ sức khoẻ.
Tác động tới sức khoẻ cộng đồng:
Tất cả các yếu tố trên tác động trực tiếp và thờng xuyên tới ngời lao động
và dân c trong làng nghề. Các bệnh thần kinh, đờng hô hấp, ngoài da, khô mắt,
điếc chiếm tỷ lệ trên 60% tổng số dân c trong khu vực làng nghề. Đặc biệt là
tỷ lệ mắc bệnh trên ở nhóm ngời tham gia sản xuất và không tham gia sản xuất
tơng đơng nhau. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do khu sản
xuất vẫn đan xen lẫn với khu dân c, hoạt động sản xuất thờng trong khuôn viên
hộ gia đình nên khả năng tiếp xúc với các chất thải của ngời tham gia sản xuất
và ngời không tham gia sản xuất là tơng đơng nhau.
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
17
Đồ án tốt nghiệp
INEST
Chơng II
Một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trờng đối với
ngành nghề cơ kim khí.
về môi trờng sẽ giúp các cấp quản lý nắm vững tình hình thực hiện các quy định
liên quan đến bảo vệ môi trờng và xử lý chất thải.
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
18
Đồ án tốt nghiệp
INEST
Chính quyền địa phơng cần phối hợp thực hiện với các cơ quan chức
năng về quản lý môi trờng của tỉnh. Cần xây dựng phơng án kiểm tra chất lợng
môi trờng làng nghề một cách hệ thống và duy trì đều đặn.
II.1.5. Lập quỹ bảo vệ môi trờng.
Để thực hiện những biện pháp khắc phục các tác động tiêu cực của các
hoạt động sản xuất đến môi trờng, cần có kinh phí cho công tác bảo vệ môi trờng. Hơn nữa, việc này còn có tác động đến ý thức ngời sản xuất đề bảo vệ môi
trờng một cách thờng xuyên.
Ngân sách này có thể thu từ các hộ sản xuất tuỳ theo mức độ sản xuất của
mỗi hộ. Tuy nhiên, do đây chỉ là sản xuất nhỏ nên số kinh phí này cần đợc hỗ
trợ của nhà nớc cũng nh các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nớc. Ngân sách với
các nguồn kinh phí chủ yếu là: chi phí cho trồng cây xanh và bảo vệ môi trờng,
chi phí cho việc vệ sinh môi trờng làng nghề, chi phí cho việc kiểm tra giám sát
chất lợng môi trờng làng nghề, chi phí cho việc mời t vấn phổ biến các biện
pháp cải thiện môi trờng, phát triển sản xuất, nâng cao nhận thức môi trờng,
II.1.6. Giáo dục môi trờng.
Giáo dục môi trờng là tạo nên trong nhân dân ý thức quan tâm đến môi
trờng. Với nhân thức và trách nhiệm của mình góp phần vào bảo vệ và cải thiện
môi trờng. Giáo dục môi trờng bao gồm các mục tiêu sau:
- Giúp ngời dân có ý thức về môi trờng và các vấn đề liên quan, có thái
độ bảo vệ lợi ích môi trờng để họ tham gia tích cực vào giữ gìn vệ sinh
dân c.
- Nơi đợc chọn phải thuận lợi cho việc giao thông và giao lu buôn bán.
Hạ tầng cơ sở nh đờng xá, điện, nớc, nhà xởng ngay từ đầu cần phải đợc
xây dựng và trang bị hợp lý
II.2. Biện pháp kỹ thuật.
II.2.1. Các giải pháp mang tính phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm.
Đây là những giải pháp mang tính chủ động phòng ngừa theo hớng sản
xuất sạch hơn để tiết kiệm, giảm định mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu và năng
lợng, giảm phát thải các chất ô nhiễm ngay từ đầu nguồn. Các giải pháp mang
tính phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm có thể bao gồm:
- Hoàn chỉnh các dây chuyền sản xuất cơ khí, xác định nguồn phát sinh
chất thải và nguyên nhân.
- Tăng cờng bảo ôn các thiết bị và định mức sử dụng hợp lý nguyên
nhiên liệu
- Thay đổi nhiên liệu: sử dụng loại than có hàm lơng lu huỳnh thấp, sử
dụng dầu DO thay cho than nhằm giảm thiểu lợng khí thải ra môi trờng
- Cải tiến công nghệ: sửa chữa và thay mới các chi tiết, thiết bị đã cũ và
lạc hậu nhằm giảm tiêu hao năng lợng, chi phí sản xuất cũng nh giảm
phát sinh các chất ô nhiễm
II.2.2. Các giải pháp xử lý chất thải.
Đây là những giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm ra môi trờng xung
quanh thông qua các hệ thống thu gom và xử lý nớc thải, khí thải cũng nh quản
lý chất thải rắn. Các hệ thống này chủ yếu phải đạt yêu cầu nhỏ gọn, phù hợp
với quy mô sản xuất và diện tích chật hẹp của làng nghề, không làm phát sinh
chất thải mớiCác giải pháp có thể bao gồm: [15]
- Đối với các lò đúc, cán, ủ kim loại:
+ Xây dựng hệ thống xử lý bụi và khí SO2 bằng tháp rửa, dùng dung
dịch nớc vôi.
+ Quy định các bãi tập kết xỉ than, xỉ kim loại để sử dụng làm vật liệu
san nền.
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
21
INEST
Đồ án tốt nghiệp
Chơng III
Hiện trạng sản xuất và môi trờng làng nghề cơ kim
khí phùng xá
III.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Phùng Xá.
Xã Phùng Xá thuộc huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng
25 km về phía Tây.
- Phía Bắc giáp với xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất
- Phía Nam giáp với xã Thạch Thán, huyện Quốc Oai.
- Phía Đông giáp với xã Phợng Cách, huyện Quốc Oai.
- Phía Tây giáp với xã Bình Phú, huyện Thạch Thất
Với diện tích đất tự nhiên 440 ha, bao gồm hai thôn là thôn Vĩnh Lộc và
thôn Bùng, trong đó có 304 ha đất canh tác nông nghiệp. Phùng Xá là một vùng
đất trũng và bằng phẳng nên hệ thống ao, hồ khá dày đặc đợc phân bố tơng đối
đều trong xã. Phía Tây địa phận xã có sông Đồng Mô chảy qua cung cấp toàn
bộ nớc tới tiêu nông nghiệp cho toàn bộ xã.
Phùng Xá là một vùng đất cổ, đất chật ngời đông, hiện nay dân số trong
xã là 9491 khẩu. Ngời dân sống ở đây thờng có quan hệ huyết thống, quan hệ
làng xóm láng giềng rất thân mật. Các công trình hạ tầng nh điện đờng, trờng
trạm đã đợc xây dựng theo hớng kiên cố hoá. Trờng học các cấp I và II đủ cho
học sinh học một ca, nhà trẻ mẫu giáo, trạm y tế, nhà văn hoá đợc xây dựng
khang trang. Hệ thống đờng làng, ngõ xóm hầu hết đã đợc mở rộng, đợc lát
Số hộ sản xuất CN-TTCN
Hộ
Số lao động
Ngời
Số lao động sản xuất
Ngời
CN-TTCN
Tổng giá trị sản xuất
Tỷ đồng
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
22
Năm 1999
9206
2032
1401
3745
2917
31
Năm 2000
9341
2112
1504
3929
3205
38
Bảng III.1: Tình hình kinh tế-xã hội xã Phùng Xá
Hàng năm vào các dịp lễ tết, hội làng đợc tổ chức do ban lễ hội của làng
dới sự lãnh đạo của ủy ban nhân dân xã và sự tham gia của các đoàn thể, các tổ
chức và toàn thể nhân dân trong làng. Lễ hội đợc tổ chức trang nghiêm, thành
kính, mang ý nghĩa giáo dục truyền thống, đồng thời tổ chức những hoạt động
văn hoá, thể dục, thể thao vui tơi lành mạnh nh: đánh cờ, vật cổ truyền, thổi
cơm thi[1].
III.2. Sự phát triển của làng nghề Phùng Xá
Tơng truyền rằng từ xa xa, cụ Trạng Bùng-Phùng Khắc Khoan sau khi đi
sứ nớc tàu về đã hớng dẫn lại cho ngời dân thôn Vĩnh Lộc, xã Phùng Xá huyện
Thạch Thất nghề cơ khí, sản xuất cày, bừa, cuốc, xẻng. Tại đây đã có nhà thờ
phờng bừa mà trớc đây vào dịp tết Âm lịch ngời dân ở đây vẫn tổ chức hôị thi
cày, bừa để chọn ra ngời giỏi nhất làng. Sinh hoạt của phờng bừa đợc duy trì
hàng năm, tại đó ngời ta có tổ chức lễ hội, ôn lại lịch sử nghề truyền thống của
làng. Nghề sản xuất cày bừa ở đây ngày càng thịnh đạt phát triển khắp làng, với
thêm nhiều mặt hàng thông dụng nh bản lề, cửa xếp, cửa hoa, sắt cây, ống nớc
đợc nhân dân cả nớc biết đến.
Vào thời kỳ trớc những năm 1957-1958, nghề cơ kim khí ở làng không đợc phát huy buộc ngời dân Phùng Xá đua nhau đi khắp nơi mở xởng cơ khí làm
ăn xa quê để kiếm sống.
Vào những năm 1970, kinh tế hợp tác xã phát triển, nghề kim khí lại lên
ngôi. Trớc đó, nông dân Phùng Xá vẫn phải nhập sắt, gang, răng bừa từ nơi
khác đa về. Thời gian này, cày bừa Phùng Xá bán rất chạy, sản phẩm của làng
nghề đã đợc tiêu thụ ở nhiều tỉnh thành trong cả nớc để phục vụ sản xuất.
Từ những năm 1980, cơ chế thị trờng mở ra hớng làm ăn mới cho dân
làng Phùng Xá. Một số lò nấu thép, đúc gang, cán kéo sắt thép đã ra đời để sản
xuất dụng cụ cày bừa nh lỡi cày, răng bừa. Phùng Xá đã sản xuất thêm đợc loại
máy tuốt lúa với u điểm nhẹ, dễ mang vác lại ít tiếng ồn đợc cả nớc biết tiếng.
Những sản phẩm có tiếng càng thôi thúc ngời dân làng Phùng Xá vơn xa hơn,
tìm tòi ra những sản phẩm mới.
thuê. Tiềm lực kinh tế của các hộ ở đây khá mạnh, chỉ cần tham gia các công
việc bình thờng, bình quân một hộ cũng phải đầu t từ 25 - 30 triệu mới mở đợc
nghề. Những hộ này phải trang bị nhiều loại máy móc, dụng cụ nh máy cán
kéo, máy dập, máy cắt
Ngành nghề phát triển, sản phẩm của Phùng Xá có tiếng về bảo đảm chất
lợng nên có mặt trên thị trờng cả nớc. ở một số thành phố lớn nh Hà Nội, Hải
Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, ngời Phùng Xá đã mở cửa hàng đại lý bán hàng
cơ kim khí của mình làm ra. Nhờ phát huy đợc nghề của cha ông mà kinh tế của
Phùng Xá phát triển, đời sống thu nhập của ngời nông dân ngày một nâng cao.
Năm 2001, Phùng Xá đạt tổng giá trị 46 tỷ đồng, trong đó thu từ ngành nghề
chiếm 72%, bình quân một lao động khoảng 5 triệu đồng/năm, là xã giàu có
của Hà Tây nhờ phát triển ngành nghề [5, 9].
III.3. Hiện trạng sản xuất và môi trờng làng nghề cơ khí
Phùng Xá.
III.3.1. Hiện trạng sản xuất.
Làng nghề cơ kim khí Phùng Xá-Thạch Thất đã hình thành những tổ hợp
về gia công cơ khí, đúc cán thép nguyên liệu. Tái chế kim loại là một trong
những nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao, có đóng góp đáng kể cho tốc độ tăng
trởng kinh tế của làng nghề và nâng cao mức sống của ngời dân. Quá trình sản
xuất và phát triển của làng nghề cơ kim khí Phùng Xá đều mang tính kế thừa
qua các thế hệ. Sự phân công lao động trong làng nghề là sự kết hợp giữa từng
ngời trong hộ gia đình và các mối quan hệ họ hàng, làng xóm.
Hiện nay trình độ tay nghề và công nghệ sản xuất của nhiều chủ hộ đã đợc nâng cao, có hộ đã sản xuất đợc cả máy đột dập cung cấp cho các hộ trong
làng. Một số công đoạn khó đòi hỏi kỹ thuật cao, vậy mà ngời dân Phùng Xá
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
24
Đồ án tốt nghiệp
tấn than và khoảng 825 tấn dầu.
- Năng lợng: Điện năng dùng để cung cấp cho các lò nấu kim loại và cho sinh
hoạt đợc cung cấp từ các trạm điện trong xã.
- Hoá chất: Dung dịch mạ kẽm: Kẽm oxit (ZnO), kẽm xianua Zn(CN) 2, natri
xianua (NaCN), natri sunfua (Na 2S), chất hoạt động bề mặt, chất tạo bóng;
dung dịch H2SO4, HCl, NaOH
Ngoài ra trung bình mỗi ngày làng nghề còn sử dụng một lợng nớc đáng
kể (khoảng 900m3) để làm nguội các sản phẩm sau cán, nớc làm mát thiết bị
và rửa thiết bị.
Bảng III.2: Nguyên, nhiên liệu, hoá chất của làng nghề Phùng Xá.
Nguyễn Quang Hiền CNMT K43
25